Từ sau Hiệp định Genève đến cuối năm 1954, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tiếp tục ở thế “cò cưa” với các phe phái chống đối, đồng thời tìm cách thoát khỏi sự kìm kẹp của Pháp, lôi kéo sự ủng hộ của Mĩ.
“Khi bác Thành cùng mấy anh Huỳnh Văn Lang, Đỗ Trọng Chu, Nguyễn Thái, Dư Phước Long, Đỗ Vạng Lý vừa về Sài Gòn thì ở ngay Dinh Gia Long, ông Diệm ngủ bên kia thì mình ngủ bên đây. Hồi đó mình cũng gan lỳ, ngủ trong chính phòng ngủ của vua Bảo Đại, rất xa hoa. Anh Tôn Thất Thiết, một hoàng thân, hồi đó là Trưởng Sở Nội dịch của Dinh Gia Long, đồng thời quản lí tài sản của đức Quốc trưởng, thấy thế lấy làm khó chịu, cho rằng mấy thằng nhỏ ‘khi quân phạm thượng’, nhưng ông Diệm lại không quan tâm. Một hôm Đỗ Trọng Chu đau ốm, nôn đầy ra phòng khiến Tôn Thất Thiết bức xúc lắm. Để cái nhóm này khỏi ngủ trên giường của Hoàng đế, ba ngày sau, người ta sắp xếp cho ra ở khách sạn Kim Hoa trong Chợ Lớn.
Chừng tháng chín, trong khi ở ngoài có bao nhiêu chuyện sôi sục thì tụi này nằm ngủ với nhau mới nói bây giờ nên làm cái gì cho vui giữa lúc tình hình chính trị chưa ngã ngũ. Huỳnh Văn Lang ở chung phòng với Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cường. Một hôm mấy anh gọi bác Thành vào bàn việc làm cái trường Bách khoa bình dân. Mỗi anh có một nghề, người kế toán, người vô tuyến điện, cắt may, quảng cáo, y học, ngoại ngữ... Trong tay mình có rất nhiều kiến thức để truyền cho mọi người thì tại sao mình không làm cái trường dạy buổi tối cho bà con tới học. Huỳnh Văn Lang sinh năm 1922 từng đi học làm cha, học đến năm thứ bốn thì bỏ, sau đó được gửi qua Canada học. Vấn đề quan trọng là tài chính. Hồi đó ông Diệm đã cử anh Lang sang làm trợ lí cho Bộ trưởng Bộ Tài chính Trần Hữu Phương. Lang làm kế toán nên thấy trong ngân sách của Bộ có một khoản để cấp cho việc học bình dân, bèn đề nghị Bộ trưởng cho dùng ngân sách đó để mở trường Bách khoa bình dân.”
Mọi người phân công Huỳnh Văn Lang làm giám đốc, Lê Thành Cường là thư kí kiêm thủ quỹ, Đỗ Trọng Chu phụ trách chương trình giảng dạy. Sau khi đi khảo sát, Huỳnh Văn Lang liên hệ mượn trường nữ Tôn Thọ Tường, ở ngay giữa thành phố đối diện rạp hát Đại Nam, vốn dạy ban ngày, ban đêm để trống. Cả đám mấy người đó đi kêu gọi các anh chị em học bên Anh, Pháp, Mĩ, Canada về, lập ban giảng dạy mười mấy người, lên giáo án rồi tuyển sinh. Giảng viên đều dạy không công và học sinh đăng kí cũng không mất tiền, còn có giấy bút cho học sinh nghèo. Ai muốn học cứ việc đăng kí, không cần bằng cấp, chứng chỉ.
“Thế là hôm mở đăng kí... Kinh khủng lắm! Tám giờ tối bắt đầu thì bảy giờ người ta đến đông nghịt, hàng nghìn người. Phải nhờ cảnh sát giữ trật tự, ban tổ chức bắc loa xin lỗi bà con, thông báo do không chuẩn bị kịp cho số lượng lớn như vậy nên xin hoãn một tuần để việc đăng kí quy củ hơn.”
Một tuần sau, anh em trong hội phải rỉ tai, huy động bao nhiêu bạn bè tới giúp. Số đó có rất nhiều công tử, tiểu thư con nhà giàu ở Sài Gòn, xắn tay vào làm. Ai cũng có việc ban ngày nên hoạt động này thực hiện buổi tối. Người phụ trách sắp hàng, người phụ trách đưa số, người ngồi tiếp ở bàn... suốt từ bảy giờ tối đến mười rưỡi đêm. Theo ghi chép của Huỳnh Văn Lang, rốt cục có 7719 người ghi danh, đủ mọi thành phần xã hội, anh em huy động tăng cường thêm lớp, thêm ca mà chỉ đủ chỗ cho 1275 người. Mỗi khóa học hơn bốn tháng, toàn những ngành học xong dùng được liền: Giám thị công trường; Vô tuyến Điện; Kinh tế nhập môn; Nhiếp ảnh; Nữ công; Ước lượng viên; Trữ dược; Tốc kí; Đánh máy chữ... Khóa đầu tiên khai giảng vào tháng 11 năm 1954, đến năm 1964 riêng cơ sở ở Sài Gòn có 34.753 sinh viên hoàn tất chương trình.
“Năm 1955, mấy anh lập Hội Văn hóa bình dân để mở rộng mô hình, anh Lang làm Chủ tịch thì bác Thành được phân công làm Kiểm soát viên. Lúc đó có vấn đề hòa nhập Hoa kiều vào với người Việt. Chính phủ ra quyết định là mọi người muốn nhập quốc tịch Việt Nam thì phải biết tiếng Việt. Hội Văn hóa bình dân mở lớp tráng niên dạy người mù chữ, mà trong 10 năm có hơn 80.000 người được cấp chứng chỉ. Không chỉ có người Hoa, mà nhiều người Việt cũng muốn biết chữ để đọc báo, số người theo học nhưng không lấy chứng chỉ còn nhiều hơn mấy lần.”
Rồi tài chính lại thiếu, anh em đi quyên tiền bà con họ hàng không đủ. Huỳnh Văn Lang lúc này làm Giám đốc Viện Hối đoái thuộc Ngân hàng Quốc gia, Bùi Kiến Thành cũng được gửi qua làm cho Viện ở bộ phận cấp giấy phép nhập khẩu, hàng ngày chạy qua chạy lại Dinh Độc Lập. “Mấy anh em cực kì nghiêm túc, thanh liêm, không có ăn hối lộ gì, cũng trích lương đóng góp rồi kêu gọi quyên thêm cho Hội Văn hóa bình dân từ cộng đồng thương gia. Bác Thành vẫn nghĩ là cứ nhận ba cọc ba đồng thế thì khó có ngân sách lâu dài, mới đem sáng kiến nói với anh Lang, đó là đấu giá kiểu Mĩ những đồ quý giá cho những người ủng hộ.”
“Đấu giá kiểu Mĩ là thế nào hả bác?”
“Là anh trả bao nhiêu anh bỏ tiền vô bấy nhiêu. Ví dụ, anh trả 10 ngàn thì anh bỏ luôn 10 ngàn vào, anh khác trả 20 ngàn thì bỏ thêm 10 ngàn nữa vào cho tổng bằng 20 ngàn, được hay không được cũng bỏ tiền vô. Đấu giá kiểu này là người ta cho mình một cách chính thức, không phải để lấy cái vật đấy, và không phải để cái gánh nặng cho người cuối cùng... Nhưng lại cần cái gì đem đấu giá chứ. Bác Thành mới vào chơi với ông Diệm rồi nói: ‘Cụ ơi, tôi làm cái trường nhiều người học lắm mà bây giờ đang thiếu tiền. Anh em có nghĩ tới cách đi bán đấu giá một cái gì có giá trị. Tôi nói cái này cụ có nghe được không? Cho tôi cây viết của cụ đi!’ Cây viết Parker ổng cắm trên bàn là cây viết ổng kí bao nhiêu sắc lệnh, quyết định lớn, một cây viết lịch sử. Ông ấy bảo: ‘Ờ, thì anh lấy đi.’ Bác Thành đem về tiệm vàng và trang sức của ông Đức Âm, một đại gia về kim hoàn đá quý từng có tiệm vàng lớn ngoài Tràng Tiền, Hà Nội, dẫn con vào tị nạn. Ổng có tám cô con gái dễ thương lắm. Mình mới bảo mấy chị tiểu thư làm cho mình cái hộp bằng kính hết sức đẹp, gắn một cái biển mác bằng bạc, đại ý là: Cây bút này đã kí những cái sắc lệnh này sắc lệnh này, quyết định này… Mình để cái bút vào trong cái hộp rồi đem đấu giá. Mình tổ chức một buổi dạ hội ở rạp Đại Nam của anh Ưng Thi. Anh Ưng Thi dòng dõi hoàng tộc rất đáng mến và rạp của ảnh lớn nhất Sài Gòn. Mình mời bao nhiêu nghệ sĩ nổi danh Sài Gòn tới hát, có cả vua hài miền Nam thời đó là anh Trần Văn Trạch, em của Giáo sư Trần Văn Khê. Hồi đấy trong Nam tiền bạc không thành vấn đề, kêu mấy người quen đi hát giúp người ta đi liền. Bao nhiêu danh nhân Sài Gòn góp mặt, bác Thành mời cả ông Diệm tới luôn. Một sự kiện văn hóa mà Thủ tướng dự là ghê gớm lắm. Coi biểu diễn như vậy khi nghỉ giải lao thì mới đấu giá.”
“Kết quả đấu giá thì ai được cây bút ạ?”
“Cuối cùng là một anh Hoa kiều tên là Lí Bỉnh, nhà nhập khẩu mua bán dược liệu đông y, cũng quen mặt ở Viện Hối đoái rồi. Huỳnh Văn Lang mời anh Võ Văn Hải, thư kí ông Diệm, đại diện cho Thủ tướng đưa cái cây viết cho ảnh. Ông Diệm ngồi đấy theo dõi. Mình tạo được quỹ khá lớn để tiếp tục làm văn hóa bình dân. Sau ảnh tặng cây bút lại cho ban tổ chức, để ở trụ sở Hội Văn hóa bình dân.”
Huỳnh Văn Lang rất lao tâm khổ tứ, Đỗ Trọng Chu vô cùng tâm huyết, mấy người như Lê Thành Cường cũng xả thân vì Hội Văn hóa bình dân. Lang có sáng kiến xuất bản tạp chí Bách khoa, nội dung bao gồm tin tức, biên khảo, nghiên cứu, văn nghệ... Cả hội đi đâu cũng có nhau nên khi ra tạp chí này, Bùi Kiến Thành cũng là một trong số những thành viên sáng lập. Huỳnh Văn Lang không có thời gian làm nên giao cho Lê Ngộ Châu làm chủ biên, cho đến năm 1975 cứ mỗi tháng đều đều ra hai số.
“Bác Thành tham gia ít hơn, nhưng cũng viết một số bài và có dạy tiếng Anh ở trường Bách khoa bình dân đó. Mình đã dạy hồi nào đâu, cho nên vào dạy thì hết sức là chi tiết, dạy người ta cách phát âm từng li từng tí. Dạy mới được hai tuần mình xỉu luôn, hết sức, không nói nổi nữa, nghỉ nằm ở nhà. Thế là học sinh, lớn có, nhỏ có, cả lớp tổ chức tới tận nhà thăm, vui lắm! Bác Thành không dạy nhiều, không biết cách dạy nên không giữ được sức.
Trường Bách khoa bình dân là một sự nghiệp cực kì lớn, sau này được tổ chức quy củ, được nhiều tổ chức quốc tế giúp, như Ủy ban Cứu trợ quốc tế International Rescue Committee (IRC), quỹ Asia Foundation của Chính phủ Mĩ, rồi Ford Foundation, Rockerfeller Foundation... Có những người vô gia cư, vô sự nghiệp, từ ngôi trường ấy đã trở thành những chuyên gia, danh nhân thành đạt hàng đầu tại Sài Gòn. Nhớ năm 1991, 1992, bác về Việt Nam, mấy ảnh nghe tin thì tìm tới thăm, nói em hồi trước có học trường của thầy đó. Làm văn hóa bình dân luôn là một việc tuyệt đối hệ trọng và vĩ đại trong mọi thời kì.” Ánh mắt Bùi Kiến Thành ánh lên vẻ hãnh diện và tự hào.
“Bác ơi, cháu muốn bác kể thêm về mấy cô tiểu thư nhà ông Đức Âm... được không bác?”
“Mấy cô tiểu thư họ Bảo... Tám cô con gái là Bảo Khánh, Bảo An, Bảo Yến, Bảo Anh, Bảo Nga, Bảo Vân, Bảo Khanh, Bảo Toàn với cô Bảo Thư là cô của mấy cô kia, tức là em ông Đức Âm. Ổng di cư vào Nam với tám người con gái, hai người con trai. Cô chị cả tên Bảo Khánh, giúp trường Bách khoa bình dân rất nhiều, sau thành vợ anh Lang. Trường Bách khoa là nơi gặp gỡ ban đầu của nhiều cặp vợ chồng lắm, từ chỗ làm việc xã hội với nhau rồi gặp nhau… Ngoài cô Bảo Khánh ra thì có Bảo An, Bảo Yến, Bảo Anh, Bảo Vân… cần cái gì là xắn áo, huy động cả bà con họ hàng tới giúp luôn. Khi đó bác Thành có vợ rồi nhưng mấy cổ vẫn thương mình lắm, toàn chọc tức cho bà vợ mình ghen tuông tùm lum. Mấy cô nói anh Thành ơi bữa nào rảnh thì đi chơi, mình bảo ừ, rồi mình đón qua Thủ Đức, ra ngoại ô uống nước dừa rồi về. Có hôm đang ngồi chơi ở nhà mấy cổ, bà xã đùng đùng tới thì mấy cổ đem nhốt bác Thành vào tủ, bà xã lục tung lên không thấy bác Thành đâu...”
Những kỷ niệm thật tuyệt vời, niềm vui và nụ cười xen giữa những ngày tháng Sài Gòn đầy biến động.