Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 308 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tôi là con cha mẹ cháu ông bà

❊ ❊ ❊

Tâm Giao là quán cà phê nhỏ nằm ven con đường chạy quanh hồ Ba Mẫu. Thời gian này Bùi Kiến Thành ở nhà một người bạn gần đấy, nên đây trở thành nơi chúng tôi thường hẹn nhau. Chúng tôi hay gọi trà, ngồi trên gác. Đường Lê Duẩn ngay ngoài kia thì đông xe cộ lắm, vào đây thì thưa hơn, nên trên gác có thể ngắm cảnh và hóng gió những ngày nóng.

“Mấy hôm nay thầy bận quá, ngày nào cũng tiếp khách,” chị chủ quán bảo trong lúc tôi đang dựng xe. Hẳn là trong mắt chị, bác là một ông giáo già đáng kính, được rất nhiều học trò các thế hệ đến tầm sư học đạo.

Lên lưng chừng cầu thang, tôi nghe giọng “ông giáo già” đang trả lời phỏng vấn một tờ báo qua điện thoại về vấn đề giá điện của EVN. Chúng tôi cứ ngồi và nghe cuộc nói chuyện dài đến gần nửa tiếng. Xong xuôi, ông nhìn tôi:

“Hôm trước bác đang kể cho Khoa nghe chuyện ông papa với bà má đúng không?”

“Dạ, đến đoạn bác Thành chào đời.”

Bùi Kiến Thành hắng giọng:

“Bấy giờ bên ngoại thì cậu Hai đi học xa, ở nhà cô Ba là người lớn nhất, bao nhiêu việc nhà phải giao cô Ba quán xuyến hết. Bao nhiêu đất đai dưới Quảng Huế, Đại Lộc trồng dâu, nuôi tằm, trồng bắp, trồng thuốc lá, chứ ít trồng lúa. Từ tờ mờ sáng, cô Ba phải lo dẫn người ra ngoài ruộng cày cấy, tới cổng làng thì bao nhiêu người giúp việc tập trung lại đi theo, nay làm đám ruộng này, mai làm đám ruộng kia. Bà má hồi đó có 15, 16 tuổi mà chỉ huy cả một đạo quân, cô Ba đi trước rồi có mấy người trai bạn đi theo đằng sau hộ vệ. Ngoài ruộng, người ta cất một cái chòi cao, cô Ba leo lên chòi ngồi giám sát, đốc thúc những người làm công ở dưới. Đi sớm như vậy muốn giữ ấm thì cuốn một mớ thuốc lá cầm theo, không phải như thuốc lào để hút bằng điếu cày mà vấn lại hút như xì gà vậy.”

“Nó có giống loại thuốc rê các ông hay hút mà hôm trước bác kể không?”

“Cái này khác, là do sáng sớm ở quê lạnh lắm, mỗi buổi sáng thì cầm cả bó như vậy đi hút cả ngày, từ năm giờ sáng cho tới năm giờ chiều mới về.”

Cô Ba quản bao nhiêu ruộng đất, trang trại, trồng trọt ở bên ngoại, khi có chồng rồi vẫn tiếp tục ở nhà chứ không về bên chồng. Ông Bùi Kiến Tín ở rể một thời gian rồi đi học, cô Ba 16 tuổi thì sinh con nhưng vẫn tiếp tục đi làm ruộng như thế và giao con cho bà ngoại trông.

“Ở làng quê khi xưa, những nhà có tiền một chút ít khi người mẹ nuôi con mà toàn thuê vú em trông trẻ vì họ thường cứ đẻ năm một năm một cho nên vừa sinh con được ba, bốn tháng thì lại có bầu. Trường hợp như vậy nên phải thuê vú em, có người nào trong làng trong xóm mới đẻ con, mình thuê tới chăm nom cho bú, nuôi nấng. Bác Thành sinh ra còn nhỏ thì mẹ đi làm, không biết có bú sữa mẹ được ngày nào không. Chị vú em hồi đó nuôi bác Thành khéo lắm, béo tốt, mập mạp. Được chín tháng chắc nhớ chồng nhớ con, chị ấy xin nghỉ thôi không nuôi nữa để về nhà chồng, vậy là bác bị cắt sữa luôn, cắt chứ không phải cai. Vì xung quanh không có ai cho sữa bú nữa nên mình gầy teo gầy tóp. Bà ngoại với mẹ không có sữa rồi, nên nhà chắt nước cơm, nước cháo sôi hòa với đường cho uống. Khi xưa ở quê không có sữa hộp hoặc ít lắm, không mua được. Hồi bé xíu dễ thương lắm, ông ngoại mới gọi là Bê Bê, tức là búp bê, sau chín tháng gầy còi ốm yếu nên mọi người gọi bác là Bê ròm. Bác Thành sinh năm Tân Mùi thì hai năm sau, năm Dậu, ông papa đi học về mới có thêm một người con gái đặt tên là Bùi Thị Ngọc Hoa, ở nhà thường gọi hai đứa là Bê em và Bê anh. Cô em được nuôi nấng tử tế cho nên bụ bẫm lắm, gọi là Bê ù.”

Tháng 6 năm 1932, Bùi Kiến Tín là người đầu tiên ở đất Quảng Nam đậu tú tài, gọi là “baccalauréat” của Pháp. Tú tài tương đương với cấp ba bây giờ, trước khi vào đại học. Đến năm 1935, cả tỉnh Quảng Nam trên 900 ngàn dân mà chỉ có hai người đậu tú tài Tây là Lê Nhiếp đậu bên Pháp và Bùi Kiến Tín đậu ở Hà Nội. Cho nên chuyện ông đỗ tú tài cả đất Quảng Nam vinh dự lắm, giống như khi xưa đậu trạng nguyên, tiến sĩ vậy. Cả làng, tổng, phủ, huyện, họ hàng bên nội, bên ngoại, bên vợ, đều tổ chức đón rước vinh quy bái tổ rất trọng thể. Kể từ đấy Bùi Kiến Tín được gọi là Tú Tín. Cờ trống võng lọng với một đoàn người cưỡi ngựa rước cậu Tú đi theo đường bộ từ đền thờ Khổng Tử ở Hội An về đến bên nội Vĩnh Trinh, qua bên ngoại Bảo An, đến bên vợ Quảng Huế rồi lên Trung Phước, tới đâu cũng “đóng quân” lại tiệc tùng mấy ngày đêm. Trống chiêng rộn rã, ngựa hí vang lừng, cờ đuôi nheo xanh đỏ bay phấp phới. Cậu Tú cưỡi ngựa có hai người hầu cầm quạt lông che hai bên, mình mặc áo rộng xanh, đầu bịt khăn đóng. Liễn đối chúc mừng treo đầy vách đầy nhà trong nhà ngoài, nhà rạp. Hôm ấy có cả ông Phủ, ông Huyện đến tận nhà ông Cửu Thứ dự tiệc. Cụ Bá Huynh cùng mọi người trong họ đều cưỡi ngựa đưa đến tận nơi.

Bà Cửu Thứ nghe chiêng trống biết con về, mặc áo dài bước ra đứng ở hàng hiên nhà lầu lặng lẽ nhìn, chúm chím cười rồi lui bước trở vào. Sau đợt đó thì bà đau bệnh nặng. Bà sinh tới 12 người con, năm nào cũng sinh, thế nên bà kiệt sức, nằm liệt giường không dậy nổi, đi chữa chạy nhiều lần, có lần theo Tú Tín ra tận Hà Nội, nhưng không thuyên giảm. Kể đến đây, Bùi Kiến Thành chùng giọng: “Ông nội bác Thành thì mong mỏi con trai học Luật để sau làm quan huyện, nhưng ông papa nghĩ thế nào mới xin với ông nội: ‘Thôi, bây giờ cho con đi học thuốc, con học xong con về con chữa bệnh cho mẹ.’ Quyết định như vậy nên ông papa đổi qua học trường thuốc, giáo sư toàn người Pháp chứ đâu có người Việt Nam. Ổng học cực giỏi. Hình như học đến năm thứ ba thì có ông giáo sư Le Maitre chuyên về tai mũi họng từ bên Pháp sang chấm thi. Ở đời nhiều cái hay lắm. Mình giỏi thì giỏi nhưng cũng cần gặp may nữa. Ông cụ kể lại là không biết sao đó, đêm trước khi thi thì ổng lọc sách ra ngồi đọc rất chi tiết về bộ phận lỗ tai nhỏ sau lỗ tai lớn ‘oreillette’, cấu trúc như thế nào, đọc thuộc lòng hết không thiếu chi tiết gì. Khi giáo sư Le Maitre chấm bài viết thì không nói gì, nhưng đến khi hỏi bài vấn đáp mới quan trọng: Ông ấy đặt câu hỏi: ‘Parlez moi de l’oreillette gauche’, tức là ‘Nói cho tôi biết về cái lỗ tai trong phía bên trái’, trúng tủ! Nói một hồi, ông giáo sư chống tay nghe, thấy khủng khiếp quá, thằng này nói không thiếu chi tiết nào cả. Xong rồi ông giáo sư cho 20/20, đồng thời làm nguyên một cái đề nghị với Chính phủ Pháp cho ông papa học bổng toàn phần để qua bên Pháp học. Vì vậy cho nên tháng 2 năm 1935, Tú Tín mới được qua bên Paris học chứ nhà mình làm gì đủ tiền. Nhà cũng phải bán trâu bán bò để mua cho ổng vé tàu hạng tư qua Pháp, là hạng chót vậy. Tàu của hãng Messagerie Maritime, tàu kiểu mà Bác Hồ đi đó, hơn 20 ngày thì tới Pháp. Câu chuyện Tú Tín đi qua Pháp học là như vậy.”

“Như vậy, tài năng không phải yếu tố duy nhất dẫn đến thành công?”

“Ở đời, mình học giỏi, có tài là một chuyện, nhưng phải có may nữa. May mắn là ông papa gặp được ông thầy đấy, là chuyên gia, và cũng rất tâm huyết về vấn đề tai mũi họng, ông thầy hỏi đúng câu tủ của mình rồi đề nghị Chính phủ Pháp cho mình một cái học bổng toàn phần. Mình hãy cố gắng hết sức những gì mình có thể làm được, không nề hà gì.

Người mà không có phước, thì giỏi đến đâu cũng không đạt được gì. Ví dụ, trong lịch sử nước Pháp, thời kì Napoléon có rất nhiều tướng giỏi, như tướng Marceau[1], mới 27 tuổi đã chết trận vì trúng một phát đạn. Mạng sống còn không giữ được chứ nói gì đến sự nghiệp. Mỗi người có vận hạn là như thế.”

Điều ông vừa chia sẻ quả là một kinh nghiệm quý báu. Ông vẫn chưa ngừng lại:

“Học trò thời nào cũng vậy. Cái gì mình cũng phải cố hết sức, đừng có đặt câu hỏi trước rằng mình học để làm chi, mình biết tới sao, làm sao được, liệu sẽ thế nào, thế nào. Đừng có nói rằng mình làm nửa chừng rồi chờ đợi, đi lễ, đi chùa,… để mong có kết quả. Phải làm ‘tận nhân lực’, làm hết khả năng của mình. ‘Tri thiên mạng’, lúc đó mới biết mệnh trời dành cho mình là gì. Hồi ở Mĩ, bác từng đọc được một câu rất hay trong Serenity Prayer trên một cái bookmark khi ở bên Mĩ: ‘God, grant me the serenity to accept the things I cannot change, the courage to change the things I can, and the wisdom to know the difference.’ Mình phải cố hết sức để thay đổi những gì mình thay đổi được, phải có sự can đảm để chấp nhận những gì không thay đổi được và sáng suốt để phân biệt cái gì thay đổi được và cái gì chưa thay đổi được. Vì vậy mà mình phải làm hết sức, nhưng cũng phải khôn ngoan, đừng có đập đầu vào tường.”

“Khi mình đụng tường thì sao ạ?” - Tôi liền hỏi bác.

“Khi mình gặp khó khăn thì một là đi vòng, hai là mình đi lên trên hay đào xuống dưới. Mấy đứa có biết trận đánh đồi A1 Điện Biên Phủ không? Đồi đó phòng thủ cực kỳ vững chắc, không cách nào tấn công vào được, tấn công tới đâu là chết tới đó. Cuối cùng thì sao? Bác Võ Nguyên Giáp yêu cầu đào hầm xuống dưới rồi đặt hơn một tấn thuốc nổ vào đó cho nổ tung quả đồi. Ta suy nghĩ, đánh thẳng không được, đi vòng không được, đánh trên không được thì phải đào xuống dưới. Phải có trí óc suy nghĩ tính toán để giải quyết vấn đề chứ đừng ngồi ôm đầu nản chí đau khổ trước khó khăn. Không giải pháp này thì có giải pháp khác. Thế nên quân Pháp không thể theo mình được. Sau này Mĩ cũng thế thôi, không theo nổi. Tại vì họ không suy nghĩ theo cách mình suy nghĩ. Thí dụ đường sình lầy như thế thì làm sao xe chở hàng năm tấn hay chục tấn chạy qua được, khi đó, mình chặt tre thả xuống là chạy được thôi. Thứ nhất là ‘power’. ‘Power’ đây không chỉ là sức lực, quyền lực, mà còn là ‘power of thought’, lực của suy nghĩ, suy nghĩ về tất cả khả năng của mình để thay đổi những gì mình có thể thay đổi.”

Bùi Kiến Tín sang Pháp học cho tới năm 1938 mới về. Trong giai đoạn đó, lúc đầu hai anh em Bê Bê ở bên ngoại, chơi với các dì, các cậu. Dì Sáu mất sớm, còn cậu Bảy hay còn gọi là cậu Phan thì lớn rồi. Cậu ấy sinh ngày 18/03/1921, lớn hơn Bê ròm 10 tuổi nên Bê ròm không chơi cùng được. Cậu Tám sinh ngày 30/12/1924 lớn hơn bảy tuổi, hai cậu cháu hay dẫn nhau đi chơi khắp xóm làng. Khăng khít nhất là dì Chín, lớn hơn Bê ròm bốn tuổi thôi. Dì Chín dễ thương lắm, có cái gì cũng cho chơi, cho ăn, dì Chín chăm nom săn sóc Bê ròm không ngại chi hết.

Họ Nguyễn giàu nhất huyện, nhà lớn nhất huyện. Ông ngoại Bê ròm là ông Nghè, tên Nguyễn Liệu nên gọi là ông Nghè Liệu. Ông ngoại với ông cố ngoại ở cùng khuôn viên, có một cái sân chung lớn. Nhà cách mặt đất khoảng chừng một mét rưỡi, phòng khi nước lụt vào nhà, leo lên có đến 10 bậc thang. Nhà ở dưới Quảng Huế thì hơi giống kiểu như là nhà cấp bốn, về kiến trúc thì không bằng nhà của ông nội, nhưng vườn rất rộng, trồng nhiều ổi, cam... Bà má Bê ròm cứ sáng đi làm, tối thì về, Bê ròm không gặp mẹ được nhiều mà hay ở cùng bà ngoại. Bà ngoại thích ăn bún, thường chia cho hai đứa Bê Bê ăn cùng. Làng Quảng Huế có cái chợ ở một khu đất cao rộng gần bến sông. Chợ bán đủ thứ, ngày nào cũng họp. Xung quanh chợ là những tiệm tạp hóa. Đặc biệt Bê ròm chỉ thích mua kẹo thôi, tới chợ là mua đủ thứ kẹo. Kẹo cau, viên kẹo giống như cái múi cau, ở trong có đường đen, xung quanh xốp xốp. Ngày đó hình như kẹo cau một xu được khoảng sáu cục, có lẽ là kẹo rẻ nhất trong chợ...

Bùi Kiến Thành như đứa trẻ khi nhớ về những ngày thơ bé. “Ở nhà quê vui lắm, đi mua thịt lợn người ta luôn cho một miếng gan và một miếng tiết luộc. Miếng gan, miếng tiết luộc ấy bà ngoại cho ăn sướng lắm, hai anh em cứ chia nhau, bữa thì em ăn miếng gan, bữa thì anh ăn, ăn với một bát bún to, thích lắm. Bún chỉ có chan nước mắm hành tỏi thôi, không có gì. Tối nào cũng đi ngủ với bà ngoại.”

“Bác cứ ở bên ngoại mãi thế ạ?”

“Giữa hai bên nội ngoại đã xảy ra tình trạng ‘tranh nhau’, khi ông papa chưa về mình sống bên ngoại, khi ông papa về dẫn mình về bên nội thì bên nội muốn mình ở lại luôn bên này. Cháu đích tôn không cho ở bên ngoại như thế được. Từ nhỏ sống bên ngoại, nên bảo về bên nội mình không chịu về. Có quen ai đâu mà chơi. Không chịu về thì người ta mới dụ mình. Hồi đó đi đâu xa là đi đường sông. Đi thuyền từ phía bên ngoại sang bên nội ngược dòng sông thì phải chèo phải chống hơn một ngày mới lên tới nơi, còn nếu bên nội đi sang bên ngoại thì chỉ xuôi theo dòng nước, chạy nhanh lắm. Mọi người dụ mình lên trên thuyền bảo dẫn lên nội chơi chứ không nói gì. Tới nơi rồi thì kêu mình xuống, mình không xuống mới dụ cái này cái nọ. Khi mình lên trên bờ chơi thì thuyền nhổ sào chạy mất. Ôi lúc ấy giận quá mình la hét om sòm. Nhưng cuối cùng mình cũng phải ở lại bên nội.

Lúc đó mình cũng đi chơi với các cô các chú nhưng không thân bằng bên ngoại. Các cô các chú cũng đồng tuổi. Chú Mười Một thì hơn mình khoảng bốn tuổi. Mấy chú kia thì nhỏ hơn. Chú Mười Lăm, chú Mười Bốn thì nhỏ hơn mình hai, ba tuổi, bốn, năm tuổi. Đám trẻ con chạy chơi với nhau. Ở bên ngoại các cậu các dì thương mình cách khác, sang đây các chú coi mình như kẻ xa lạ. Các chú vẫn là con nít mà, nên bỗng nhiên mình về nhập bọn thì chưa có ‘tinh thần đồng đội’. Hồi đó chưa có mẫu giáo, tới năm hay sáu tuổi thì mình đi học với một ông cậu bà con xa, phải tới nhà để ổng chỉ cho mình học. Cô em thì không học gì, chỉ có mình lủi thủi đi học thôi, đi bộ theo đường làng mất khoảng 15 phút đến nửa tiếng. Mỗi lần trời mưa kinh khủng lắm. Trời mưa tầm tã cũng phải đi như thường. Ở nhà quê hồi đó làm gì có áo mưa, chỉ có cái gọi là áo tơi. Đó là áo mưa có cái cổ tròn tròn, xung quanh lợp lá như lá dừa lá cọ, còn cái nón thì lợp lá cọ xung quanh. Tới nhà cậu quần áo ướt hết, phải chịu thôi. Cậu chỉ cho cái gì mình học cái đó, viết A, B, C, học chữ Quốc ngữ. Đó là những ngày đầu đi học của mình.”

“Bà má bác để bác sang bên nội như vậy sao?”

“Ở bên nội một thời gian thì bà má thấy không yên, phải bỏ việc đồng áng bên ngoại để về bên nội lo cho. Bà má ngày đó nhiều tiền lắm, chứ không như các cô bên nội là không có quản tiền. Bà má mới mua một bầy gà to, nhỏ đủ loại. Tối tối là bà má nấu cháo gà cho mình và các cô các chú ăn. Cô tú[2] nấu cháo cho ăn, săn sóc cho nhưng cũng không lớn được, tại vì khi nhỏ từ hồi chín tháng là bị thiếu sữa mà. Chỉ sau này 13, 14 tuổi vào Quy Nhơn, vào Sài Gòn rồi mới tự mình tập thể dục, đi học võ Tàu, người mới nở nang ra. Còn hồi nhỏ bé tí, ốm yếu lắm. Nhưng mà lạ lắm, thân hình thì ốm yếu, nhưng đi đâu mình cũng luôn thấy trong lòng rất tự tin, kiêu hãnh. Nhiều người gặp mình thấy mặt mũi sáng sủa nên trầm trồ khen: ‘Ôi, cái thằng nhỏ không biết con ai mà dễ thương, mà đẹp vậy!’ Rồi người ta hỏi: ‘Cháu ơi, cháu con ai vậy?’ Mình không biết ai dạy cho mà trả lời ngỗ nghịch lắm nên trả lời: ‘Tôi là con cha mẹ, cháu ông bà.’ Không biết sao trong đầu óc mình có cảm tưởng mình không phải người ở đây, mà giống như ở đâu tới vậy. Khi nhỏ có thể không phải là nghịch, nhưng đi đâu ai chụp hình thì cũng đứng dang chân ra, hai tay chống nạnh thế này này.” Nói đoạn bác Thành chống tay vào hông, lắc lắc đầu vui vẻ: “Làm oai mà, tức cười lắm.”

“Bác có nhớ nhiều về ông nội, ông ngoại không bác?”

“Ông ngoại làm quan thường xuyên xa nhà, có cái xe kéo sơn son thếp vàng màu đen, đi đâu cũng có người kéo. Bác ít khi ngồi chơi với ông ngoại nhưng mình là cháu ngoại đầu tiên nên ông quý lắm, dạy cho đủ thứ. Nhà ông ngoại là nhà quan quyền, ở giữa nhà có cái bàn, hai bên là ghế trường kỷ lớn để tiếp khách. Cậu Hai chưa lấy vợ nên bác là cháu lớn nhất của ông. Mỗi lần ông về thì ông luôn ngồi trên ghế và kêu bác Thành lên ngồi kế bên. Ông ngoại có tinh thần cách mạng. Bác hồi đó chừng năm tuổi thôi nhưng ông đọc cho nghe bài thơ này một lần mà bác nhớ mãi:

Phen này cắt tóc đi tu

Tụng kinh Độc Lập ở chùa Duy Tân

Đêm ngày khấn vái ân cần

Cầu cho ích nước lợi dân mới là

Tu sao cho phỉ chí dân nhà

Tu sao đạo được nước ta phú cường

Lòng thành thắp một nén hương

Nam mô Phật tổ Hồng Bàng chứng minh...[3]

Ông nội thì làm ruộng, nhưng cũng nói chuyện chữ Nho, một mặt ông muốn con trai ra làm quan, mặt khác ông lại ghét quan quyền, không thích chế độ trị dân độc đoán. Ông nội không khó tính nhưng nghiêm lắm. Ổng sống với những người làm của mình, ai cũng sợ, nể nhưng thương ổng lắm chứ không coi là một ông điền chủ. Ở Quảng Nam, ‘thầy’ là ông chủ, nhưng không khi nào người ta gọi là ông chủ cả. Ông nội đối với các cháu cũng nghiêm nhưng không có dữ. Bác là cháu đích tôn, cho nên có những biệt đãi. Ông nội ngồi trên cái phản giữa nhà thì ông cũng cho mình leo lên ngồi bên cạnh. Đích tôn là quan trọng như vậy đó.”

Cả gia đình thường tụ họp ở cái nhà ngang ba gian năm chái. Giữa nhà kê một tấm phản, giống cái sập ngoài Bắc. Một bên phản kê cái bàn dài cho người giúp việc ăn cơm, còn một bên là cái bàn dài để sắp cơm cho gia đình ăn. Ở nhà, người ta gọi nhau là “mi” với “tau”, ít khi xưng “ông”, “bà”, “con”, “cháu”. Ông nội Bê ròm sáng sáng dậy hút thuốc lá, khoanh chân ngó trời ngó đất nghĩ chuyện này chuyện kia. Năm, sáu tuổi bác về với ông nội, ngồi chơi một hồi mệt rồi, Bê ròm nói: “Ông nội ơi, ông nội đỡ tau xuống.” Mấy cô mấy chú nghe thấy, hết hồn la: “Mi không được nói ông nội như vậy!” thì Bê ròm mới bắt đầu biết sửa đổi. Thế mà ông nội nói cái gì Bê ròm nghe là nhớ hết. Mỗi lần đi đâu ông nội đều dắt cu cậu đi theo. Ông nội đi ra ngoài coi việc đồng áng, Bê ròm cũng chạy theo, xem có bao nhiêu cái xe nước.

“Mấy đứa biết cái xe nước không? Đó là dụng cụ múc nước dưới sông đổ vào đồng. Con sông chảy ngang vậy, muốn lấy nước lên tưới ruộng thì phải làm cái bánh xe cao năm mét, sáu mét, 10 mét đặt trong dòng sông, nước chảy làm bánh xe chạy. Người ta cột mấy cái ống tre trong bánh xe đó, khi nó xuống thì múc nước lên, khi nó lên thì đổ ra, người ta mới gọi là cái xe nước. Ở trên quê nội, xe nước lớn lắm, làm 10 cái bánh xe liên tiếp với nhau để múc nước lên tưới cho đồng ruộng. Mỗi lần đi qua, bác Thành nghe nó chảy ào ào ào ào vui lắm.”

Ông mơ màng kể tiếp:

“Ở quê bác, khi nào tới mùa sim trên núi chín, các cô các chú rủ nhau lên hái sim. Tới mùa trái chà là trên núi thì mình không hái được vì ở xa lắm, nên thường ra chợ mua. Mỗi lần mua về thì ông bà bảo chia, nói mỗi đứa chìa tay ra, bụm một bụm tay đầy thì thôi. Mình bé tí, cái bụm tay nhỏ, bất công quá, các cô các chú tay lớn thì làm sao. Hồi đó đã có chuyện bất công trong xã hội rồi.” Bùi Kiến Thành cười rung rinh. “Đất Quảng Nam dựa vào núi, đó là cả dãy Trường Sơn, nhất là Quế Sơn sống trong cảnh núi non hùng vĩ ấy, suy nghĩ của con người cũng có phần ảnh hưởng. Với bác, từ nhỏ tới lớn bác vẫn nhớ chuyện đồng quê, vẫn nhớ cảnh chiều tà mặt trời đỏ ửng, chim bay về tổ, cò bay trắng cả trời...”

❀ ❀ ❀

[1] Tên đầy đủ là François Séverin Marceau-Desgraviers (1/3/1769 - 21/9/1796), một vị tướng của Pháp.

[2] Sau khi Bùi Kiến Tín đỗ tú tài thì vợ ông còn được mọi người gọi là cô tú.

[3] Bài thơ “Cắt tóc” (sáng tác năm 1905) của Nguyễn Quyền nói về trào lưu cắt tóc búi tó của trí thức Việt Nam hưởng ứng phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX. Tác phẩm còn có một số dị bản khác.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.