Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 284 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ra biển lớn

❊ ❊ ❊

Từ năm 1941 đến năm 1946 là năm năm trời, thời gian thấm thoắt, Bùi Kiến Thành khi ấy thường được gọi là Hai Thành nay đã là một cậu thanh niên sức dài vai rộng. Cứ quanh quẩn làm những việc lặt vặt ở nhà, cu cậu ngứa ngáy chân tay làm sao. Một hôm cậu thưa với bác sĩ Tín: “Con muốn đi học lại thì ba nghĩ thế nào?” Ông bố bèn gửi cậu đến chỗ bạn mình, một ông đại gia trong miền Nam làm doanh nghiệp về điện: “Chú mày xuống đó coi thử học được cái gì không.” Hai Thành tới xưởng điện ngồi suốt một buổi chiều đành cắp đít ra về vì thấy không phù hợp.

Ông chú họ Bùi Liêm Ngoạn giới thiệu Hai Thành tới một ông thầy ở Tân Định, vốn là kĩ sư nông nghiệp, tên là Vương Gia Cần. Từ Chợ Lớn lên Tân Định, hàng ngày Hai Thành phải đạp xe 11 cây số chiều đi, 11 cây số chiều về. Tháng đầu tiên, Vương Gia Cần dạy Hai Thành hết chương trình lớp sáu, tháng thứ hai ông dạy hết chương trình lớp bảy. Thầy thì giỏi nhưng đi lại cực quá, Hai Thành thưa với bà má mời thầy về dạy tại nhà. Bà bác sĩ Tín nghe thấy được là tán thành ngay. Bấy giờ họ hàng Quảng Nam vào Sài Gòn học có hai người cùng độ tuổi với Hai Thành là Phan Hoàng Định và Trương Đình Lâm.

Hai Thành gọi Phan Hoàng Định bằng chú. Anh chàng đó vừa mang họ Phan vừa mang họ Hoàng, hai họ đều có những người làm cách mạng nổi tiếng. “Dưới Bảo An, Điện Bàn, họ Phan mạnh lắm. Đó là nơi sinh ra những ông Phan Thành Tài, Phan Diễn, Phan Thanh... Anh Định này là cháu nội của ông Phan Thành Tài. Ông ấy làm cách mạng bị Pháp bắt, chém ngang lưng dã man lắm. Nhưng mẹ của Định lại bên họ Hoàng, là cháu nội của cụ Hoàng Diệu. Hoàng Diệu thì tử tiết ở thành Hà Nội. Ngoài ra họ Phan còn có ông Phan Bôi, sau này là Hoàng Hữu Nam đi theo cụ Hồ đấy. Hay có ông Phan Khôi nổi tiếng vì lí luận khùng. Ví dụ, ảnh ngồi hỏi tại sao cái cổ con ngỗng nó dài. Mọi người đem sách vở ra nói tại vì cấu trúc thân thể nó thế, nó cần cái cổ dài để cúi xuống nước tìm ăn này nọ. Một hồi Phan Khôi nói không phải đâu, cái cổ nó dài vì cái đầu nó xa cái mình.” Bùi Kiến Thành bật cười sảng khoái. “Không ai cãi được, lí luận Phan Khôi mà. Sau này, ổng bị vướng vào phong trào Nhân văn Giai phẩm. Ổng bị cắt sổ lương và bị phê bình đủ kiểu, ổng mới làm mấy câu thơ mà giờ mọi người vẫn nhớ:

Làm chi cũng chẳng làm chi

Nếu có làm gì cũng chẳng làm sao

Làm sao cũng chẳng làm sao

Nếu có bề nào cũng chẳng làm chi.

Đó là Phan Khôi. Phan Khôi của Điện Bàn đó.”

Còn Trương Đình Lâm là con bác sĩ Trương Đình Ngô, người cũng học bên Pháp về và có thời gian hợp tác với bác sĩ Tín. Họ Trương là một trong bốn họ lớn nhất của Quảng Nam, sản sinh ra nhiều tên tuổi lớn. Chủ tịch Hội đồng Quản trị FPT Trương Gia Bình cũng thuộc họ Trương ở Quảng Nam.

Vậy là ba thanh niên gộp lại học chung. Bà bác sĩ Tín thu xếp mời cả nhà thầy Vương Gia Cần, gồm gia đình, vợ con, về ở một căn nhà trong vườn dưới Phú Lâm. “Mỗi ngày ba thằng qua đó học, quyết tâm với nhau học thật nhanh. Học từ năm... coi thử nào, cuối năm 1946 cho tới cuối năm 1948 là phải xong từ lớp sáu tới lớp 12. Mà hồi đó là chăm chú vào học cái gì? Học Toán, học Lí là chính. Ngày nào cũng học, học xong rồi không tìm ra cách làm, đêm ngủ nghĩ miên man thì giữa đêm giật mình tỉnh dậy reo ‘Tìm ra rồi mày ơi’, kêu nhau dậy giải bài toán... Cứ như vậy, ba đứa với nhau, dắt nhau mà học. Có bạn mà, học vui lắm.”

Hết lớp 12, đến đầu năm 1949, ba thanh niên ngồi bàn xem thi cái gì. Nhất trí rồi, Hai Thành vào nói với bà má: “Tụi con học hết rồi đó, cho tụi con qua Pháp thi.” Bà má bảo: “Mày muốn đi thì mày đi đi.” Lại ông chú Bùi Liêm Ngoạn đứng ra chỉ đường tính lối, lo chạy giấy tờ cho. Muốn qua Pháp thì phải có hộ chiếu...

“Nước mình khi ấy là thuộc địa, vậy cũng có hộ chiếu hả bác?” Tôi vừa rót nước vừa hỏi.

“Hộ chiếu là hộ chiếu của Tây chứ không có của Việt Nam, Việt Nam hồi đó chưa có hộ chiếu. Ngoài Bắc này là ‘protectorat’, không phải là thuộc địa nhưng gọi là bảo hộ. Còn miền Trung là Nam Triều. Cho nên những người nào mà ở trong Nam thì được coi như là dân Pháp, đi đâu là có hộ chiếu Pháp. Hay những người nào mà sinh ở Hà Nội, ở Đà Nẵng, là những thành phố trực thuộc Pháp thì có quyền có hộ chiếu của Pháp... Khoảng tháng ba, ba đứa lên tàu. Bác với mấy ổng như ‘trois mousquetaires’, ba chàng ngự lâm pháo thủ, đi đâu cũng có nhau. Hai mươi mấy ngày đi đến Marseille...”

Ba thanh niên có chỗ dựa ở Pháp là chú Năm Bùi Thạnh, trước qua Pháp cùng với Bùi Kiến Tín rồi ở lại học kĩ sư dệt. Bên cạnh đó là ông Phan Thuyết, chú của Phan Hoàng Định, qua Pháp từ những năm 1939, thời kì chiến tranh lại qua bên Đức. Ông sang dạy tiếng Pháp cho người Đức. Lên tới Paris, chú Thạnh bố trí chỗ ở cho ba anh em, nấu cơm cho ăn. “Ổng còn làm phở, nấu nướng, giống như bà mẹ nuôi chăm lo cho ba đứa này. Ổng hỏi: ‘Thế các chú qua đây làm gì?’ ‘Tụi tôi qua đi thi.’ ‘Đi thi cái gì?’ ‘Đi thi Bấc[1].’ Đi thi trung học đó. Ổng nói: ‘Bộ các chú điên rồi hả? Các chú sức mấy mà đòi đi thi Bấc? Mấy cái này khó lắm.’ Mình nói khó không sao, khó thì mình cứ việc cố gắng học thôi. Ngồi nói chuyện một hồi thì ổng giơ tay lên trời nói mấy thằng này điên hết rồi. Việt Nam mình qua đây, tiếng Tây còn ba rí ba nố lố nhố mà. Cho nên ổng thử bắt mình làm mấy bài tiếng Pháp thì mình làm chẳng ra làm sao cả. Thi bên Pháp là tất cả mọi chuyện bằng tiếng Pháp, và văn là phải ‘classic’. Bao nhiêu sách về văn của Pháp từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX phải học hết, rồi từ đó mới viết ra những bài luận. Mỗi lần đi thi mình phải viết luận theo yêu cầu của một đề thi. Đề thi đó, có thể là một câu nói, một tác phẩm… của Corneille thế kỷ thứ XVII hay của Molière hay Pascal. Thế thì phải học hết để làm luận văn. Luận văn dưới 3 điểm trên 10 thì phải thi lại.”

Câu chuyện tiếp tục bằng những tràng cười rôm rả:

“Bấy giờ ông chú ngồi thở ra hoài không biết làm sao. Ổng mới gọi điện, viết thư cho ông chú Phan Thuyết bên Berlin. Ổng nói: ‘Giờ mấy thằng cháu sang đây để đi thi Bấc mà tôi coi tụi nó không xong rồi, chú về chú coi thử giúp cho chúng nó làm sao’. Ông Thuyết ở Berlin mới đi xe lửa về Pháp, ngồi nói chuyện một hồi rồi ra đề bài Văn cho ba đứa viết xem sao. Mấy đứa ngồi viết xong, ổng đọc rồi cười ngất. ‘Các chú viết thế này thì làm sao mà đi thi được.’ Ổng đứng ngồi suy nghĩ, bóp đầu bóp trán, chắp tay sau lưng rồi đi tuốt ra ngoài. Ổng đi dạo ở gần công viên Luxembourg. Một hồi ổng về, nói: ‘Chuyện này các chú phải cố gắng.’ Mình đáp: ‘Thì tụi tôi qua đây tụi tôi cố gắng chứ sao nữa.’ ‘Các chú viết ra một câu mà sai chính tả, sai văn phạm hết. Các chú viết như vậy khó mà qua được. Giờ chỉ có một cách thôi, là học thuộc lòng.’

Ổng nói có một bộ sách Văn. Trong đó có những bài văn người ta làm rồi, đề ra rồi. Cái khung của văn học Pháp nằm trong này. ‘Có khoảng chừng 10 tập thì các chú học thuộc lòng thôi. Học thuộc rồi khi nào họ ra đề đó, nó na ná giống giống như vậy thì cắt dán lại với nhau. Cắt chỗ này lại, chỗ kia lại thì nó thành ra bài văn của mình.’ Ổng nói: ‘Tôi đi chấm thi rồi, không có sợ. Không ai nói rằng anh cóp bài người khác, đọc thấy xuôi xuôi là được rồi. Người ta cũng không nghĩ mình học thuộc lòng để làm gì đâu. Tôi chỉ giúp cho các chú về phần viết Văn thôi. Toán, Lí, Hóa là chuyện của các chú, còn cái Văn này tui lo, được không?’”

Bên Pháp lúc ấy đã cuối tháng ba, đầu tháng bốn rồi, mà tháng sáu phải thi. Ba thanh niên răm rắp ôm mỗi đứa mười mấy cuốn tuyển tập Văn mẫu Phan Thuyết mua cho, mỗi buổi sáng ông Thuyết dạy mấy tiếng. Sáng hôm sau, ông ra đề thi, ba đứa viết đưa ông xem. Từ ông tác giả này tới ông văn hào kia, cứ thế, ngày nào ba đứa cũng học, cũng nhận đề thi, cũng làm đề thi cho Phan Thuyết chấm. Trong khi đó, việc đăng kí thi chú Bùi Thạnh lo giúp.

“Phải nói lại là trong quá trình học đuổi lên lớp 12 ở Việt Nam, thì bác Thành học từ lớp sáu, còn Phan Hoàng Định với Trương Đình Lâm đã học lớp tám, lớp chín rồi, cho nên Pháp văn các ảnh cứng hơn mình, còn mấy thứ khác thì cũng ‘xêm xêm’ nhau thôi. Bên Pháp thi thế này, nếu tháng sáu không đậu thì tháng chín thi lại. Có thể là tháng sáu đi thi thì mình đậu viết mà không đậu vấn đáp, còn nếu không đậu viết thì không thi vấn đáp, tới tháng chín thi viết lại và thi vấn đáp tiếp. Cái đó là bằng trung học một. Tới tháng sáu thi thì các anh kia viết tiếng Pháp giỏi hơn mình, các ảnh đậu liền. Còn bác Thành cũng vào làm bài, vui lắm, xong rồi đem về cho ông Thuyết coi. Ổng coi rồi cười ngất. Hỏi chuyện gì mà chú cười, ổng bảo: ‘Kiểu này chú mày chắc chắn thi lại rồi. Mày làm thì hay lắm nhưng mà thiếu một khúc. Cắt dán đủ thứ mà cắt đâu thiếu mất một khúc, không ai hiểu mày nói gì cả.’ Dưới 3 điểm thì không được thi lại vào đợt tháng chín, nhưng từ 3 điểm trở lên thì được thi lại, may ông thầy chấm thi, ổng cho mình đúng 3 điểm.” Bác Thành lại cười. “Ông nghi có chuyện gì đấy, đánh rớt luôn thì cũng tội cho nên cho đủ 3 điểm để có cơ hội thi lại đợt sau, còn mấy anh kia đã qua phần một. Thế là ba tháng tiếp theo từ tháng sáu tới tháng chín mình bác Thành tối nào cũng ngồi học rồi kiểm tra cùng ông Thuyết. Cuối cùng tới tháng chín thi mình cũng đậu như ai.”

Bùi Kiến Thành tại Pháp năm 1949

“Ba đứa học chung trường, cùng đi xuống Fontainebleau để học và thi phần hai. Hai anh kia thi dễ dàng lắm. Còn bác Thành hơi xui là đến khi thi thì mình hơi mệt chút nên kì tháng sáu năm đấy mình cũng không có đậu. Trong kì nghỉ hè, bác Thành về học trong trường Louis le Grand, trường trung học lớn bậc nhất của Pháp. Trường này dạy rất tốt, học ở đó khó có thể nào thi trượt. Nhiều đại văn hào, nhà khoa học, lãnh đạo doanh nghiệp, chính trị của Pháp đều học từ trường đó. Học ra thì bác Thành thi như đi chơi. Kì thi thứ hai đó có bài toán cực kì khó. Đề bài không những đưa ra bài toán mà còn cho cả phương pháp để giải nữa vì khó quá sợ học trò không biết làm. Khi mình làm bài, mình giải đúng phương pháp đó, nhưng mình nói thêm phương pháp này chưa hay, tôi sẽ giải bằng một cách khác có lẽ là hay hơn. Và mình đã làm bài theo hai cách khác nhau, vui lắm. Thế là được điểm cao chót vót.”

“Cháu không ngờ bác cũng học hành lận đận vậy.”

“Ừ, mọi thứ mới bắt đầu thôi, từ từ còn nhiều chuyện nữa. Việc học đó cũng vui lắm. Mất năm năm không học hành gì rồi phải học trở lại, qua bên Pháp thì như vậy. Khi mình quyết tâm thì mình sẽ làm được. Khi mình quyết tâm thì hình như có một thế lực siêu nhiên nào đó giúp mình. Qua bên Pháp mà không có ông Thạnh nấu cơm cho ăn, nuôi mình như bà vú nuôi, không có ông chú Thuyết từ bên Đức bỏ công việc bên đó về để dạy cho hàng ngày thì không có cách nào thi được. Cho nên mình quyết tâm muốn làm gì, thì có cái vô hình trợ lực, dắt dẫn mình đi tới...”

“Hình như bác bắt đầu có ngã rẽ riêng khỏi nhóm ‘ba chàng ngự lâm pháo thủ’?”

Vuốt mái tóc bạc lơ phơ, Bùi Kiến Thành vui vẻ nói:

“Đúng, từ việc lựa chọn... Mấy anh kia đi học Dược, còn bác Thành thì chuẩn bị đi học Hàng không Vũ trụ. Cũng có lí do của nó. Khi học tại trường ở Fontainebleau để đi thi phần hai đó, một hôm có cuộc hội thảo nói chuyện du hành vũ trụ của ông kĩ sư ở trong nhóm của Wernher von Braun, người sáng tạo ra tên lửa V2 trong Thế chiến thứ hai đó. Mình thấy mê lắm thế nên quyết định học ngành này. Làm sao mà thoát ra khỏi lực hút địa cầu, bay qua các hành tinh khác. Mình thấy cái này vui đó, học cái này đi. Mình cần bỏ ra hai năm học dự bị ở trường Henri IV, một trong những trường lớn của Paris, học Toán, từ ‘mathématiques supérieures’, tức là Toán cao, tới ‘mathématiques spéciales’, Toán đặc biệt, để thi vào ngành đào tạo Kĩ sư. Đang học được khoảng sáu tháng thì ông papa gửi thư qua bảo: ‘Hàng không vũ trụ cũng hay nhưng chưa phải cái dùng ở Việt Nam được. Chú mày chuẩn bị sang Mĩ mà học Kinh tế, sau này có chỗ dùng hơn.’ Mình cũng nghe thôi, mọi thứ ông papa dàn xếp cả. Trường bên Mĩ bắt đầu học vào tháng chín, mà lúc đấy là khoảng tháng một, tháng hai đầu năm. Chuyện đầu tiên là phải học tiếng Anh. Bên Pháp bác học tới Bấc, có hai năm học tiếng Anh vỡ lòng, mới biết chút chút ‘How are you?’”

Bùi Kiến Thành qua Anh học tiếng Anh, đăng kí trường dạy tiếng Anh nổi tiếng nhất là Davis School of English ở London. Qua đấy họ khuyên cậu nên ở trọ nhà một người Anh, như vậy có thể nói tiếng Anh suốt ngày từ ở nhà rồi tới trường. Họ giới thiệu cậu đến một gia đình ở ngoại ô London, có ông bố là hiệu trưởng một trường tiểu học trong thành phố. Hàng ngày, Hai Thành đi học bằng tàu điện ngầm, gọi là hệ thống London Underground. Ông bà chủ nhà có cậu con trai cũng cỡ tuổi Hai Thành, học về kiến trúc, kể đủ chuyện phiếm cho cậu nghe, hai đứa nói chuyện với nhau vui lắm. Ông thầy để ý nghe, bao giờ Hai Thành nói cái gì sai thì sửa. Bà má chăm sóc Hai Thành như con cái trong nhà. Trường Davis dạy phát âm làm sao cho chuẩn, chữ ‘war’ khác với chữ ‘were’ như thế nào, hay ‘I go for a walk’, ‘I go to work’ khác nhau ra làm sao. Cái lưỡi thế này thế nọ, họ dạy rất kĩ. Trúng trường nên Hai Thành học cũng nhanh, sáu tháng sau cậu lại xách cặp qua bên Mĩ.

“Nghe bác kể, cháu thấy từ ông nội đến ba má bác đều hết lòng vì sự nghiệp học hành của con. Không biết lần này bác sĩ Tín sắp xếp ra sao mà tài tình thế ạ?”

“Các cháu có biết Đức cha Ngô Đình Thục, anh trai của ông Ngô Đình Diệm không? Ổng từng giữ chức Giám quản Tổng Tòa Giáo phận Vĩnh Long, và chức Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế. Hồi đó, Đức cha Ngô Đình Thục quen ông papa nên ông papa xin Đức cha một suất học bổng cho mình qua bên Mĩ học trường dòng, là trường đào tạo ra các vị cha sứ. Trong trường dạy đủ các ngành, trong đó có cả khoa Kinh tế. Năm đầu tiên, bác Thành đi học nội trú ở Minnesota, là tiểu bang lạnh nhất Mĩ. Trên đó lạnh lắm. Minnesota được mệnh danh là ‘tiểu bang 10 nghìn hồ’. Hơn 10 nghìn cái hồ lớn nhỏ ở trong tỉnh ấy, hồ nào cũng đóng băng hết, có thể đem patin ra chạy chơi ở trên đó, hoặc mấy đứa rủ nhau đào một cái lỗ trên băng rồi thả câu. Cứ thả lưỡi câu xuống là bắt được cá, vì cá dưới đó không có gì ăn. Mỗi ngày phải có xe đi ủi tuyết, có khi tuyết dày tới ba, bốn mét, dọc hai bên đường. Trường ở ngay trong rừng, gọi là Saint John University ở thị trấn Collegeville, Minnesota, là đại học công giáo nổi tiếng lắm.”

“Đây đúng là bước ngoặt ạ. Xém chút nữa thì chúng ta đã có một Đức cha Bùi Kiến Thành, thay vì một chuyên gia tài chính...”

Mấy đứa chúng tôi cười rộ lên, bác Thành cũng cười:

“Chưa biết như thế thì sẽ thế nào, nhưng dòng Benedictine[2] của Công giáo cực kì giỏi. Khi ấy bác thường dậy từ năm, sáu giờ sáng, đi lễ, ăn cơm xong rồi đi học, tối về đi lễ tiếp… Một năm ở trường đó bác học đủ thứ kinh điển, và đọc kinh. Khi quen với ông Cha rồi thì mình học có những điều trong Kinh thánh mình không đồng ý, mình cãi với ổng. Thí dụ Kinh thánh nói, sinh con là phải rửa tội ngay để nó là con của Chúa, nếu không phải con của Chúa thì nó là ngoại đạo. Ngoại đạo thì phải xuống hỏa ngục. Xuống hỏa ngục rồi thì đời đời kiếp kiếp không thể nào ra được, thế nên nhất thiết phải cho con được rửa tội. Mình đọc cái đó, mình nói: ‘Cha ơi Chúa là gì mà ác vậy? Bố mẹ không biết, không rửa tội cho mình có phải tội của mình đâu. Bố mẹ không rửa tội cho mình mà mình bị đày xuống hỏa ngục đời đời kiếp kiếp không ra được là làm sao? Chúa ác lắm, tôi không chịu đâu...’ Hay có chỗ khác nói rằng thành phố Sodom và Gomorrah là thành phố hư hỏng bê bối nên Chúa sai thiên thần xuống diệt hết, không còn một người nào sống sót, trừ gia đình Lot. Chúa báo cho gia đình Lot ngày phải đi ra khỏi thành phố, mà đi thì đi luôn đừng khi nào quay đầu lại. Tới ngày đấy, Lot dẫn vợ con đi. Ra tới một nơi, vợ Lot không nghe lời Chúa quay nhìn lại, bị biến thành một đống muối. Những người khác trong gia đình nhà Lot thì được yên, được Chúa cứu. Tôi nói: ‘Thế này không được Cha ơi. Chúa ác lắm! Tại sao mà đi giết cả một thành phố như vậy? Chúa là người nhân từ, thương người mà nếu người ta có tội thì có thể xử tội hay bắt người ta chuộc tội chứ sao lại sai thiên thần xuống giết không còn người nào hết như thế này, tôi không chịu đâu...’ Mình toàn cãi kiểu đó, nên ông Cha nói, hoặc mày có đức tin, hoặc là không có đức tin. Khi đó thì mình nghe thế cũng biết thế thôi.”

“Vậy là bác học xong một năm đầu tiên, sau đó thì sao ạ?”

“Học ở đó một năm cũng rất là có ích trong vấn đề hướng thiện. Rồi bác viết thư về cho ông papa nói con học ở trường dòng không hợp, nên muốn đi lựa trường khác. Ổng nói, mày ở bên đó mày biết thì mày lựa trường khác đi. Khi đó bác nói, tôi phải lựa cái trường nào số một thì tôi mới học. Hồi đó Mĩ có mấy trường lớn là Harvard, Columbia, Princeton, Yale, Cornell... Mình lựa Columbia vì nó ở ngay New York, còn Harvard ở tận Boston. Đó là trường dạy cho mấy ông chủ như Obama, hay là Warrent Buffet, nhiều lắm... Harvard thì dạy cho mấy anh CEO, quản lí tốt, nhưng không phải dạy làm ông chủ. Vào Columbia thì có lợi thế là mình học với những người sau này sẽ lãnh đạo hoặc có ảnh hưởng rất lớn, ra làm việc gì cũng dễ. Nhưng lí do chọn trường này bắt nguồn từ trước đấy.

Hồi ở trong Chợ Lớn, bác suy nghĩ mãi không biết sau này làm gì, ngồi trầm tư mặc tưởng xem cái gì thú vị nhất. Hồi đó chưa biết gì về hàng không vũ trụ. Lâu lâu ông papa giao cho bác đi nộp tiền ở ngân hàng. Bạn ông là ông Nguyễn Thành Lập làm chủ Ngân hàng Việt Nam trong Sài Gòn, là ngân hàng đầu tiên do người Việt Nam thành lập ở nước mình. Hàng tuần mình mang tiền nhà thuốc tới nộp. Thế mình mới nói Ơ-rê-ka, trúng rồi, mình học ngân hàng. Mình nghĩ rất vui, ai cần tiền thì mình cho vay hoặc mình giúp cho phát triển thay vì mình đi làm, thế là mình khỏe. Đi kinh doanh cái này cái kia như ông papa cũng mệt mỏi lắm. Rời Minnesota xuống Columbia, nguyên thành phố tài chính đấy có rất nhiều ngân hàng.”

Đây là lúc Hai Thành chính thức bước vào cái “nghiệp” của đời mình, cũng là thời điểm ông trở nên thân thiết với Ngô Đình Diệm, một trong những nhân vật ảnh hưởng lớn trên vũ đài chính trị Việt Nam thế kỷ XX, đồng thời ảnh hưởng lớn đến cuộc đời Hai Thành sau này.

❀ ❀ ❀

[1] Bấc: Tú tài Pháp, (tiếng Pháp: baccalauréat, còn gọi tắt là le bac) là bằng chứng chỉ giáo dục của Pháp cấp vào cuối bậc trung học cấp ba. Đây là chứng chỉ cần thiết để ghi danh vào đại học.

[2] Còn gọi là Dòng Thánh Biển Đức. Các tu sĩ của Dòng sống theo Quy luật của Thánh Biển Đức.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.