Bản Lĩnh Của Riêng Nàng

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Parmenter’s Bequest

❊ ❊ ❊

Dưới sự dẫn đường của Dick và sự tiền trạm mở cửa sổ của lão Mose, Croyden đi thăm khắp một lượt ngôi nhà, lên tận cả tầng gác mái.

Cũng giống như tầng dưới, gác mái sạch sẽ không một vết bụi. Josephine đã quán xuyến mọi thứ tươm tất như thể chính Quan trung tá vẫn còn hiện diện nơi đây. Ga trải giường, vỏ chăn, chăn bông đều được xếp gọn gàng trong các rương gỗ; khăn trải bàn cùng đồ sứ được cất cẩn thận trong các ngăn kéo và tủ đồ. Chẳng có món nào là đồ mới—gần như toàn bộ đồ đạc đều có từ trước năm 1830, nhiều món thậm chí từ năm 1800—ngoại trừ vài tấm thảm dệt Phương Đông cổ điểm xuyết đây đó, làm bớt đi vẻ trống trải của sàn gỗ cứng.

Sự nhượng bộ duy nhất dành cho thời hiện đại là một phòng tắm, nhưng chiếc bồn tắm bằng tôn cùng bồn rửa mặt bằng sắt sơn, với đường ống nước được che giấu sau lớp ốp chân tường, lại tiếc thay tố cáo niên đại đã khá xưa cũ của nó. Trong thoáng chốc, Croyden so sánh nơi này với vòi tắm hoa sen, đồ sứ và gạch men ở căn hộ của anh tại Northumberland, rồi không khỏi khẽ rùng mình. Anh nghĩ, đây sẽ là điều khó thích nghi nhất. Anh vẫn chưa hề biết đến sự cô quạnh của những buổi tối mùa đông dài đằng đẵng, khi tuyệt nhiên chẳng có việc gì làm, chẳng có nơi nào để đi—và cũng chẳng có ai thấu hiểu.

Cuối cùng, khi họ chuẩn bị quay trở lại tầng dưới thì lão Mose đã biến mất từ lúc nào.

“Chắc lão lại đi báo với vợ là cậu chủ mới đã đến rồi,” Dick nói. “Chúng ta ra bếp xem sao.”

Vào đến nơi, họ thấy bà lão đang tất bật nhóm bếp, đầu quấn khăn bandana, tay áo xắn cao đến tận vai. Nghe tiếng chân bước vào, bà quay lại rồi cúi người chào theo kiểu cổ xưa.

“Josephine!” Dick gọi. “Đây là cậu Croyden, cậu chủ mới. Bà có thể nấu ăn cho cậu ấy ngon như từng nấu cho Trung tá Duval không?”

“Bề trên phù hộ cậu chủ,” bà lão vừa nói vừa nhún gối chào Croyden lần nữa, rồi quay sang người đại lý: “Thầy Dick hỏi tôi có biết nấu ăn không ư! Tôi mà lại không biết nấu sao? Chắc chắn là biết chứ. Đừng tưởng con mụ da đen này đã quên nghề—cậu Croyden cứ đợi đấy, tôi sẽ làm cho cậu thấy thật sự—chỉ xin cho tôi chút thời gian để quen tay lại thôi, thưa cậu.”

“Bà sẽ không cần nhiều thời gian đâu,” Dick nhận xét. “Trung tá từng đánh giá bà ấy rất cao đấy, thưa ngài, cực kỳ hài lòng là đằng khác. Mà ngài ấy lại là một người rất sành ăn.”

“Ôi, chúng tôi sẽ hòa hợp thôi,” Croyden mỉm cười với Josephine. “Nếu bà đã làm vừa lòng Trung tá Duval thì chắc chắn sẽ thừa sức làm tôi hài lòng.”

“Cảm ơn cậu chủ!” bà lão vừa nhún người vừa đáp. “Tôi nhất định sẽ cố hết sức, thưa cậu.”

“Ngài đã bao giờ có kinh nghiệm sử dụng gia nhân người da đen chưa?” Dick hỏi khi họ quay trở lại phòng sách.

“Chưa,” Croyden trả lời. “Tôi toàn sống ở câu lạc bộ.”

“Chà, Mose và vợ lão thuộc về thế hệ cũ—ngài có thể hoàn toàn tin tưởng họ. Nhưng có một điều ngài cần nhớ, thưa ngài: họ chẳng khác nào những đứa trẻ xác lớn, và ngài phải răn dạy họ theo cách đó. Họ không biết thế nào là vô lễ đâu, thưa ngài; họ có những khuyết điểm riêng, nhưng lúc nào cũng giữ lễ kính trọng.”

“Tôi có thể giao cho họ lo việc mua sắm nhu yếu phẩm được không?”

“Tôi nghĩ là được, thưa ngài, trước đây Trung tá vẫn làm vậy. Nếu ngài muốn, tôi sẽ gửi ngài danh sách các cửa hàng, ngài chỉ việc thanh toán hóa đơn là xong. Ngài còn cần tôi giúp gì nữa không?”

“Không còn gì nữa,” Croyden nói. “Rất cảm ơn ông vì tất cả những gì ông đã làm.”

“Còn hành lý của ngài thì sao—tôi có thể cho người chở đến đây được chứ? Không có gì phiền phức đâu, thưa ngài, tôi bảo đảm đấy. Tiện đường đi qua, tôi sẽ đưa thẻ nhận hành lý cho người lái xe tải. Nhân tiện, thưa ngài, dĩ nhiên là ngài sẽ muốn lắp điện thoại rồi. Tôi sẽ báo cho công ty điện thoại ngay. Và ngài đừng ngần ngại trò chuyện với hàng xóm nhé; họ sẽ đón nhận sự cởi mở của ngài đúng như ý tốt của nó. Nhà tiếp theo bên trái là của Thiếu tá Borden, nhà bên phải đây là của Đại úy Tilghman, đối diện bên đường là nhà của Đại úy Lashiel và Đại úy Carrington, còn ngôi nhà đằng kia với những cây sồi cổ thụ to đùng phía trước là của Thiếu tá Markoe.”

“Giống như một khu gia binh vậy nhỉ,” Croyden mỉm cười.

“Đúng vậy, thưa ngài—một số người mang quân hàm từ thời chiến tranh, một số đạt được trong lực lượng dân quân, còn một số thì chỉ kế thừa danh xưng đó từ cha họ. Như một kiểu gia truyền vậy, thưa ngài. Các quý ông ở đây sẽ sớm sang chào hỏi ngài thôi. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu tối nay đã có vài người ghé qua đâu.”

Croyden lập tức nghĩ đến cô gái mà anh đã gặp khi cô bước ra khỏi nhà Borden và chỉ đường cho anh đến Clarendon.

“Liệu tôi có thể chủ động bắt chuyện với những cô gái xinh đẹp—những người hàng xóm của tôi không?” anh hỏi với một nụ cười kín đáo.

“Tất nhiên rồi, thưa ngài; chỉ cần ngài giới thiệu tên mình—và đừng tìm cách tán tỉnh họ là được,” Dick nói thêm rồi bật cười. “Đấy, một cô đang đi đằng kia kìa—Cô Carrington,” ông gật đầu về phía bên kia đường.

Croyden quay lại.—Chính là cô ấy! Cô gái có mái tóc đen ánh xanh và cổ chân thon thả trong đôi tất lụa.

“Cô ấy là cháu nội của Đại úy Carrington,” Dick tiếp tục với niềm yêu thích tường tận về dòng tộc vốn có của người miền Nam. “Cha mẹ cô ấy đều qua đời khi cô ấy còn bế ngửa, thưa ngài, và họ—tức là ông bà nội—đã nuôi cô ấy khôn lớn. Đóa là dinh cơ nhà Carrington mà cô ấy đang rẽ vào đấy. Ồ——”

Cô gái liếc nhìn sang và nhận ra Dick (và phải thừa nhận là nhận ra cả anh chàng vừa hỏi đường mình ở Clarendon nữa), liền gật đầu chào.

Cả hai người đàn ông đều ngả mũ. Nhưng Croyden nhận thấy người đàn ông lớn tuổi hơn có thể dạy anh một bài học lớn về cách ngả mũ sao cho đúng điệu. Anh làm việc đó một cách nhanh gọn, dứt khoát theo kiểu thành thị; còn Dick thì chậm rãi, kính cẩn, như thể được ngả mũ trước cô là một đặc ân lớn lao.

“Cô Carrington thật là một mỹ nhân!” Croyden thốt lên khi nhìn theo bóng cô. “Ở Hampton này còn có ai xinh đẹp như cô ấy nữa không?”

“Tôi già quá rồi nên không dám tự nhận là một giám khảo sành sỏi, thưa ngài,” Dick đáp lại, “nhưng tôi phải nói là chúng tôi có vài cô cũng thuộc hàng 'mười phân vẹn mười' đấy. Ý tôi là, thưa ngài——”

“Tôi hiểu mà!” Croyden cười lớn. “Tôi đoán là một người Maryland so sánh các quý cô với những chiến mã đua của mình thì chẳng có gì là bất kính cả.”

“Chắc chắn rồi, thưa ngài! Ít nhất thì thế hệ già chúng tôi cảm thấy như vậy; các quý cô và những chú ngựa của chúng tôi luôn gắn liền với nhau. Nhưng tinh thần đó đang biến mất nhanh lắm, thưa ngài! Giới trẻ bây giờ đang trở nên—thương mại hóa, nếu ngài cho phép tôi dùng từ đó. Với họ, đồng tiền là trên hết, rồi mới đến các quý cô—còn ngựa nghẽo thì chẳng thấy đâu. Dù vậy tôi không bảo thế là không ngoan. Ngựa và chiến tranh đã suýt làm chúng tôi phá sản, thưa ngài. Chúng tôi mất hết tiền bạc, hoặc quên mất nó để rồi nó tự không cánh mà bay, dù thế nào đi nữa. Việc các con cháu chúng ta bắt đầu trên một lối đi mới và chạy theo cách riêng của chúng là điều đúng đắn—Ồ phải rồi,” ông chợt giật mình nhớ ra, “Cô Carrington là một cô gái xinh đẹp, và Cô Tayloe hay Cô Lashiel cùng nhiều cô khác cũng vậy. Quả thực, thưa ngài, Hampton nổi tiếng khắp Bờ Đông vì có nhiều phụ nữ đẹp. Tôi sẽ lo việc hành lý và điện thoại cho ngài, thưa ngài, và nếu có điều gì khác tôi có thể giúp, xin cứ sai bảo. Khi nào lên phố thì ghé qua chỗ tôi chơi nhé. Chúc ngài một ngày tốt lành, thưa ngài, chúc một ngày tốt lành.” Rồi tháo mũ cúi chào với một sự kính cẩn chỉ kém một chút so với dành cho Cô Carrington, ông thong thả đi lên phố, ung dung như thể cả thế giới đang phải chờ đợi ông.

“Thế mà ông ấy lại là một đại lý bất động sản đấy!” Croyden ngẫm nghĩ. “Người mà theo cách nghĩ của chúng ta là đỉnh cao của sự hối hả, bận rộn, làm ăn và mưu mẹo giăng bẫy những kẻ nhẹ dạ. Quả thực, vùng Bờ Đông này còn nhiều điều phải học—hoặc chúng ta có quá nhiều thứ phải từ bỏ! Chà, mình đã thử sống theo cách kia—và thất bại. Giờ đây, mình sẽ thử sống theo cách này. Ít nhất thì nó cũng hứa hẹn một cuộc sống êm đềm.”

Anh quay lại và thấy Moses đang đứng chờ ở cửa.

“Thưa cậu Croyden,” lão nói, “tôi mang túi xách và đồ đạc của cậu vào phòng của Quan trung tá nhé, thưa cậu?”

Croyden gật đầu. Anh không biết phòng nào là của Trung tá, nhưng có lẽ đó là phòng tốt nhất trong nhà, và hơn nữa, đi theo lối cũ của ông ấy cũng là điều nên làm.

“Và khi người ta chở hành lý của tôi đến, ông nhớ bảo họ mang lên đó nhé,” anh dặn dò—“đồng thời bảo Josephine chuẩn bị bữa trưa lúc một giờ và bữa tối lúc bảy giờ.”

Lão người da đen ngập ngừng.

“Quan trung tá toàn ăn tối vào giữa ngày thôi, thưa cậu,” lão nói như thể Croyden vừa vô tình mắc phải một sai lầm.

Croyden hiểu ra c sự việc liền đáp:

“Ồ, ông thấy đấy, Moses, tôi quen với cách sống kia rồi, và tôi e là ông sẽ phải thay đổi để phù hợp với tôi.”

“Vâng, thưa cậu! Vâng, thưa cậu! Tôi sẽ bảo Jose. Bữa trưa thì cũng giống như bữa tối nhẹ thôi đúng không, thưa cậu?”

Croyden phải suy nghĩ một chút.

“Đúng vậy,” anh nói, “như vậy là được rồi—như một bữa tối nhẹ thôi.”

“Xem ra việc giữ lại các gia nhân cũ của Trung tá Duval cũng có điểm bất lợi,” anh ngẫm nghĩ. “Có thể sẽ rất khó để thuyết phục họ rằng ông ấy không còn là chủ nhân nữa. Mình đối mặt với nguy cơ bị chi phối bởi một người đã chết.”

Một lúc sau hành lý của anh được chở tới, anh lên tầng để dọn đồ. Moses nhìn chiếc rương quần áo đầy kinh ngạc: mỗi bộ âu phục treo trên một chiếc móc riêng, các ngăn kéo dành cho áo sơ mi và đồ lót, các ngăn dành cho mũ, cổ áo, cà vạt, cùng những đôi giày được xếp thành hàng ngắn ngắn bên dưới.

“Thế thì cần gì phải lấy đồ ra ngoài nữa hả cậu Croyden!” lão thốt lên.

“Để cất cái rương đi chứ.”

“Trời ạ! Đáng lẽ tôi phải biết mới đúng. Kỳ lạ thật đấy thưa cậu, chỉ cần dừng lại suy nghĩ chút là biết ngay. Ví như, đáng lẽ tôi phải biết cậu sẽ quay lại Clarendon vào một ngày nào đó chứ, thưa cậu, vì cậu đã bỏ tiền ra mua nó mà. Hừm!”

Lúc này, một tiếng chuông khẽ vang lên từ tầng dưới.

“Đến giờ ăn tối—ý tôi là ăn trưa rồi thưa cậu,” Moses nói. “Xin lỗi cậu.”

“Tôi cũng đang đói rồi đây,” Croyden nói rồi đi lại bồn rửa bằng sắt, sau đó thong thả bước xuống cầu thang vào phòng ăn.

Từ một nơi nào đó, Moses đã đào đâu ra một chiếc áo chiếc áo khoác màu trắng đã ố vàng sau mười năm xếp xó, và đang đứng đợi để đón anh. Lão kéo ghế cho Croyden theo cái cách mà chỉ có những gia nhân lâu năm của các gia đình cổ xưa mới làm được, rồi cúi đầu mời anh vào vị trí.

Bàn ăn được bài trí giống hệt như thời Trung tá Duval còn sống, và Croyden cảm thấy nó được bày biện rất đẹp mắt, với khăn trải bàn trắng tinh không một vết bẩn cùng bộ đồ sứ mỏng tinh xảo. Bộ đồ sứ ấy—nếu anh biết—chính là đồ sứ Lowestoft trứ danh đã phục vụ gia đình Duval trên chính chiếc bàn này hơn một trăm năm qua.

Bữa ăn gồm có thịt dăm bông lạnh, gà luộc lạnh, xà lách trộn sốt mayonnaise, trứng nhồi nhân cay, hoa quả dầm, cùng với bánh kếp ngô nóng hổi và trà. Khi Croyden gần hoàn thành bữa ăn thong thả của mình, anh chợt nhận ra rằng dù Clarendon có đầy ắp những vật dụng của quá khứ đến đâu thì chúng cũng không áp dụng cho kho thực phẩm, và những thức ăn này rõ ràng là đồ tươi và đặc biệt thơm ngon.

“Nhân tiện đây, Moses!” anh nói, “Tôi rất vui vì ông đã chu đáo sai người đi mua những thứ này,” anh khẽ chỉ tay về phía bàn ăn. “Bữa ăn rất tuyệt.”

“Mua ư!” lão da đen ngạc nhiên thốt lên.

“Mấy thứ này đâu có mua. Không thưa cậu! Đều là đi mượn đấy thưa cậu, mượn bên nhà Thiếu tá Borden đấy, vâng thưa cậu!”

“Trời đất ơi!” Croyden thốt lên. “Ông đừng nói với tôi là ông đi mượn cả bữa trưa của tôi đấy nhé!”

“Vâng thưa cậu! Sao lại không chứ thưa cậu? Jose chỉ việc chạy sang bảo với Cassie—bà bếp bên nhà Thiếu tá đấy thưa cậu—bảo là cậu Croyden đã đến và cần cái gì đó để ăn. Thế là bà ấy đưa cho thôi, vâng thưa cậu!”

“Ở đây việc đi mượn nguyên cả một bữa ăn từ nhà hàng xóm là chuyện bình thường sao?” Croyden hỏi.

“Chắc chắn rồi thưa cậu! Chúng tôi thiếu thứ gì thì mượn hàng xóm thứ đó, và họ cũng làm thế với chúng tôi.”

“Chà, tôi không muốn nhà mình đi mượn bất cứ thứ gì hết, Moses, xin ông hãy nhớ kỹ,” Croyden kiên quyết nói. “Hàng xóm có thể mượn bất cứ thứ gì chúng ta có và chúng ta luôn sẵn lòng, nhưng chúng ta sẽ không xin họ ân huệ đó, ông hiểu chưa?”

“Vâng, thưa cậu!” lão da đen già đáp lại với vẻ ngơ ngác.

Một tình huống mà nhà bếp này lại không đi mượn đồ của nhà bếp khác là điều hoàn toàn vô lý đối với lão. Các gia nhân đã làm vậy từ thời xửa thời xưa—và dù Croyden có cấm đoán thì Josephine vẫn sẽ tiếp tục làm như vậy—chỉ là lén lút hơn mà thôi.

“Và nhớ mang trả lại mọi thứ chậm nhất là ngày mai đấy,” Croyden nói tiếp.

“Vâng thưa cậu! Tôi mang trả lại ngay bây giờ đây thưa cậu!——”

“Cái gì cơ?”

“Mấy cái thứ này này, chỗ đồ ăn cậu chưa ăn hết đấy thưa cậu——”

“Ý ông là—Ôi Chúa tôi!” Croyden thốt lên.

“Thôi bỏ đi, Moses. Tôi sẽ trả lại họ theo cách khác. Ông cứ quên chuyện đó đi.”

“Tất nhiên rồi thưa cậu,” lão da đen đáp. “Đó cũng là điều tôi định làm ngay từ đầu mà.”

Croyden bật cười. Anh nhận ra mọi chuyện thật vô vọng. Thói quen của họ là thứ sẽ trói buộc họ. Anh có phản đối hay ra lệnh khác đi cho đến ngày tận thế thì cũng chẳng có tác dụng gì. Đối với họ, chỉ cần Trung tá Duval cho phép, hoặc đó là phong tục, thì thế là đủ.

“Có lẽ mình nên để mặc các gia nhân quản lý mình thì hơn,” anh nghĩ. “Dù sao họ cũng thuộc đường đi nước bước ở đây, hơn nữa, đó là con đường ít trở lực nhất.”

Anh đi vào phòng sách, thả mình xuống chiếc ghế tựa thoải mái rồi châm một điếu thuốc.... Quả là một thế giới đảo ngược. Chưa đầy hai mươi bốn giờ trước, đó là tiền bạc và sự điên rồ, phá sản và các tòa án ly hôn, là nhịp sống quay cuồng của xe hơi—lối sống của quỷ dữ. Giờ đây, đó là sự yên bình và tao nhã, một cuộc sống thư thái và tinh tế. Nếu ở lại Hampton lâu hơn một chút, có lẽ anh sẽ nói thêm: là những chuyện phiếm và tào lao, sự hẹp hòi và lòng tự mãn ngớ ngẩn.

Anh hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác và thả hồn theo những giấc mơ. Anh băn khoăn không biết Elaine Cavendish đã làm gì tối qua—liệu cô có ăn tối tại câu lạc bộ không, và cô đã mặc chiếc váy nào; liệu cô có chơi golf hay quần vợt vào buổi chiều không, và chơi với ai; anh băn khoăn không biết cô có nhớ đến anh nhiều hơn một thoáng nghĩ qua đường hay không. Anh gạt nó đi trong khoảnh khắc. Rồi anh lại băn khoăn: ai đã nhận căn hộ cũ của anh ở khu Heights? Anh biết nhiều kẻ sẽ phát cuồng vì nó—ai đã ngồi vào chiếc bàn điểm tâm cũ của anh? chiếc bàn đó hẳn cũng được nhiều người tranh giành—ai sẽ thế chỗ anh trong các đội quần vợt và golf?—Macloud đang làm gì nhỉ? Macloud là một gã cừ khôi! Người duy nhất ở Northumberland mà anh tin tưởng, có lẽ cũng là người duy nhất ở Northumberland quan tâm đến việc anh có quay lại hay không, hoặc sẽ dành cho anh một thoáng nghĩ suy. Anh băn khoăn không biết Gaspard, người bồi bàn riêng của anh, có nhớ anh không? Có chứ, ít nhất gã cũng sẽ nhớ những khoản tiền bồi dưỡng; phải rồi, và đứa trẻ lau quần áo và chuẩn bị nước tắm cho anh cũng sẽ nhớ anh, cả chú bé nhặt bóng golf nữa. Tất cả những ai được anh trả tiền đều sẽ nhớ anh....

Anh vứt điếu thuốc đi và ngồi thẳng dậy. Đó chẳng phải là những suy nghĩ dễ chịu gì.

Một chiếc bàn viết bằng gỗ gụ cổ có nắp trượt ở góc phòng gần cửa sổ đập vào mắt anh. Mặt trước bàn có khảm một hình vỏ hến bằng gỗ phong, và đường viền khảm gỗ cũng chạy quanh các mép ngăn kéo và dọc theo hai bên thành bàn.

Anh nhớ ra trong thư viện nhà Cavendish cũng có một chiếc giống như vậy. Anh đi tới chỗ cái bàn, thấy chìa khóa đang cắm ở ổ liền kéo các tay nắm ra và lật phần nắp bàn lại. Bên trong là hàng loạt các ô chứa thư và các ngăn kéo nhỏ quen thuộc, cùng với các ngăn dành cho văn tự và tài liệu lớn hơn. Tất cả đều trống rỗng. Hoặc là Trung tá Duval, dự cảm được cái chết, đã dọn sạch nó, hoặc là Moses và Josephine đã cất giữ các tài liệu đi nơi khác để bảo quản tốt hơn. Anh thấy mừng vì điều đó; ít nhất anh có thể sử dụng nó mà không cần phải đẩy đồ đạc của Trung tá ra ngoài.

Anh đóng nắp bàn lại và định quay đi thì chợt nhớ ra ngăn kéo bí mật thường có trong những chiếc bàn cổ này. Anh quay lại và bắt đầu tìm kiếm.... Và chẳng mấy chốc, anh đã tìm thấy. Bên dưới ngăn kéo ở giữa là một tấm gỗ trượt có thể đẩy lui lại khi anh ấn vào hoa văn chạm khắc hình đầu sư tử, làm hé lộ một hốc ẩn bên trong. Trong hốc đó có một tờ giấy.

Tờ giấy đã ngả vàng theo thời gian, và khi Croyden chạm ngón tay vào, anh cảm nhận được hương thơm thoang thoảng của gỗ đàn hương. Những đường gấp đã giòn gãy, chực chờ rách rời ra. Vì vậy, anh nhẹ nhàng mở nó ra và trải lên mặt bàn trước mặt. Đây là những gì anh đọc được:

“Annapolis, ngày 10 tháng 5 năm 1738.

“Kính gửi Ngài:

“Tôi e rằng tôi sắp sửa Giông Buồm cho Chuyến đi Cuối cùng—những vết thương cũ ngày càng hành hạ tôi dữ dội hơn, nhất là những vết ở đầu và ngực. Tôi phải nằm bệt trên giường, và dù Bác sĩ Waldron không nói ra, tôi biết ông ấy nghĩ tôi sắp sửa về với Đáy biển của Davy Jones. Đành vậy—tôi đã sống đến một Độ tuổi hợp lý, và đã có một Thời gian sống khá trọn vẹn. Tôi đã làm những việc không đúng với Pháp luật, dù là của Con người hay Chúa trời—nhưng với Pháp luật Con người, tôi chưa từng bị Bắt, còn với Chúa trời, tôi sẵn sàng đánh cược số phận mình khi nhắm mắt xuôi tay.

Khi ngài đến Annapolis lần trước, tôi đã định trao đổi với ngài một Việc, nhưng có điều gì đó cản trở mà tôi không rõ, và ngài đã Rời đi trước khi tôi kịp nhận ra. Nay, sợ rằng tôi sẽ Chết trước khi ngài quay lại, tôi viết thư này dù trái với lệnh của Bác sĩ—những mệnh lệnh mà tôi chỉ tuân theo khi nào tôi thích.

“Ngài đã quá quen thuộc với một số Biến cố trong Thời trẻ của tôi dưới lá cờ Cướp biển Đầu lâu ở vùng Biển Caribe, và ngài đã giữ Giữ im lặng—điều mà tôi sẽ luôn mắc nợ ngài. Hơn nữa, ngài luôn là Bằng hữu của tôi, và vì điều đó, tôi còn nợ ngài nhiều hơn thế. Do đó, việc ngài trở thành Người thừa kế của tôi là điều Hoàn toàn Thích hợp—và hôm nay tôi đã Lập Di chúc Cuối cùng, để lại cho ngài toàn bộ Tài sản và vật dụng của tôi. Di chúc được gửi tại văn phòng Luật sư Dulany, người đã soạn thảo nó, để làm thủ tục Thừa kế vào Thời điểm Thích hợp.

“Nhưng vẫn còn một phần tài sản lớn mà vì những lý do rõ ràng không thể định đoạt theo cách đó. Ý tôi là Kho báu Chôn giấu của tôi. Tôi đã chôn nó vào tháng 9 năm 1720, ít lâu sau khi đến Annapolis, vì không tin tưởng việc giữ một Số tiền lớn như vậy trong Nhà. Nó trị giá khoảng một nửa Cơ nghiệp của tôi, Tương đương khoảng Năm mươi Ngàn Bảng Anh, dù đó chỉ là một Ước tính Thô tháp nhất, vì tôi không thạo việc định giá Đá quý. Tôi lấy đâu ra số tài sản này thì không cần phải nhắc tới, dù ngài có thể Đoán được. Và vì không có dấu vết nào để nhận dạng nó, ngài có thể sử dụng mà không cần Ngần ngại. Tuy nhiên, phải tuân theo một Hạn chế:

Vì đây là tài sản thu được không bằng Con đường Chính đáng (theo cách đánh giá của Thế gian, bởi lẽ tôi chỉ liều Mạng sống của mình để thu gom, thay vì trộm cắp của Đồng loại trong Kinh doanh, vốn là thói thường được chấp nhận), tôi yêu cầu ngài không được sử dụng nó trừ khi Lâm vào Cực kỳ Túng thiếu. Nếu sự túng thiếu đó không xảy ra trong Đời ngài, thì đến lượt ngài có thể truyền lại bức thư này cho người thừa kế của ngài, và người đó lại truyền cho người thừa kế của mình, cứ như thế cho đến Thời điểm Sự túng thiếu đến và Hạn chế được dỡ bỏ. Và bây giờ là cách tìm Kho báu:—

“Bảy trăm năm mươi feet—và vuông góc với đường mép nước—tính từ ngọn ngọn của Mũi Greenberry, phía dưới Annapolis, nơi sông Severn đổ ra vịnh Chesapeake, có bốn cây Thùy dương lớn đứng ở bốn góc của một Hình vuông, dù không cách đều nhau. Hãy Chia đôi Hình vuông này bằng hai đường thẳng nối các Góc. Tại một Điểm cách giao điểm của hai đường thẳng này ba trăm ba mươi feet về hướng Bắc-Bắc-Đông và ở độ sâu Sáu feet, ngài sẽ đào thấy một Hòm sắt. Nó chứa Kho báu. Và tôi chúc ngài (hoặc bất kỳ ai đào được nó) Vui vẻ với nó!—nhiều niềm vui như tôi từng có khi Thu gom nó.

“Sợ rằng tôi sẽ chết trước khi ngài quay lại Annapolis, tôi sẽ để lại bức thư này cho Luật sư Dulany để giao cho ngài vào Dịp Đầu tiên. Tôi đánh giá ông ấy là người sẽ tôn trọng niêm phong của một Người chết. Nếu tôi không được Gặp lại ngài, xin Chào tạm biệt. Tôi xin kính cẩn gửi lời chào ngài,

“Tự hạ & Kính thư

“Robert Parmenter.

“Gửi Marmaduke Duval, Tuyên úy.”

Bên dưới có dòng chữ viết bằng một bàn tay khác:

“Sự Cực kỳ Túng thiếu chưa xảy ra, ta truyền lại bức thư này cho con trai ta.

“M.D.”

Và bên dưới dòng đó, là của một bàn tay khác nữa:

“Sự Túng thiếu cũng chưa đến với ta. Ta truyền lại cho con trai ta.

“D.D.”

Và bên dưới dòng đó, lại của một bàn tay khác:

“Cũng chưa đến với ta. Ta truyền lại cho con trai ta.

“M.D.”

Và bên dưới dòng đó:

“Sự Cực kỳ Túng thiếu đã sượt qua ta gần đến mức ta nghe thấy tiếng váy áo của nó sột soạt, nhưng ta đã không đào. Ta có đủ cho bản thân, và ta là người cuối cùng của dòng họ. Do đó, ta truyền lại cho người bạn tốt Hugh Croyden (và trong trường hợp ông ấy qua đời trước ta, thì truyền cho con trai ông ấy là Geoffrey Croyden), người sẽ nhận Clarendon sau khi ta qua đời.

“D.D.”

Croyden đọc lại dòng phê cuối cùng một lần nữa; rồi anh mỉm cười, và nụ cười rạng rỡ thành một tiếng cười lớn.

Người thừa kế của một tên cướp biển! Ồ, ít nhất nó cũng hứa hẹn một điều gì đó để anh bận rộn nếu thời gian trở nên quá dư thừa. Dường như dòng họ Duval đã coi di chúc này là một chuyện nghiêm túc—vậy tại sao anh lại không chứ? Và mặc dù sự cực kỳ túng thiếu dường như chưa bao giờ đến với họ, nhưng thật kỳ lạ là không ai trong gia đình kiểm tra khu vực đó để tự mình xác minh độ chính xác của lời mô tả. Ngọn của Mũi Greenberry có lẽ đã dịch chuyển hàng chục lần trong suốt một trăm chín mươi năm qua, và bốn cây thùy dương kia chắc chắn đã biến mất từ lâu, nhưng lại không có ghi chú nào về những thực tế này để hỗ trợ việc tìm kiếm. Anh phải bắt đầu ngay từ nơi Robert Parmenter bỏ dở: với bức thư này.

Anh tìm thấy một cuốn sách lịch sử Maryland cũ trong tủ sách. Trong đó có một bản đồ. Anh biết Annapolis nằm đâu đó ở Bờ Tây. Anh lướt mắt xuống vịnh Chesapeake. Đúng rồi, nó đây rồi—với Mũi Greenberry nằm ngay bên kia sông Severn. Ít nhất thì bấy nhiêu chi tiết trong bức thư là chính xác. Phần còn lại sẽ cần phải điều tra thêm. Một ngày gần đây anh sẽ sang đó và quan sát mặt đất một lượt. Mũi Greenberry, biết đâu chừng, có thể đã mọc đầy nhà cửa, hoặc bị gió thổi dạt vào đất liền nửa dặm, hoặc bị biến thành một đồn bốt, hay bất cứ thứ gì. Nó khó có thể giữ nguyên như thời của Parmenter; thế nhưng, nếu nó đã thay đổi, tại sao dòng họ Duval lại không ghi chú lại khi để lại các dòng phê?

Anh cất bức thư trở lại ngăn bí mật, nơi nó đã nằm yên trong bao nhiêu năm qua. Rõ ràng, Trung tá Duval đã quên mất nó trong trận ốm ngắn ngủi cuối đời. Và Vận may đã giúp anh tìm thấy nó. Liệu Vận may có giúp anh tìm thấy kho báu luôn hay không? Bởi vì đối với anh, hạn chế đã được gỡ bỏ—sự cực kỳ túng thiếu đã đến rồi. Hơn nữa, đã đến lúc bức thư này phải được đưa ra kiểm chứng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.