Macloud đón chuyến tàu buổi tối đi New York. Anh mang theo giấy ủy quyền của Croyden cùng số cổ phiếu đủ để bán lấy tiền mặt nộp phần đóng góp của bạn mình. Phần của mình, anh đã thu xếp bằng điện tín gửi cho bên môi giới và ngân hàng ở Northumberland; một tờ hối phiếu hẳn đang chờ anh tới nhận. Anh định đổi cả hai khoản thành những tờ giấy bạc mệnh giá một ngàn đô-la rồi cấp tốc trở lại Annapolis để hội quân cùng Croyden.
Thế nhưng họ đã không lường trước được sự cố đường sắt,—hay nói đúng hơn là có tính đến nhưng lại vỡ mộng. Một đoàn tàu chở hàng bị trật đường ray ngay phía nam Hampton, cày nát cả trăm thước đường tàu và vứt lại đủ mọi thứ mảnh vỡ ngổn ngang trên hành lang tuyến. Chuyến tàu của Macloud xuất phát khỏi Hampton trễ mất mười hai tiếng. Chưa dừng lại ở đó, rủi ro nối tiếp rủi ro khi chạy thêm chừng năm mươi dặm nữa, tàu lại gặp đoạn đường sạt lở do lũ cuốn; rốt cuộc khi tới được New York thì thị trường đã đóng cửa và ngân hàng cũng ngưng giao dịch trong ngày.
Anh đánh điện báo tình hình cho Croyden. Ngày hôm sau, anh bán số cổ phiếu, bên môi giới giao cho anh toàn bộ số tiền thu được bằng những tờ giấy bạc đúng mệnh giá yêu cầu sau giờ giao hàng, và anh nhanh chóng lên đường trở về Annapolis, tới nơi vào lúc chín giờ tối.
Croyden đang đứng chờ anh ở khách sạn Carvel Hall.
“Tớ rất tiếc cho hai cô gái,” anh nói, “nhưng chúng ta chỉ chậm mất một ngày thôi. Ngày mai ta sẽ giao hàng. Và rồi, cầu Chúa cho họ được tự do trước khi đêm nữa lại xuống! Tên luật sư tống tiền đó tuy là kẻ gian hùng trộm cắp, nhưng tớ có cảm giác hắn sẽ giữ lời.”
“Tôi e là chúng ta đành phải tin hắn thôi,” Macloud đáp. “Còn thám tử Pinkerton đâu rồi?”
“Anh ta đang ở trong thị trấn. Sáng mai anh ta sẽ qua mỏm Greenberry, cải trang thành một người da đen đốn củi ở rìa rừng. Cơ hội để anh ta nhận diện được băng nhóm đó không nhiều, nhưng đây là cách tốt nhất chúng ta có thể làm. Phải cứu hai cô gái trước đã, rồi mới tính chuyện bắt đám vô lại sau.”
Mười một giờ sáng ngày hôm sau, Croyden cưỡi trên một con ngựa chiến thuộc hàng “hảo hạng nhà Cheney” thong thả rời khỏi khách sạn. Đêm qua thời tiết đột ngột thay đổi; buổi sáng không khí trong lành, hửng nắng và ấm áp, một kiểu thời tiết thỉnh thoảng vẫn xuất hiện ở Annapolis vào cuối tháng Mười một. Đầm Severn xanh ngắt và êm đềm, thi thoảng lại tung lên những gợn sóng đầu bạc như chào đón anh khi anh băng qua cầu. Anh gật đầu chào người gác cầu quay vốn đã quen mặt anh, dẹp sang một bên nhường đường cho chiếc ô tô lướt qua, rồi thong dong cho ngựa khoan thai phi lên đồi, đi vào dải rừng phía xa.
Anh có thể nghe thấy tiếng nhạc đoàn thuộc Học viện Hải quân đang dồn dập tấu lên bản hành khúc cấp tốc, và thấp thoáng thấy hàng dài học viên hải quân đang duyệt binh qua trước mặt một nhân vật quan trọng. Mái vòm nhà nguyện mang hai màu “kem và vàng trứng” phơi ra trần trụi với tất cả vẻ thô kệch của nó; dãy nhà Bancroft Hall dài dằng dặc ánh lên sắc trắng dưới ánh mặt trời; thư viện cùng chiếc đồng hồ—mà chiếc đồng hồ, chẳng hiểu vì ý tưởng kỳ quặc nào, lại được đặt ở điểm xa nhất so với khu ký túc xá, khiến các học viên chẳng thể nào nhìn thấy—nằm sừng sững ở phía đối diện khu khuôn viên. Khắp nơi đều bao trùm bầu không khí tĩnh lặng, thanh bình và kỷ luật—hiện thân của trật tự và pháp luật,—với lá Quốc kỳ tung bay kiêu hãnh trên cao.
Ấy thế mà, anh lại đang trên đường đi trả một khoản tiền chuộc khổng lồ để giải cứu hai người phụ nữ đang bị bắt giữ làm con thám!
Anh buộc ngựa vào một cành phong rồi sải bước ra mỏm đất. Ngoại trừ vài cây to bị gió bão quật ngã, nơi này vẫn là mỏm đất mà họ đã đào bới vài tuần trước. Một người da đen đang bổ củi bên mớ gỗ ngưng tay trong giây khắc, đưa mắt nhìn anh vẻ tò mò rồi lại tiếp tục công việc.
“Người của Pinkerton đây rồi!” Croyden tự giủ, nhưng anh không hề bắt chuyện.
Ở một nơi nào đó,—từ một ô cửa sổ trong thị trấn, hoặc từ một trong số vô vàn con tàu đang dập dềnh trên vịnh hay trên sông—anh không hề nghi ngờ rằng có một chiếc ống nhòm đang chĩa về phía mình, và từng cử động của anh đều đang bị theo dõi sát sao.
Suốt hai mươi phút đồng hồ, anh đứng ở tận cùng mỏm đất, phóng tầm mắt nhìn ra phía biển. Sau đó, anh quay ngoắt người lại và bước mười bước vào sâu trong đất liền. Quỳ xuống, anh nhanh chóng dùng chiếc xẻng nhỏ đào một cái hố sâu một bộ trên cát, đặt bọc tiền được bọc cẩn thận trong vải dầu xuống rồi lấp đất lại như cũ.
“Xong!” anh nói khi đứng dậy. “Vàng của cướp biển chỉ sinh ra thói cướp biển. Mong rằng đây là lần cuối ta phải dính dáng đến mày—và cầu cho quỷ dữ tha tất cả các người đi!”
Anh thong thả bước trở lại chỗ con ngựa, leo lên thồ và cưỡi về thị trấn. Họ đã làm xong phần việc của mình—liệu lũ trộm cắp có làm đúng phần của chúng?
Tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn, Croyden và Macloud rời Annapolis trên chuyến tàu điện tiếp theo, bắt tàu thủy tại Baltimore và tới Hampton vào buổi chiều tối, vừa kịp giờ ăn tối. Họ dừng lại vài phút tại Ashburton để thông báo cho Đại úy Carrington biết họ đã trở về, rồi tiếp tục đi Clarendon.
Cả hai người đều căng thẳng. Chẳng ai muốn người kia nhận ra điều đó, và ai nấy đều cố tỏ ra thản nhiên.
Croyden là người bỏ cuộc trước. Anh ném mẩu thuốc lá vào tách cà phê rồi đẩy ghế lùi lại khỏi bàn.
“Vô ích thôi, Colin!” anh bật cười. “Cậu đang cố tỏ ra bình thản, và cậu làm điều đó rất tốt đấy, nhưng cậu không thể kiểm soát được ngón tay cùng ánh mắt của mình đâu—và tớ nghĩ tớ cũng thế, dù Chúa chứng giám là tớ đã cố hết sức! Chúng ta kiệt sức mất rồi! Bốn ngày căng thẳng và phập phồng lo sợ đã vắt kiệt sức lực của chúng ta. Nếu tớ từng có chút nghi ngờ nào về tình cảm của mình dành cho Elaine, thì giờ đây nó đã tan biến sạch sẽ.——Tớ không nói là tớ ngốc đến mức đi cầu hôn cô ấy ngay lúc này, nhưng hiện tại tớ chẳng thể nào làm chủ nổi mình nữa. Nếu gặp cô ấy ngay giây phút này, có khi tớ sẽ làm điều gì đó liều lĩnh mất.”
“Cậu đang dần xuôi theo nó đấy,” Macloud nói.
“Dần xuôi theo ư! Hừ! Tớ chẳng biết có phải ‘dần xuôi’ hay không. Tớ muốn lấy lại bình tĩnh—muốn làm chủ bản thân—để—sao cậu lại cười, tớ buồn cười lắm à?”
“Đúng thế!” Macloud đáp. “Tớ chưa từng thấy người đàn ông nào lại đấu tranh kịch liệt đến thế chống lại ước muốn của chính mình và một người vợ giàu có. Cậu không xứng đáng có được cô ấy đâu!—Nếu tớ là Elaine, tớ sẽ thẳng tay từ chối cậu.”
“Ơn Trời! Cậu không phải là Elaine!” Croyden vặn lại.
“Và chính vì thế, với sự vô lý rất đỗi phụ nữ cùng niềm tin tuyệt đối vào người mình yêu, cô ấy nhiều khả năng sẽ đồng ý lời cậu.”
“Sao cậu biết cô ấy yêu tớ?”
Macloud thổi vài vòng khói thuốc rồi chăm chú nhìn chúng bay lơ lửng lên cao.
“Tớ đoán cậu cũng tin tường như thế về tiểu thư Carrington và tình cảm cô ấy dành cho cậu chứ gì,” Croyden nhận xét.
“Tớ tiếc phải nói rằng tớ không được như thế,” Macloud trầm ngâm đáp. “Đó mới chính là điều làm tớ trăn trở. Không như anh bạn Geoffrey Croyden đây, tớ hoàn toàn chắc chắn về lòng mình, nhưng tớ lại không chắc về lòng người đẹp.”
“Thế thì sao cậu không tìm hiểu xem?”
“Đó chính xác là những gì tớ sẽ làm khi cô ấy trở về.”
“Chắc chắn như định mệnh vậy!” Croyden nói.
“Cảm ơn! Xem ra mỗi chúng ta đều có thể giải đáp nghi ngại cho người kia nhỉ,” anh thản nhiên nhận xét.
Lát sau, Macloud đứng dậy.
“Tớ sang Ashburton trò chuyện với Đại úy một chút—kiểu như đến ngỏ lời động viên cụ. Đi cùng không?”
Croyden lắc đầu.
“Cậu đi đi!” anh nói. “Đến tâm sự với cụ già là việc rất tốt cho cậu đấy. Tối nay tớ sẽ nhường sân cho cậu bằng cách ở lại đây. Ráng điểm mặt chỉ tên làm cụ ưng lòng nhé, Colin, ráng làm cụ chấm điểm cao vào!”
“Còn cậu thì ráng mà thắng nổi chính mình đi—bỏ cái lý thuyết ngớ ngẩn đó ra khỏi đầu rồi nhìn vào thực tế đơn thuần đi,” Macloud đáp trả rồi bước ra ngoài.
“‘Bỏ cái lý thuyết ngớ ngẩn ra khỏi đầu’,” Croyden tự nhủ. “Ừ thì có lẽ—nhưng vấn đề là nó có thực sự ngớ ngẩn không? Mình lại trắng tay rồi—mình thậm chí còn không có đủ tiền để làm chồng của Elaine Cavendish—đó mới là chướng ngại! Cô ấy sẽ không phải là vợ của Geoffrey Croyden, mà chính mình mới là người mang danh chồng của Elaine Cavendish. ‘Elaine Cavendish cùng chồng đến ăn tối với chúng tôi tối nay!’—‘Elaine Cavendish và chồng đã xuất hiện tại triển lãm ngựa!’ ‘Elaine Cavendish cùng chồng đã ở đây!—hoặc ở đó!—hoặc thế này thế nọ!’”
Anh không thể nào chịu đựng nổi điều đó. Như thế thì hạ thấp bản thân quá, xúc phạm nghiêm trọng đến lòng tự trọng của anh.—Chồng của Elaine Cavendish!—Chồng của Elaine Cavendish! Liệu anh có thể vượt qua cái bóng đó—để được nhìn nhận bằng chính năng lực của mình? Anh ngước mắt nhìn lên bức chân dung người sĩ quan dũng cảm của một triều đại đã sụp đổ, với gương mặt quý phái và phong thái uy nghi.
“Ngài là một người đàn ông quả cảm, Đại tá Duval!” anh nói. “Ngài sẽ làm gì trong hoàn cảnh này?”
Anh rút một điếu xì-gà, từ tốn châm lửa rồi chìm vào suy tư.... Chẳng mấy chốc, kiệt sức vì mệt mỏi và lo âu, anh thiếp đi....
Và trong lúc anh đang mơ màng, cánh cửa ra vào nhẹ nhàng mở ra, một bước chân êm ái băng qua sảnh, và Elaine Cavendish xuất hiện ngay ngưỡng cửa.
Nàng khoác chiếc váy nhung đen điểm xuyết lông linh miêu. Đầu nàng để trần. Một chiếc áo khoác màu xanh lơ được khoác hờ hững đầy duyên dáng trên bờ vai ngọc ngà. Một bàn tay thon nhỏ nhẹ nhàng nâng vạt váy để khỏi vấp. Nàng nhìn thấy người đàn ông đang ngủ gật liền khựng lại, và một nụ cười ngập tràn dịu dàng thoáng qua trên gương mặt nàng.
Nàng ngập ngừng trong giây khắc, và khi nghĩ đến điều sắp làm, một ửng hồng e ấp lan nhẹ trên đôi má. Rồi nàng nhẹ nhàng lướt tới, cúi xuống và đặt một nụ hôn lên môi anh.
Anh mở mắt ra và choàng dậy! Giật mình! Nàng đang ở ngay trước mặt anh, nét ửng hồng vẫn còn vương trên má và trán.
“Elaine! Em yêu!” anh cất tiếng gọi. Và ngay lập tức, anh ôm trọn lấy nàng vào lòng, không một sự kháng cự....
“Kể cho anh nghe mọi chuyện về em đi,” cuối cùng anh nói, kéo nàng ngồi xuống chiếc ghế tựa rồi chính mình ngồi lên tay vịn. “Tiểu thư Carrington đâu rồi—cô ấy có an toàn không?”
“Colin đang ở bên cô ấy—em đoán là cô ấy an toàn!” Elaine mỉm cười. “Nếu cô ấy không an toàn thì chắc chắn không phải tại anh ấy đâu.—Em để họ ở lại Ashburton rồi chạy sang đây với... anh.”
“Một mình sao!” Croyden cúi xuống nhìn nàng.
Nàng gật đầu, mắt hơi cúi xuống.
“Cô gái ngốc nghếch này!”
“Em sẽ quay về ngay đây——”
Anh bật cười rạng rỡ.
“Chưa quay về ngay được đâu!” rồi lại cúi xuống.
“Geoffrey! Anh thật là đáng sợ!” nàng thốt lên, hơi thở hổn hển. “Tóc của em, anh yêu,—cẩn thận chứ!”
“Anh sẽ ngoan—nếu em hôn anh thêm lần nữa!” anh nói.
“Nhưng anh đâu có đang ngủ,” nàng phản đối.
“Chính vì thế anh mới muốn.”
“Và anh hứa—sẽ không hôn em nữa đấy nhé?”
“Trong nửa tiếng.”
“Thật không đấy?”
“Thật mà.”
Nàng ngước nhìn anh đầy tình tứ, đôi môi đỏ mộng hếch lên, phập phồng nơi lồng ngực.
“Nếu điều đó đáng để anh bước lại gần một nửa quãng đường, anh yêu—thì anh có thể đấy,” nàng nói....
“Nào, nếu anh đã dẹp trò nghịch ngợm sang một bên—được một chút,” nàng vui vẻ nói, “em sẽ kể cho anh nghe tụi em thoát ra bằng cách nào.”
“Em có biết vì sao hai người lại bị bắt cóc không?” anh hỏi.
“Ồ, có chứ!—vì số châu báu của Parmenter. Davila đã kể cho em nghe toàn bộ câu chuyện, và cả việc anh không tìm thấy chúng, mặc dù bọn bắt cóc cứ nghĩ là anh đã tìm được và không chịu tin khác đi.”
“Em không bị thương hại gì chứ?” anh dồn dập hỏi.
“Không—tụi em được đối xử rất lịch sự; và họ thả tụi em ngay khi tờ séc được thanh toán.”
“Ý em là sao?” anh ngỡ ngàng hỏi.
“Ý em là, em đã đưa cho họ tờ séc của em để trả tiền chuộc—anh không có số châu báu đó, anh đâu thể đáp ứng yêu cầu của họ. Anh nghĩ làm sao tụi em thoát được?” nàng hỏi lại.
“Em đã trả tiền ư?” anh hỏi lại.
“Dĩ nhiên rồi! Em biết anh không thể trả nổi nên em đã trả. Đừng nghĩ về chuyện đó nữa anh yêu!—Mọi chuyện qua rồi, và giờ chúng ta đã có nhau. Tiền bạc thì sánh sao được với điều đó?” Rồi đột nhiên, đúng nét tính cách phụ nữ, nàng lại quay trở lại ngay vấn đề đó. “Anh đã nghĩ tụi em thoát ra bằng cách nào—vượt ngục sao?” nàng hỏi.
“Phải!” anh đáp. “Phải—anh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện em sẽ tự trả tiền.”
Nàng nhìn anh vẻ dò xét.
“Không!” nàng nói, “Anh đang giấu em!—Anh—anh cũng đã trả tiền chuộc rồi đúng không!” nàng thốt lên.
“Điều đó thì có gì quan trọng chứ?” anh hạnh phúc nói. “Bây giờ thì còn gì quan trọng nữa đâu? Macloud và anh hôm nay quả thực đã trả tiền chuộc—nhưng điều đó đâu có ý nghĩa gì; dù là em mua tự do cho mình, hay tụi anh mua, hay cả hai cùng mua? Em và Davila đã trở về an toàn—đó mới là điều duy nhất có ý nghĩa!”
“Đúng lắm! Geoffrey, cậu nói chuẩn lắm!” giọng Macloud từ ngoài sảnh vang vào, rồi anh cùng Davila bước vào phòng.
Elaine thốt lên một tiếng nhỏ rồi giật mình đứng dậy.
“Đừng e ngại thế!” Macloud nói. “Davila và tớ cũng vừa mới ở trong tư thế tương tự bên Ashburton lúc nãy thôi. Đúng không em yêu?” vừa nói anh vừa đưa tay định ôm lấy eo cô.
Davila luồn người né tránh—dù khuôn mặt đỏ bừng phản bội đã xác nhận lời anh—rồi nấp sau lưng Elaine để tìm sự an toàn.
“Đó chỉ là niềm vui bị hoãn lại thôi, em yêu!” anh cười lớn. “Mặt khác này Elaine, làm sao Croyden lại chịu hàng phục thế? Hắn ta cứ thoái thác vì sự giàu có của em—nói rằng làm vậy chẳng khác nào đem tự do thế chấp cho số phận, rồi mấy trò nhảm nhí đại loại thế.”
“Im đi, đồ gàn!” Croyden thốt lên. “Tớ đang cố gắng chuộc lỗi đây.”
“Geoffrey,” Elaine nói, “anh cho tụi em xem bức thư của tên cướp biển già kia được không—bây giờ tất cả tụi em đều rất tò mò về nó đấy.”
“Dĩ nhiên là được chứ!” anh nói. “Anh sẽ cho em xem bức thư, cho em xem chỗ anh đã tìm thấy nó, và bất cứ thứ gì khác em muốn xem. Tối nay không có gì bị khóa cả.”
Họ đi về phía chiếc bàn viết. Croyden mở ngăn kéo bí mật và lấy bức thư ra.
“Một thông điệp đến từ cõi chết!” anh trang trọng nói rồi đưa nó cho Elaine.
Nàng mang nó đến bên bàn, trải ra dưới ánh đèn, rồi nàng cùng Davila cẩn thận nghiên cứu, hệt như Croyden và Macloud đã từng làm—đọc đi đọc lại những dòng bút phê của Duval.
“Em thấy có điều gì đó kỳ lạ ở những dòng tái úy này,” cuối cùng nàng lên tiếng; “cần phải có cái gì đó mới làm sáng tỏ được. Đây là toàn bộ bức thư rồi sao?—anh không tìm thấy thứ gì khác ư?”
“Không tìm thấy gì thêm!” Croyden đáp.
“Em xem thử được không?” nàng hỏi.
“Dĩ nhiên rồi em yêu.”
“Trong hốc này hơi tối. Cho em xin mồi diêm.”
Nàng quẹt diêm rồi ghé mắt nhìn sâu vào khoảng trống bên trong.
“Á!” nàng thốt lên. “Trong này có cái gì này!—chỉ lộ ra một góc thôi.” Nàng đưa tay vào. “It bị trượt xuống sau tấm vách ngăn giả. Em lấy ra ngay đây.—Được rồi!”
Nàng rút ra một mảnh giấy nhỏ rồi đưa cho Croyden.
“Tờ này có giúp ích gì không?” nàng hỏi.
Croyden liếc qua; rồi anh thốt lên một tiếng ngạc nhiên kinh ngạc.
“Có chứ!” anh nói. “Có đấy! Đây chính là chìa khóa mở ra bí ẩn này. Nghe này!”
Mọi người quây lại quanh anh trong lúc anh đọc:
“Hampton, Maryland.
Ngày 5 tháng 10 năm 1738.
Bản ghi nhớ kèm theo thư của Robert Parmenter, ngày 10 tháng 5 năm 1738.
Xét rằng, Parmenter đã quy định rằng số Châu báu này chỉ được dùng trong Lúc Cực Kỳ Lâm Nguy; và vì lẽ đó, bản thân ta vốn có dư dả Tài sản ở đời, Lâm Nguy ấy có lẽ sẽ không đến với ta. Và nhận thấy rằng mỏm Greenberry theo thời gian sẽ thay đổi—khiến cho con trai ta hoặc Hậu duệ của nó, nếu thời thế nảy sinh nhu cầu, có thể không còn xác định được vị trí Kho báu—ta đã cất Kho thớt Sắt khỏi nơi Parmenter chôn giấu, và đã đem chôn lại dưới hầm Nhà ta ở Hampton, giữ nguyên Lời dặn mà Parmenter đã đặt ra, rằng nó chỉ được sử dụng trong Lúc Cực Kỳ Lâm Nguy. Khi Lâm Nguy này nảy sinh, nó sẽ được tìm thấy ở góc phía đông nam của căn hầm phía trước. Ở độ sâu hai bộ, giữa hai tảng đá lớn, chính là chiếc Hộp sắt. Nó chứa đựng số châu báu, tuyệt mỹ nhất mà ta từng được chiêm ngưỡng.
Marmaduke Duval.”
Trong khoảnh khắc, họ đứng nhìn nhau sững sờ, kinh ngạc đến mức không thốt nên lời.
“Lạy Chúa!” Macloud cuối cùng thốt lên. “Không thể tin được là nó lại ở ngay đây suốt thời gian qua!”
Croyden chộp lấy cây đèn.
“Đi thôi!” anh nói.
Cả nhóm ùn ùn kéo xuống căn hầm, Croyden dẫn đầu. Moses tối nay được nghỉ, căn nhà hoàn toàn thuộc về họ. Khi đi qua chân cầu thang, Macloud vơ lấy một chiếc cuốc cuốc chim.
“Mấy việc đào bới cứ để tớ!” anh nói. “Góc đông nam là góc nào thế Davila?”
“Đằng kia, dưới mấy cái thùng gỗ kìa!” cô chỉ.
Những chiếc thùng mau chóng được dẹp sang một bên.
“Đất ở đây không cứng lắm,” Macloud nhận xét ngay sau cú cuốc đầu tiên. “Tớ nghĩ đào một thước vuông là đủ rồi.—Trong bản ghi nhớ nói ở độ sâu hai bộ đúng không nhỉ?”
Không ai trả lời. Như bị mê hoặc, họ dồn mắt theo từng nhịp cuốc hạ xuống. Với mỗi nhịp đập, họ nín thở chờ đợi tiếng kim loại va vào đá.
“Croyden, lấy cái xẻng đi, chúng ta sẽ cần đấy,” Macloud nói, tạm dừng lại đủ lâu để cởi phăng chiếc áo khoác.... “Ồ! Tớ quên chưa nói, tớ đã đánh điện cho thám tử Pinkerton đến thu hồi lại bọc tiền cậu chôn sáng nay rồi.”
Croyden chỉ gật đầu—anh đặt cây đèn lên một chiếc thùng rồi quay lại với một chiếc xúc than.
“Cái này chắc cũng xong việc,” anh nói rồi bắt tay vào xúc đất.
“Thật là nực cười!” Macloud vừa cuốc vừa nhận xét. “Săn tìm kho báu suốt mấy tuần liền khắp cả mỏm Greenberry, để rồi lại tìm thấy nó ngay trong hầm nhà, hệt như một hũ mỡ hay một mớ khoai tây.”
“Cậu đã tìm thấy nó đâu,” Croyden nhắc nhở. “Mà chúng ta đã đào đến độ sâu được ghi rồi đấy.”
“Chưa! Chúng ta chưa tìm thấy!—nhưng chúng ta nhất định sẽ tìm thấy!” Macloud đáp, dồn hết sức cắm mạnh lưỡi cuốc xuống đất theo từ cuối cùng.
Cạch!
Lưỡi cuốc va mạnh vào một tảng đá.
“Tớ đã nói sao nào?” Macloud reo lên, lại dồn sức nện cuốc xuống một vị trí khác.
Cạch!
Lại một tiếng dằn nữa! Rồi lại thêm một tiếng! Và một tiếng nữa! Nhát cuốc thứ năm làm tảng đá lộ ra—nhát thứ sáu và thứ bảy làm nó lay chuyển—nhát thứ tám và thứ chín hoàn tất công việc.
“Đưa xẻng cho tớ!” anh nói.
Khi đất đá đã được gạt sạch để lộ tảng đá to, anh cúi xuống, luồn các ngón tay dưới mép đá rồi dồn lực bẩy nó ra.
“Phần còn lại là của cậu đấy, Croyden!” anh bước sang một bên.
Chiếc hộp sắt đã xuất hiện!
Trong một khoảnh khắc, Croyden nhìn nó vẻ thẫn thờ. Có thật là số châu báu nằm ở đây!—ngay trong tầm tay anh!—dưới tấm nắp đó! Đột nhiên, anh bật cười!—vui sướng, hân hoan như một đứa trẻ—rồi nhảy tót xuống hố.
Chiếc hộp bám chặt vào chỗ nghỉ của nó trong một giây, như thể không muốn bị quấy rền—rồi nó chịu khuất phục, và Croyden nhấc bổng nó lên mặt đất.
“Chúng ta mang nó lên phòng đọc sách thôi,” anh nói, gạt sạch lớp đất bám trên mặt hộp.
Và ôm nó đi trước mặt mọi người, như ôm chiếc Hòm Thánh Ước, họ hân hoan bước lên tầng trên.
Anh đặt chiếc hộp lên bàn ngay dưới chiếc đèn chùm, nơi ai nấy đều có thể nhìn rõ. Chiếc hộp làm bằng sắt, đã hoen gỉ theo thời gian; kích thước khoảng một bộ vuông; được khóa bằng một cái móc, thanh khóa đã xỏ qua nhưng chưa gài chặt.
“Thắp ga lên đi Colin!—bật hết các ngọn đèn lên,” anh nói. “Tụi mình cần rực rỡ hết mức có thể.”...
Trong giây lát, chiếc nắp vẫn chưa chịu mở. Đột nhiên, nó lỏng ra.
“Hãy chiêm ngưỡng này!” anh reo lên và hất phăng nắp hộp ra.
Những tia sáng bùng lên đón chào họ hệt như ánh chớp tỏa ra từ muôn vàn ngọn đèn lấp lánh, ngập tràn sắc màu, sáng chói đến lóa mắt và sâu thẳm vô cùng. Một hang động kỳ diệu của thứ ánh sáng rực rỡ—hồng ngọc và kim cương, ngọc bảo bảo và lam ngọc, ngọc trai và opal tỏa sáng với tất cả ngọn lửa nội tại cùng sự uất hận của những tháng ngày bị lãng quên.
“Trời ơi! Đẹp đến nhường này!” Davila thốt lên.
Khung cảnh đó làm tan biến sự ngỡ ngàng.
“Chúng là thật đấy!” Croyden bật cười. “Các em có thể chạm vào—chúng sẽ không biến mất đâu.”
Họ bày số châu báu ra bàn—thành những đống nhỏ rực rỡ sắc màu. Các cô gái mỗi lần chạm vào đều thốt lên những tiếng khúc khích nũng nịu đặc trưng của phụ nữ khi được cầm trên tay những viên ngọc quý—nâng niu, vuốt ve và say đắm chúng.
Cuối cùng, chiếc hộp đã trống rỗng. Họ lùi lại ngắm nhìn—bị mê hoặc bởi tất cả:—sắc màu—những dải màu đỏ, trắng, xanh lá và xanh dương đang rực cháy.
“Thật tuyệt vời! Tuyệt vời quá!” Elaine thì thầm.
“Tuyệt vời—và đó là sự thật!” Croyden nói.
Hai chiếc vòng cổ nằm giữa đống hồng ngọc, giống nhau đến mức tuyệt mỹ như cùng một bàn tay thợ kim hoàn chế tác. Croyden trao một chiếc cho Macloud, chiếc còn lại anh cầm lấy.
“Để kỷ niệm ngày em được tự do, và kỷ niệm kho báu của Parmenter!” anh nói rồi đeo chiếc vòng lên bờ cổ cao quý của Elaine.
Macloud cũng đeo chiếc vòng của mình lên cổ Davila.
“Bây giờ thì còn ai bận tâm đến thời gian đã mất ở mỏm Greenberry hay khoản phần thưởng kép nữa chứ!” anh cười lớn.