Chẳng có chút rắc rối nào với Casey—ông ta đã quá đỗi vui mừng khi nhận chở họ. Và vào khoảng giữa trưa ngày hôm sau, họ đã cập bến thủ đô cổ kính, hoàn tất một chuyến đi nhanh chóng và êm xả từ Hampton.
Đó là tiết trời tháng Mười trong lành, rực rỡ, cái thời điểm mà cái nắng muộn của mùa hạ dường như vẫn còn quyến luyến chẳng muốn rời đi chỉ vì quá yêu nếp sống nơi này, và toàn bộ thiên nhiên đều hòa cùng một nhịp. Tòa Nhà Hội Đồng Bang—nơi Washington từng nộp đơn từ chức—với những đường nét thanh thoát và mái vòm màu trắng uy nghi, khi nhìn từ phía Vịnh (nơi mà công trình quái đản mới được xây thêm đằng sau trong những năm gần đây không thể nhìn thấy) hiện lên thật rõ nét dưới ánh nắng mặt trời, sừng sững tọa lạc phía trên thị trấn đang thong dong ngái ngủ đầy hãnh tiến dưới bóng râm của nó. Một vài dinh thự cổ kính nằm phía trên dòng Spa, được trông thấy trước khi họ bước lên bờ, cùng lời hứa hẹn về những căn nhà khác đang ẩn mình giữa các vòm cây cao hơn, như đang kể lại câu chuyện về một Thời Đã Qua—một thành phố đã đi vào quá khứ.
“Mũi Greenberry ở đâu?” Macloud đột nhiên lên tiếng hỏi.
“Phía kia kìa, thưa ngài, ở bên kia sông Severn—dải đất nhô ra ngoài Vịnh đấy.”
“Giả thuyết đầu tiên xem như toi công!” gắt nhẹ khi nhìn Croyden. “Chẳng có lấy một căn nhà nào trong tầm mắt—ngoại trừ ngọn hải đăng, mà đó lại là loại đèn tiểu đăng.”
“Không có nhà cửa—nhưng còn cây cối thì sao?” Croyden đáp lại. “Hình như nơi đó khá thấp,” anh nói với người lái tàu; “nó có bao giờ bị ngập nước không?”
“Tôi nghĩ là không, thưa ngài—nước sông chỉ đang gặm nhấm nó từng chút một mà thôi.”
Croyden gật đầu rồi quay mặt về phía thị trấn.
“Tòa nhà bằng đá màu trắng đồ sộ đằng kia là gì thế?” anh hỏi.
“Học viện Hải quân—đó chỉ là một trong các tòa nhà thôi, thưa ngài, Tòa nhà Bancroft. Toàn bộ Học viện chiếm cả một dải đất rộng lớn dọc theo sông Severn.”
Họ lên bờ tại bến tàu ở cuối Phố Chợ và hỏi đường đến Carvel Hall—đó là khách sạn mà Dick đã khuyên nên ở. Họ được chỉ đường đi lên ngõ Wayman—một trong vô số những con hẻm rộng chừng một mét nối liền các con phố, vốn xuất hiện rất nhiều trong thị trấn—để đến Phố Prince George, rồi rẽ về hướng bắc đi tiếp một dãy nhà, ngang qua căn nhà Brice từng một thời lộng lẫy nay đang dần sụp đổ, họ đã đến khách sạn: tòa nhà chính làm bằng gạch Kiểu Anh với hai dãy nhà phụ hai bên, và một tòa nhà khách sạn hiện đại được nối thêm phía sau.
“Khá là cuốn hút đấy chứ!” Macloud nhận xét khi họ bước lên các bậc thang dẫn vào hiên gạch rồi đi vào bên trong khách sạn. “Đây chẳng phải là một dinh thự cổ sao?” anh hỏi người lễ tân đứng sau bàn làm việc.
“Vâng, thưa ngài! Đó là dinh thự của William Paca (người từng ký Tuyên ngôn Độc lập), nhưng nó từng được dùng làm nhà của Dorothy Manners trong cuốn Richard Carvel, và từ đó mới có cái tên này, thưa ngài: Carvel Hall. Chúng tôi có rất nhiều căn nhà đẹp ở đây: Nhà Chase—ông ấy cũng là một người ký Tuyên ngôn; Nhà Harwood, được cho là một trong những mẫu kiến trúc Thời Kỳ Thuộc Địa hoàn hảo nhất ở Mỹ; Nhà Scott, nằm trên dòng Spa; Nhà Brice, ngay bên cạnh; Tòa nhà McDowell, cổ hơn bất kỳ nhà nào trong số đó, từng bị hỏa hoạn thiêu rụi vào năm ngoái nhưng đã được khôi phục; dinh thự Ogle—tôi nghĩ ông ấy là Thống đốc vào những năm 1740. Ồ! Nơi này từng là Paris của châu Mỹ trước và trong thời Kỳ Cách mạng đấy. Chà, thưa ngài, tải lượng của Cảng Annapolis vào năm 1770 còn lớn hơn tải lượng của Cảng Baltimore ngày nay nữa cơ.”
“Thật thú vị!” Macloud nói. “Thật sự rất thú vị. Thế chuyện gì đã xảy ra với nó kể từ năm 1770?”
“Chẳng có gì cả, thưa ngài—đó mới là vấn đề, nó tiến triển thụt lùi—và Baltimore đã thế chỗ của nó.”
“Tôi hiểu rồi!” Macloud cười nói. “Mấy giờ thì có bữa trưa?”
“Đang được phục vụ rồi đấy ạ, thưa ngài—từ mười hai giờ rưỡi đến hai giờ.”
“Làm ơn đặt giúp một đôi ngựa cưỡi và cho chúng chờ ở đây lúc một giờ rưỡi nhé.”
“Khách sạn không có dịch vụ cho thuê ngựa, thưa ngài, nhưng tôi sẽ cố hết sức. Ở đây không có dịch vụ cho thuê ngựa cưỡi chuyên dụng, nhưng chúng tôi sẽ lấy cho quý ngài một đôi 'Ngựa Tốt Nhất của Cheney'—đôi khi người ta vẫn cưỡi chúng. Tuy nhiên, nếu cho phép tôi đưa ra lời khuyên, ngài nên đi xe ngựa thì hơn.”
Croyden liếc nhìn Macloud.
“Không!—chúng tôi sẽ thử đi ngựa,” anh nói.
Họ đã quyết định sẽ cưỡi ngựa vì những lý do mà Macloud đưa ra: họ có thể đi bằng ngựa đến những nơi xe không thể vào, và họ cũng ít gây chú ý hơn. Lý do đầu tiên thuyết phục được Croyden, dù lý do thứ hai thì không hẳn.
Macloud đã mượn một bộ quần quần cưỡi ngựa và quấn xà cạp phụ từ anh bạn của mình, và đến giờ đã hẹn, hai người đi qua khu vực sảnh văn phòng.
“Ngựa đã chờ sẵn rồi thưa ngài!” người lễ tân thông báo với họ.
Hai chú chú gầy dơ xương đang giữ hai con ngựa gầy giơ xương, trông chúng giống ngựa cưỡi cũng chẳng khác nào một tượng gỗ tiệm thuốc lá giống một bản sonata. Croyden nhìn chúng với sự chán chường không hề giấu giếm.
“Nếu đây là loại Tốt Nhất của Cheney,” anh nhận xét, “thì chúa ơi, loại tồi nhất của ông ta trông như thế nào cơ chứ?”
“Đi nào!” Macloud vừa nói vừa điều chỉnh bàn đạp chân. “Lên ngựa thôi và cứ để việc đá hậu cho mấy con ngựa, biết đâu chúng lại tốt hơn vẻ bề ngoài. Cho hỏi người ta băng qua sông Severn ở đâu thế?” anh hỏi một người đàn ông đi ngang qua.
“Đi thẳng lên bãi cỏ Trường Đại học,” người đó chỉ tay đáp; “sau đó rẽ phải một dãy nhà đến Phố King George, rồi đi tiếp ra ngoài, băng qua Lạch College, đến Doanh trại Thủy quân Lục chiến. Con đường phân nhánh ở đó; các vị rẽ phải; và cây cầu nằm ở chân đồi.”
Họ cảm ơn ông ta rồi cưỡi ngựa đi.
“Ông ta nên viết sách hướng dẫn du lịch thì hơn,” Croyden nói.
“Sao anh biết ông ấy chưa viết?” Macloud vặn lại. “Đường lát đá đẹp thật đấy,—nhưng hơi cứng để cưỡi ngựa.”
“Và còn hơi bẩn nữa,” Croyden nói thêm. “Con ngựa của tôi cũng không đến nỗi—còn của anh thế nào?”
“Cũng tạm!—Đây chắc là Học viện Hải quân rồi,” anh nói khi họ đi dọc theo một bức tường gạch cao—“Đằng kia là Doanh trại—Lính Thủy quân Lục chiến đang tập trận ở phía trước.”
Họ phi ngựa lách lách qua con lạch, đi vòng qua khu nhà của đám sĩ quan trẻ, và nhìn thấy bên dưới họ là chiếc cầu rộng dài gần nửa dặm bắc ngang qua sông Severn. Nhịp cầu cất đang mở để cho một chiếc canô máy đi qua, nhưng nó đã hạ xuống trước khi họ tới nơi.
“Cảnh ở đây đẹp tuyệt vời!” Macloud thốt lên, ghì sào ngựa lại ở giữa cầu. “Hãy nhìn vách đá cao ở bờ bên kia kìa, một bên nhìn ngược lên dòng sông, một bên nhìn xuống Vịnh và trải rộng sang tận bờ bên kia.... Giờ thì,” anh nói khi họ đi vòng lên đồi, “rẽ vào con đường đầu tiên bên phải.”
“Đường này trông chẳng có vẻ gì hứa hẹn cả!” Croyden bật cười khi con đường đột ngột ngoặt về phía tây và đi thẳng ra xa Mũi Greenberry.
“Chúng ta hãy đi xa thêm chút nữa,” Macloud nói. “Chắc chắn phải có một lối đi—một lối nhỏ cho ngựa, nếu không có gì tốt hơn—và nếu bắt buộc, chúng ta có thể đâm xuyên qua rừng cây; ở đây dường như chẳng có hàng rào nào cả. Anh thấy đấy, quyết định cưỡi ngựa là hoàn toàn đúng đắn.”
“Anh đúng là một con cú già khôn ngoan!” Croyden đáp lại.
“À!—đường của chúng ta đây rồi!” khi một con đường bất ngờ tách ra bên phải, đâm vào giữa các vòm cây và hướng ngay về phía đông. “Đi thôi, bạn tôi!”
Chẳng bao lâu sau, họ bị giật mình bởi một chuỗi tiếng nổ lớn cách đó không xa phía trước.
“Chúng ta đang đi vào đâu thế này?” Macloud thốt lên, vội vã ghì chặt sào ngựa.
“Parmenter đang bảo vệ kho báu của ông ta đấy!” Croyden nói với vẻ nghiêm trọng giả tạo. “Ông ta đang cảnh cáo chúng ta cút đi.”
“Thế thì cảnh cáo từ xa quá nhỉ! Chúng ta chắc phải cách Mũi đất hơn một dặm đấy. Tôi nghĩ có ai đó đang mìn phá đá.”
“Tiếng nổ không giống như bị giảm âm cho lắm,” Croyden trả lời.
Họ chờ đợi vài phút: không nghe thấy tiếng động nào nữa, họ tiếp tục đi—tuy nhiên có phần thận trọng hơn. Đi thêm một đoạn ngắn nữa, họ gặp một người thợ đốn gỗ.
“Ông ta trông chẳng có vẻ gì là hoảng sợ cả,” Croyden quan sát. “Mấy tiếng nổ vừa rồi là gì thế bác?” anh gọi với sang.
“Chẳng có gì đâu,” người đàn ông vừa nói vừa tựa vào chiếc rìu. “Hải quân có một trạm thử nghiệm qua phía bên này. Họ đang thử mấy thứ đồ. Mấy chú không cần phải sợ. Nếu đi đến trạm, thì chỉ còn một đoạn ngắn nữa thôi,” ông ta nói thêm với sự tò mò đặc trưng của người vùng quê—nhưng hai người không hề giải đáp sự tò mò đó.
Họ đi qua các tòa nhà của Trạm Thử Nghiệm và tiếp tục tiến bước giữa những hàng thông, thùa, dẻ và thùy dương. Họ đang đi song song với sông Severn và không xa lắm, như những thoáng nhìn thấy làn nước xanh thẳm qua kẽ lá đã hé lộ. Rừng cây thưa dần. Dòng sông hiện ra rõ ràng hơn với bản thân Vịnh đang lấp lánh ở phía trước. Rồi hàng cây đột ngột chấm dứt, và họ bước ra Mũi Greenberry: một dải đất dài, bằng phẳng, hình tam giác, chiều rộng phần đáy khoảng hai trăm thước, và từ đáy đến đỉnh mũi khoảng ba trăm thước.
Hai người dừng ngựa và nhìn quanh.
“Đâu đó quanh đây, có khi ngay tại chỗ con ngựa của anh đang đứng, chính là kho báu đấy,” Macloud nói. “Anh không cảm nhận được sự hiện diện của nó sao?”
“Không, tôi chẳng cảm thấy gì cả!” Croyden cười lớn, “và đó có vẻ là cơ hội duy nhất của tôi, vì tôi chẳng thấy một dấu vết nào của những cây tạo thành hình vuông cả.”
“Đừng nản lòng!” Macloud nhắc nhở. “Nên nhớ, anh đâu có trông đợi mọi thứ được đánh dấu sẵn cho mình chứ.”
“Đúng, tôi không nghĩ vậy! Nhưng tôi tưởng anh nghĩ thế.”
“Đó chỉ là để xốc lại tinh thần cho anh thôi. Tôi còn lường trước những điều kiện bất lợi hơn thế nhiều. Mọi chuyện dễ dàng hơn tôi tưởng tượng rất nhiều đấy.”
“Trời ơi! Chúng ta không thể đào sâu sáu bộ trên toàn bộ diện tích bốn mươi mẫu Anh được. Chúng ta sẽ kéo cả cái thị trấn Annapolis này sang giúp mất trước khi đào xong một ô vuông rộng bốn mươi bộ.”
“Anh hào phóng quá đấy!” Macloud cười. “Hai mươi bộ là quá đủ rồi.” Rồi anh trở nên nghiêm túc. “Chỉ dẫn có ghi: lùi lại bảy trăm mười lăm bộ từ đỉnh ngoài cùng của Mũi Greenberry là tứ giác cây. Đó là vào năm 1720, một trăm chín mươi năm trước. Lúc đó chúng chắc hẳn đã rất lớn rồi—do đó, bây giờ chúng phải lớn hơn nhiều, hoặc đã biến mất hoàn toàn. Chẳng có một cái cây nào có thể tương ứng với cây của Parmenter trong khoảng cách gần hơn bốn trăm thước, và vì mũi đất sẽ thu hẹp lại chứ không rộng ra, chúng ta có thể giả định với độ chắc chắn tương đối rằng những cây dẻ đã biến mất—do bị mục nát hoặc do những trận bão gió lớn rất gay gắt ở dải đất trống trải này. Do đó, chẳng phải nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là tìm kiếm vết tích của những cây đó sao?”
“Nghe có vẻ hợp lý đấy,” Croyden nói, “và nếu mũi đất đã thu hẹp lại, điều vốn rất có khả năng xảy ra, thì chúng ta đang ở khá gần vị trí đó rồi.”
“Đúng thế!—Nếu mũi đất chỉ đơn thuần thu hẹp lại, nhưng nếu nó còn dịch chuyển sang hai bên nữa thì bài toán sẽ không đơn giản như vậy.”
“Chúng ta hãy ra ngoài Mũi đất và nhìn vào tàn tích của ngọn hải đăng xem. Nếu chúng ta có thể tiếp cận đủ gần để xác định thời điểm nó được xây dựng, điều đó có thể giúp ích cho chúng ta. Rõ ràng là vào thời của Parmenter chưa có ngọn hải đăng nào được dựng lên ở đây, nếu không ông ta đã không chọn nơi này để giấu kho báu.”
Nhưng ngọn hải đăng lại là một đầu manh mút trắng tay. Đó chỉ là một đống tàn tích đổ nát nằm ngoài mặt nước chừng năm mươi bộ—ngọn hải đăng thực sự là một ngọn đèn tiểu đăng nằm xa hơn ngoài Vịnh.
“Chà, chẳng có ai nhìn thấy chúng ta cả, vậy tại sao chúng ta không thử tìm kiếm những cây đó nhỉ?” Croyden nói.
“Giữ ngựa giúp tôi!” Macloud vừa nói vừa xuống ngựa.
Anh đi ra mép ngoài cùng, quay mặt lại, lấy một đường vuông góc với mép đất và bước đi hai trăm mười bước. Anh dừng lại trên cát—và trong năm mươi bước nữa, vẫn là cát—cát trống trải chẳng có gì ngoài vài bụi cây thấp mọc rải rác đây đó.
“Đâu đó quanh đây, theo điều kiện hiện tại, đáng lẽ phải là vị trí của những cây đó,” anh nói.
“Không có vẻ hứa hẹn lắm,” Croyden nhận xét.
“Hãy giả định rằng các đường chéo nối giữa các cây cắt nhau tại điểm này,” Macloud tiếp tục, lấy ra một chiếc la bàn. “Sau đó, một trăm mười bước về hướng Bắc-Bắc-Đông chính là vị trí chúng ta cần tìm.”
Anh cẩn thận bước từng bước—Croyden dắt ngựa theo sau—và nhấn gót chân xuống cát bên cạnh một bụi cỏ dại.
“Kho báu của tên cướp biển già nằm ở đây này!” anh thốt lên đầy kịch tính.
“Chúng ta đào ngay bây giờ chứ?” Croyden bật cười.
ANH ĐI RA MÉP NGOÀI CÙNG, QUAY MẶT LẠI, VÀ BƯỚC ĐI HAI TRĂM NĂM MƯƠI BƯỚC

“Anh đào đi—tôi sẽ giữ ngựa; tay anh chai sạn hơn tay tôi.”
“Tôi thắc mắc không biết ai là chủ sở hữu mảnh đất này nhỉ?” Croyden đột ngột hỏi.
“Chúng ta có thể tìm hiểu rất dễ dàng. Ý anh là anh muốn tìm cách mua lại nó sao?”
“Đúng vậy, trên danh nghĩa là mua đất để xây nhà. Tôi có thể mua một lô đất bắt đầu từ khoảng một trăm mươi thước lùi lại từ Mũi đất, và kéo dài với chiều rộng đều đặn hai trăm thước từ sông Severn ra Vịnh. Như thế chắc chắn sẽ bao gồm cả vị trí kho báu.”
“Ý kiến hay đấy!” Macloud đồng tình.
“Nếu chủ sở hữu hiện tại chịu bán,” Croyden nói thêm—“và nếu giá của ông ta không quá vô lý. Anh biết đấy, tôi không thể bỏ ra quá nhiều chi phí đâu.”
“Đừng lo về chi phí—chuyện đó có thể xếp thu xếp được. Nếu ông ta chịu bán, phần còn lại sẽ rất dễ dàng. Tôi rất sẵn lòng ứng trước cho anh.”
“Và chúng ta sẽ chia đôi đều nhau chứ,” Croyden nói.
“Vớ vẩn!” Macloud trả lời. “Tôi có nhiều tiền hơn mức tôi cần, hãy để tôi tiêu bớt một ít vào niềm vui đi, Croyden. Và chuyện này hứa hẹn mang lại nhiều niềm vui hơn những gì tôi có trong cả năm qua—săn tìm kho báu bị chôn giấu ngay trong tầm mắt của thủ đô Maryland. Hơn nữa, nó cũng không vượt quá khả năng tài chính của anh đâu, mảnh đất này chắc không đắt giá đến thế đâu.” Anh leo lại lên ngựa. “Chúng ta hãy cưỡi ngựa đi dạo quanh khu đất định mua xem sao—biết đâu lại phát hiện ra điều gì đó.”
Tuy nhiên, dù họ đã tìm kiếm suốt một giờ đồng hồ, họ vẫn hoàn toàn thất bại. Bốn cây dẻ đã biến mất hoàn toàn như thể chúng chưa từng tồn tại.
“Dù vậy, tôi hoàn toàn tin tưởng,” Macloud nhận xét khi họ quay ngựa trở về thị trấn, “rằng đâu đó trong ranh giới lô đất anh định mua có giấu những món trang sức của Parmenter. Giờ thì tiến hành vụ mua đất thôi. Một khi anh có quyền sở hữu nó, anh có thể cày xới toàn bộ khu đất lên đến bất kỳ độ sâu nào anh muốn mà chẳng ai có thể ngăn cản anh.”
“Tôi không chắc lắm,” Croyden trả lời. “Thực tế là tôi biết kho báu nằm trên đó khi mua có thể khiến tôi phải chịu trách nhiệm giải trình với người bán.”
“Nhưng anh đâu có biết chắc!” Macloud phản đối.
“Tuy nhiên tôi có mọi lý do để tin—lá thư miêu tả vô cùng cụ thể.”
“Giả sử sau khi anh trả một khoản tiền lớn cho mảnh đất mà anh lại không tìm thấy kho báu, anh có thể bắt ông ta nhận lại đất và hoàn tiền lại cho anh không?”
“Không, chắc chắn là không rồi,” Croyden mỉm cười.
“Lý lẽ kỳ quặc thật! Anh phải giải trình về những gì anh tìm thấy—còn nếu không tìm thấy, anh vẫn phải giữ lại mảnh đất. Dù thế nào thì người kia cũng thắng.”
“Lý lẽ đó dựa trên giả định rằng tôi đã cố tình lừa dối ông ta để mua một thứ có giá trị với giá rẻ mấn. Dù sao thì tôi cũng không rõ lắm về chuyện này; cứ mua nếu chúng ta có thể—và chấp nhận rủi ro. Nhưng chúng ta sẽ không rầm rộ tiến hành đâu, anh bạn ạ.”
Trên đỉnh đồi, phía bên kia sông Severn, có một con đường rẽ sang bên trái.
“Con đường này đi song song với con đường qua Doanh trại Thủy quân Lục chiến, hay là chúng ta rẽ vào đây đi,” Macloud nói. “Nó có lẽ đi xuyên qua khuôn viên Học viện.”
Đi thêm một đoạn ngắn, họ đi qua một nơi rõ ràng là một bệnh viện lớn, với lá quốc kỳ Mỹ đang tung bay phía trên. Ngay bên cạnh, chiếm giữ mũi đất nơi Lạch College đổ vào sông Severn, là Nghĩa trang Hải quân.
“Rất phù hợp!” Croyden cười lớn. “Họ đặt nơi an nghỉ ngay bên cạnh bệnh viện thật là tiện lợi. Cái quái gì đằng kia thế?” anh hỏi, chỉ vào một mái vòm khổng lồ, trang trí phô trương một cách kỳ dị với hai màu vàng và trắng, nhô lên phía trên các vòm cây ở phía trước một khoảng cách.
“Tôi chịu!” Macloud nói. “Trừ khi đó là món bánh pudding kem trứng cho bữa tối của các Học viên Hải quân. Trông kinh khủng thật đấy, phải không! Ồ! Tôi nhớ ra rồi: Chính phủ đã chi hàng triệu đô la để xây dựng các tòa nhà Học viện mới; và có ai đó trong Hải quân từng nhận xét, 'Nếu một gã nào đó bắt buộc phải giết người, ông ta không hiểu sao gã đó lại không chọn kẻ chịu trách nhiệm cho những tòa nhà này—công trình của hắn ở Annapolis đã là lý do quá đủ rồi.' Nhìn vào kiệt tác quái đản phía trước chúng ta đây, viên sĩ quan đó quả là không nói quá chút nào.”
Họ đi theo con đường dọc theo khu gia đình sĩ quan trên Dãy Upshur, và đi ra bằng cổng trên để vào Phố King George, nhờ đó bỏ qua Nhà nguyện (với mái vòm kem trứng) và tất cả các tòa nhà khác của Smith.
“Chúng ta có thể quay lại ngắm chúng sau!” Croyden nói. “Đại lý bất động sản bây giờ quan trọng hơn.”
Đó là khoảng thời gian vắng vẻ khi họ trở lại khách sạn, người lễ tân đang đứng ngoài cửa sưởi nắng.
“Các ngài có chuyến đi chơi vui vẻ chứ?” anh ta hỏi.
“Cũng không tệ,” Croyden đáp lại. Rồi anh dừng lại. “Anh có thể cho tôi biết ai là chủ sở hữu Mũi Greenberry không?”
“Vâng, thưa ngài! Chính phủ sở hữu nó—họ đã mua lại nó để làm Trường bắn.”
“Toàn bộ mảnh đất sao?”
“Vâng, thưa ngài!—từ Mũi đất kéo dài đến tận Trạm Thử Nghiệm.”
Croyden cảm ơn anh ta rồi đi tiếp.
“Thế là hết kế hoạch mua đất!” anh nói. “Tôi đã nghĩ chuyện đó quá tốt để có thể thành hiện thực rồi.”
“Nó đã bị dội một gáo nước lạnh quá sớm,” Macloud đồng tình. “Và câu hỏi là, giờ phải làm gì đây? Liệu người lễ tân có nhầm lẫn không?”
Macloud lắc đầu. “Không có khả năng đó đâu. Quyền sở hữu đất đai ở một thị trấn nhỏ ai cũng biết rõ, đặc biệt là khi thuộc về Chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, rất dễ để xác minh—chúng ta sẽ tìm một văn phòng bất động sản—họ sẽ biết.”
Nhưng khi họ đã thay đồ xong và tìm đến một văn phòng bất động sản, sự nghi ngờ cuối cùng cũng tan biến: họ xác nhận lời của người lễ tân.
“Nếu anh không có việc gì đặc biệt gấp gáp,” Macloud nói, “tôi đề xuất chúng ta ở lại đây vài ngày và cân nhắc xem nên làm gì là tốt nhất.”
“Công việc gấp gáp nhất của tôi là tìm thấy kho báu!” Croyden cười lớn.
“Tốt! Vậy chúng ta sẽ tiếp tục nhiệm vụ cho đến khi tìm thấy nó—dù có mất một năm hay lâu hơn.” Và khi Croyden nhìn anh với vẻ ngạc nhiên: “Tôi chẳng có việc gì làm cả, anh bạn ạ, và người ta đâu có cơ hội đi săn tìm kho báu nhiều hơn một lần trong đời đâu. Hãy hình dung sự hài lòng của chúng ta khi nghe tiếng cuốc đập vào chiếc hộp sắt, nhìn thấy nắp hộp được mở ra, và những món trang sức lấp lánh hiện ra trước mắt.”
“Nhưng nếu chẳng có sự lấp lánh nào—từ đó hay đấy, anh bạn—và cũng chẳng có chiếc hộp sắt nào thì sao?”
“Đừng bi quan thế—hãy nghĩ rằng chúng ta sẽ tìm thấy nó, điều đó sẽ giúp ích rất nhiều đấy.”
“Thế nếu chúng ta không tìm thấy thì sao?”
“Thì ít nhất chúng ta cũng đã có một khoảng thời gian vui vẻ khi tìm kiếm, và đã cố gắng hết sức để thành công.”
“Thật là một điều mới mẻ khi nghe Macloud hoài nghi ngày nào lại đi truyền bá chủ nghĩa lạc quan!” Croyden cười lớn—“cuộc trò chuyện gần đây nhất của chúng ta ở Northumberland đâu có đi theo hướng đó, anh còn nhớ chứ.”
“Cuộc trò chuyện của chúng ta ở Northumberland là về những người khác và hoàn cảnh khác. Đây là một cuộc phiêu lưu, và hoàn toàn chỉ liên quan đến bản thân chúng ta. Khác nhau đấy, Croyden thân mến của tôi, hoàn toàn khác nhau! Anh thấy sao nếu ngày mai chúng ta ăn sáng sớm, rồi đi bộ sang Mũi đất? Nơi đó cũng giống như Bờ Đông của anh vậy,—chỉ cần qua sông bằng đường thủy, nhưng phải đi vòng ba dặm qua cầu Severn. Chúng ta có thể dành cả ngày để thăm dò.”
“Tôi nghe theo lệnh của anh,” Croyden nói. “Anh là người chỉ huy chuyến đi này.”
Họ vừa đi ngang qua nhiều sĩ quan hải quân mặc quân phục, một số người phong thái rất chỉnh tề, một số lại luộm thuộm.
“Bộ quân phục đúng là làm lộ rõ bản chất con người thật,” Macloud nói. “Hãy nhìn hai người kia chẳng hạn—dựa vào các vạch trên tay áo, một Thiếu tá Hải quân và một Đại úy Hải quân. Anh đã bao giờ nhìn thấy một kẻ du côn thực sự ở khu Bowery chưa?—họ thuộc cùng một tầng lớp đó, chỉ có điều có đủ chút vẻ bề ngoài để đánh lừa người ta trong giây lát. Đằng kia là hai người khác ở phía đối diện. Họ trông giống như những người lính thực sự. Hãy quan sát sự uy nghi, bước đi nhanh nhẹn, và khí chất chỉ huy vốn có.”
“Đó chẳng phải là lỗi của hệ thống sao?” Croyden hỏi. “Mỗi Nghị sĩ đều tổ chức một kỳ thi cạnh tranh trong khu vực bầu cử của mình; và suất bổ nhiệm sẽ thuộc về người chiến thắng—dù hắn ta là ai đi nữa. Vì lý do đó, tôi dám cá rằng Đoàn Học viên Hải quân chứa đựng cả những kẻ thô bỉ lẫn những quý ông—và các sĩ quan chỉ là những học viên hải quân đã trưởng thành hơn mà thôi.”
“Đúng vậy! Và điều đó thật sai lầm—hoàn toàn sai lầm! Để trở thành một sĩ quan được bổ nhiệm, trong cả Lục quân lẫn Hải quân, phải chứng minh được xuất thân quý phái của một người.”
“Ít nhất thì điều đó cũng tạo ra một sự suy đoán có lợi cho họ.”
“Suy đoán ư! Anh có nghĩ hai người vừa đi qua chúng ta có thể trốn đằng sau sự suy đoán đó lâu hơn một phần nhỏ của giây không?”
“Đừng kích động thế, anh bạn! Tôi đang giải thích cho chuyện đó chứ không phải bào chữa cho nó. Tất nhiên đó là một điều đáng tiếc, nhưng đó là một trong những bất hạnh của một Nền Cộng hòa nơi mọi người đều bình đẳng.”
“Vớ vẩn! Thật là vớ vẩn!” Macloud thốt lên. “Con người đâu có bình đẳng!—họ sinh ra ở các tầng lớp xã hội khác nhau, trí tuệ khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau. Vì mục đích bầu cử, theo thuyết chính phủ của chúng ta, họ có thể bình đẳng—nhưng chúng ta vẫn chưa chứng minh được điều đó. Chúng ta loại trừ người Nhật và người Trung Quốc. Chúng ta mới chỉ đưa người da đen vào trong thế hệ còn sống này—và bây giờ rõ ràng là chúng ta đã phạm phải một sai lầm khủng kíp khi làm điều đó. Bình đẳng! Bình đẳng! Không bao giờ có chuyện đó trên đời này đâu!”
“Thế còn ở thế giới bên kia thì sao?” Croyden hỏi.
“Tôi không biết!” Macloud cười lớn khi họ bước lên các bậc thang của khách sạn. “Về phần mình, tôi ủng hộ Thiên đường của người Hồi giáo và các Nữ thần hầu hạ những người Trung thành. Và nhân tiện nói về các nữ thần!—hãy nhìn xem ai đang ở đây này!”
Croyden ngước mắt lên—và nhìn thấy Elaine Cavendish cùng Charlotte Brundage đang đứng ở cửa ra vào.