Anne tóc đỏ ở Chổi Than

Lượt đọc: 197 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 34
Một nữ sinh trường Queen’s

❊ ❊ ❊

Ba tuần tiếp theo trôi qua vô cùng bận rộn tại chốn Green Gables. Anne đang tất bật chuẩn bị để nhập học tại Queen’s, và có biết bao nhiêu là việc may vá cần hoàn tất, bao nhiêu chuyện phải bàn bạc, sắp xếp. Tư trang của Anne rất đầy đủ và xinh xắn, bởi Matthew đã lo liệu chu đáo mọi thứ, còn Marilla thì lần hiếm hoi ấy chẳng hề phàn nàn bất cứ điều gì ông đã mua sắm hay gợi ý. Thậm chí, vào một buổi tối, bà còn bước lên căn gác mái hướng Đông mang theo một khúc vải màu xanh nhạt dịu dàng.

“Anne, đây là mảnh vải để may cho cháu một chiếc váy thật đẹp và nhẹ nhàng. Ta đoán chắc là cháu không thực sự cần nó; cháu đã có rất nhiều chiếc áo lưng xinh xắn rồi; nhưng ta nghĩ có lẽ cháu sẽ muốn có một bộ thật sang trọng để diện nếu được mời đi đâu vào buổi tối ở thị trấn, dự tiệc tùng hay những dịp tương tự. Ta nghe nói Jane, Ruby và Josie đều có những chiếc ‘váy dạ hội’ như chúng vẫn gọi, và ta không muốn cháu thua kém họ. Tuần trước, ta đã nhờ bà Allan giúp chọn mua nó ở thị trấn, và chúng ta sẽ nhờ Emily Gillis may cho cháu. Con bé Emily có gu thẩm mỹ lắm, và những đường cắt may của nó thì chẳng chê vào đâu được.”

“Ôi, Marilla, đẹp quá ạ,” Anne thốt lên. “Cháu cảm ơn dì nhiều lắm. Cháu cứ nghĩ mình không xứng đáng nhận được sự quan tâm chu đáo nhường này từ dì—điều đó chỉ làm cho việc rời xa nơi này mỗi ngày một thêm khó khăn đối với cháu mà thôi.”

Chiếc váy màu xanh được thêu thùa tỉ mỉ với vô số nếp gấp, đăng-ten và nhún bèo đúng theo gu thẩm mỹ của Emily. Một buổi tối nọ, Anne đã mặc nó để làm hài lòng Matthew và Marilla, rồi cao hứng ngâm bài thơ “Lời thề của thiếu nữ” ngay tại gian bếp cho hai người nghe. Khi Marilla ngắm nhìn gương mặt rạng rỡ, đầy biểu cảm cùng những cử động duyên dáng của cô bé, tâm trí bà lại ngược dòng thời gian trở về buổi tối Anne đặt chân đến Green Gables. Ký ức hiện lên rõ mồn một về đứa trẻ kỳ quặc, đầy sợ hãi trong chiếc váy vải thô màu nâu vàng kỳ cục, với nỗi đau đớn xé lòng hằn sâu trong đôi mắt đẫm lệ. Một cảm xúc nào đó trong ký ức ấy đã khiến khóe mắt Marilla ngấn lệ.

“Cháu thề là bài ngâm của cháu đã làm dì khóc đấy, Marilla,” Anne vui vẻ nói, cúi người qua chiếc ghế của Marilla để đặt một nụ hôn nhẹ tựa cánh bướm lên má bà. “Bây giờ thì cháu gọi đó là một chiến thắng vang dội đấy nhé.”

“Không, ta đâu có khóc vì bài thơ của cháu,” Marilla đáp, người vốn dĩ sẽ cảm thấy xấu hổ nếu bị bắt gặp đang mềm yếu vì mấy thứ thơ thẩn ấy. “Ta chỉ không sao kìm được khi nghĩ về cô bé Anne ngày trước thôi cháu à. Và ta lại ước gì cháu cứ mãi là một cô bé nhỏ nhắn, dù cho có đủ mọi thói quen kỳ quặc đi chăng nữa. Giờ thì cháu đã lớn khôn và sắp sửa đi xa; cháu trông cao ráo, sành điệu và quá ư là... khác biệt trong bộ váy đó—tựa như cháu chẳng còn thuộc về Avonlea này nữa vậy—và nghĩ ngợi hồi lâu thế là taâm trạng trở nên cô quạnh.”

“Marilla!” Anne liền sà vào lòng Marilla, hai tay nâng lấy gương mặt hằn những nếp nhăn của bà, rồi đăm đăm nhìn vào đôi mắt Marilla bằng tất cả sự dịu dàng. “Cháu chẳng thay đổi chút nào đâu—thực sự là thế. Cháu chỉ là được tỉa tót gọn gàng hơn và vươn những cành nhánh mới ra thôi. Con người thật của cháu—ở tận sâu trong này—vẫn y nguyên như vậy. Sẽ chẳng có bất kỳ khác biệt nào dù cháu đi đến đâu hay vẻ bề ngoài thay đổi ra sao; ở sâu thẳm trái tim, cháu vẫn mãi là cô bé Anne của dì, người sẽ ngày càng yêu thương dì, Matthew và Green Gables thân yêu nhiều hơn trong suốt cuộc đời mình.”

Anne áp má mình còn đang phơ phất nét xuân thì vào má Marilla đã phai tàn, rồi với tay vỗ nhẹ lên vai Matthew. Lúc bấy giờ, Marilla sẵn sàng đánh đổi rất nhiều thứ chỉ để có được khả năng diễn tả cảm xúc thành lời như Anne; thế nhưng tự nhiên và thói quen đã định đoạt khác đi, bà chỉ có thể siết chặt vòng tay ôm lấy cô con gái nhỏ, áp sát vào lồng ngực với niềm mong mỏi chẳng bao giờ phải buông tay con bé ra.

Matthew, với đôi mắt ngân ngấnấn nước vì xúc động, đứng dậy và bước ra ngoài trời. Dưới những vì sao của đêm hè xanh thẳm, ông sải bước đầy bồn chồn băng qua sân để đến chiếc cổng nằm dưới rặng dương.

“Thôi được rồi, tôi đoán là con bé chẳng bị hư hỏng gì mấy đâu,” ông lầm bầm đầy tự hào. “Tôi nghĩ việc thỉnh thoảng tôi cứ xen mồm vào rốt cuộc cũng chẳng hại gì lớn. Con bé vừa thông minh, xinh xắn lại vừa giàu tình cảm, điều đó quý giá hơn tất cả mọi thứ trên đời. Con bé là một phúc lớn cho chúng ta, và chẳng có sự nhầm lẫn nào may mắn hơn thế do bà Spencer tạo ra nữa—nếu đó thực sự là may mắn. Mà tôi chẳng tin đó là chuyện ngẫu nhiên đâu. Đó chính là sự sắp đặt của Đấng Tối Cao, bởi Ngài nhìn thấy chúng ta cần con bé, tôi cho là vậy.”

Cuối cùng thì ngày Anne phải lên đường ra thị trấn cũng đến. Buổi sáng tháng Chín đẹp trời ấy, cô và Matthew cùng nhau lái xe đi, sau một cuộc chia tay đẫm nước mắt với Diana và một cuộc chia tay mang tính thực tế, không một giọt lệ—ít nhất là từ phía Marilla. Nhưng ngay khi Anne vừa khuất dạng, Diana liền lau khô nước mắt và đi dự buổi dã ngoại trên bãi biển tại White Sands với mấy người họ hàng bên họ hàng hàng họ Carmody, nơi cô cố gắng tận hưởng khoảng thời gian khá vui vẻ; trong khi đó Marilla lao đầu vào những công việc không tên với một nỗi đau thắt lòng đắng cay nhất—cái thứ nỗi đau cứ âm ỉ thiêu đốt, gặm nhấm mà chẳng thể nào gột rửa nổi bằng những giọt nước mắt chực trào. Thế nhưng đêm hôm đó, khi lên giường đi ngủ với nỗi ý thức cay đắng và đau đớn rằng căn gác mái nhỏ cuối hành lang nay đã vắng bóng một sinh khí tuổi trẻ và chẳng còn hơi thở nhẹ nhàng nào lay động, Marilla đã vùi mặt vào gối, khóc nghẹn ngào vì nhớ thương cô con gái, để rồi khi bình tâm lại và nghĩ đến việc khóc lóc thảm thiết vì một tạo vật phàm trần là tội lỗi nhường nào, bà lại cảm thấy bàng hoàng chính mình.

Anne và những học sinh khác của Avonlea đến thị trấn vừa kịp lúc để vội vã chạy đến Học viện. Ngày đầu tiên trôi qua khá suôn sẻ trong bầu không khí hào hứng ngập tràn, khi được gặp gỡ tất cả các bạn học mới, làm quen với các giáo sư và được phân loại, sắp xếp vào các lớp học. Theo lời khuyên của cô Stacy, Anne dự định sẽ theo học chương trình Năm Hai; Gilbert Blythe cũng chọn như vậy. Điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ lấy được bằng giáo viên Hạng Nhất chỉ trong một năm thay vì hai, nếu mọi chuyện suôn sẻ; nhưng đồng thời nó cũng đòi hỏi khối lượng công việc lớn hơn và khó khăn hơn rất nhiều. Jane, Ruby, Josie, Charlie và Moody Spurgeon, vì không mang trong mình những hoài bão lớn lao, nên chỉ bằng lòng theo học chương trình Hạng Hai. Anne bỗng cảm thấy nhói lên một nỗi cô đơn khi nhận ra mình đang đứng trong một căn phòng với năm mươi học sinh khác, mà chẳng quen một bóng người, ngoại trừ cậu thiếu niên cao gàng, tóc nâu ngồi ở phía bên kia căn phòng; và việc quen biết cậu ta theo cái cách mà cô từng biết cũng chẳng giúp ích gì mấy, cô bi quan suy nghĩ. Dù vậy, cô vẫn không khỏi vui mừng vì họ học chung một lớp; sự kình địch xưa cũ vẫn có thể tiếp tục, và Anne chắc sẽ chẳng biết phải làm gì nếu thiếu vắng nó.

“Mình sẽ thấy chẳng thoải mái chút nào nếu thiếu đi điều đó,” cô thầm nghĩ. “Trông Gilbert có vẻ quyết tâm lắm. Chắc hẳn cậu ta đang tự nhủ ngay lúc này và tại nơi này rằng mình sẽ giành lấy huy chương. Cậu ta có chiếc cằm thật tuấn tú làm sao! Trước giờ mình chưa từng để ý điều đó. Mình thực sự ước gì Jane và Ruby cũng đăng ký học lớp Hạng Nhất. Dù sao thì khi quen dần, chắc mình cũng đỡ có cảm giác như con mèo lạc vào nhà hoang thôi. Tự hỏi không biết cô gái nào ở đây sẽ trở thành bạn của mình nhỉ. Quả là một điều đáng để tò mò. Tất nhiên là mình đã hứa với Diana rằng dù có quý mến bất kỳ nữ sinh Queen’s nào đi chăng nữa, thì người đó cũng không bao giờ có thể sánh được với cô ấy trong lòng mình; nhưng mình vẫn còn vô số tình cảm bậc hai để ban phát chứ. Mình thích vẻ ngoài của cô gái có đôi mắt nâu và chiếc áo màu đỏ thẫm kia. Trông cô ấy tràn đầy sức sống và rạng rỡ như đóa hồng nhung; còn kia là cô tiểu thư nhợt nhạt đang thẫn thờ nhìn ra cửa sổ. Cô ấy có mái tóc thật đẹp, trông như thể biết đôi điều về những giấc mơ vậy. Mình rất muốn làm quen với cả hai—làm quen thật thân thiết—đủ để có thể choàng tay qua eo họ và gọi những biệt danh thân mật. Nhưng ngặt một nỗi là hiện giờ mình chẳng quen họ và họ cũng chẳng biết mình là ai, và có lẽ họ cũng chẳng mải mai muốn làm quen với mình đâu. Ôi, cô đơn quá đi mất!”

Cảm giác cô đơn ấy lại càng nhân lên gấp bội khi Anne thui thủi một mình trong căn phòng trọ nhỏ xíu vào lúc chạng vạng tối. Cô không được ở trọ cùng những nữ sinh khác, những người đều có họ hàng ở thị trấn để cưu mang. Cô Josephine Barry rất muốn nhận cô về ở cùng, nhưng Beechwood lại quá xa Học viện nên điều đó là bất khả thi; thế nên chính cô Barry đã đi tìm giúp một nhà trọ, đồng thời đảm bảo với Matthew và Marilla rằng đó chính là chốn dừng chân hoàn hảo dành cho Anne.

“Người phụ nữ chủ nhà là một tiểu thư dòng dõi sa sút,” cô Barry giải thích. “Chồng bà ấy từng là một sĩ quan quân đội Anh, và bà rất khắt khe trong việc lựa chọn khách trọ. Anne sẽ chẳng phải tiếp xúc với bất kỳ thành phần khó ưa nào dưới mái nhà đó đâu. Đồ ăn rất ngon, và nhà trọ lại nằm gần Học viện, tọa lạc trong một khu phố yên tĩnh.”

Tất cả những điều này có lẽ hoàn sự thật, và quả thực đúng là như vậy, thế nhưng nó chẳng thể giúp ích được mấy cho Anne trong cơn hoảng loạn đầu tiên của nỗi nhớ nhà đang bủa vây lấy cô. Cô ủ rũ nhìn quanh căn phòng nhỏ hẹp, với những bức tường giấy dán xỉn màu chẳng treo nổi một bức tranh, chiếc giường sắt đơn sơ cùng chiếc kệ sách trống không; và một cảm giác nghẹn ngào kinh khủng dâng lên cổ họng khi cô nhớ về căn phòng màu trắng của mình ở Green Gables, nơi cô có thể tận hưởng bầu không khí xanh ngát yên bình ngoài hiên nhà, ngắm những đóa đậu ngọt đua nở trong vườn, ánh trăng vằng vặc soi rọi khu vườn cây ăn trái, dòng suối nhỏ chảy róc rách dưới sườn đồi cùng những nhành thông reo vi vu trong gió đêm ngoài kia, bầu trời đầy sao bao la, và ánh đèn từ cửa sổ nhà Diana chiếu rọi qua khoảng trống giữa hàng cây. Nơi đây chẳng có lấy một thứ gì như thế; Anne biết rằng bên ngoài cửa sổ phòng cô là một con đường nhựa cứng nhắc, với chằng chịt dây điện thoại che khuất cả bầu trời, tiếng bước chân xa lạ cùng hàng ngàn ánh đèn hắt lên những gương mặt lạ hoắc. Cô biết rằng mình sắp khóc đến nơi rồi, nhưng vẫn cố gắng chống cự.

“Mình sẽ không khóc đâu. Thật ngốc nghếch và yếu đuối làm sao—giọt nước mắt thứ ba lại đang lăn dài bên sống mũi kìa. Vẫn còn đang trực trào kìa! Mình phải nghĩ đến điều gì đó thật vui để chặn chúng lại mới được. Nhưng chẳng có gì buồn cười ngoài những thứ liên quan đến Avonlea cả, và điều đó chỉ làm mọi chuyện tồi tệ hơn mà thôi—bốn—năm—thứ Sáu tới mình sẽ được về nhà, nhưng sao khoảng thời gian ấy giống như cách đây cả trăm năm vậy. Ôi, chắc giờ này Matthew sắp về đến nhà rồi—và Marilla đang đứng ngoài cổng, ngóng dọc theo lối mòn chờ ông ấy—sáu—bảy—tám—ôi, có cố đếm cũng chẳng ích gì! Lát nữa chúng sẽ tuôn trào như lũ quét cho mà xem. Mình chẳng thể vui lên nổi—mà mình cũng chẳng muốn vui lên làm gì. Cứ chìm đắm trong đau khổ lại hay hơn!”

Trận lụt nước mắt ấy chắc chắn đã trào ra nếu Josie Pye không xuất hiện đúng vào khoảnh khắc đó. Trong niềm vui sướng vì được nhìn thấy một gương mặt quen thuộc, Anne hoàn toàn quên mất rằng giữa cô và Josie chưa bao giờ có nhiều thiện cảm dành cho nhau. Trong bối cảnh nhạt nhòa của cuộc sống ở Avonlea, dù chỉ là một thành viên nhà Pye thì cũng được chào đón nhiệt tình.

“Tớ rất vui vì cậu đã ghé qua đấy,” Anne chân thành nói.

“Trông cậu vừa khóc xong kìa,” Josie nhận xét với giọng điệu đầy vẻ thương hại đến phát bực. “Tớ đoán là cậu đang nhớ nhà—đúng là có những người kém khả năng tự chủ trong chuyện đó ghê cơ. Tớ thì chẳng có ý định nhớ nhà chút nào đâu, nói cho cậu hay nhé. Thị trấn này vui nhộn hơn cái xó xỉnh Avonlea tẻ ngắt kia nhiều. Tớ tự hỏi sao mình có thể tồn tại ở đó lâu đến thế cơ chứ. Lẽ ra cậu không nên khóc đâu, Anne ạ; trông chẳng đẹp đẽ gì sất, mũi và mắt cậu đỏ hoe lên trông như một mảng đỏ lòe loẹt ấy. Hôm nay tớ đã có một khoảng thời gian tuyệt cú mèo ở Học viện. Giáo sư tiếng Pháp của chúng ta cực kỳ dễ mến luôn. Bộ ria mép của thầy ấy làm tim cậu lệch nhịp cho xem. Cậu có món gì ăn được quanh đây không, Anne? Tớ đang đói ngấu đó nghiến đây. À, tớ đoán chắc là Marilla đã nhét đầy bánh trái cho cậu rồi. Đó cũng là lý do tớ ghé qua đấy. Không thì tớ đã đi công viêên nghe ban nhạc chơi cùng Frank Stockley rồi. Cậu ấy trọ cùng chỗ với tớ, và là một tay chơi cừ khôi đấy. Cậu ấy đã để ý thấy cậu trong lớp hôm nay và hỏi tớ đứa con gái tóc đỏ đó là ai. Tớ đã bảo cậu là một đứa trẻ mồ côi được nhà Cuthbert nhận nuôi, và chẳng ai biết rõ quá khứ trước đó của cậu ra sao cả.”

Anne đang tự hỏi không biết sự cô độc và những giọt nước mắt liệu có còn đáng chịu đựng hơn bầu bạn với Josie Pye hay không thì Jane và Ruby xuất hiện, trên áo khoác của mỗi người đều cài một đoạn ruy băng màu của trường Queen’s—tím và đỏ thẫm—với vẻ đầy tự hào. Vì lúc đó Josie đang “giận” không thèm nói chuyện với Jane nên cô nàng đành phải im re để thu lại sự khó chịu.

“Ồ,” Jane thở dài một tiếng, “tớ có cảm giác như mình đã trải qua bao nhiêu tháng năm kể từ buổi sáng tới giờ. Lẽ ra tớ phải ở nhà học bài Virgil rồi—ông giáo sư khó tính đó bắt chúng ta dịch tận hai mươi dòng để ngày mai lên lớp đấy. Nhưng tối nay tớ chẳng tài nào tập trung nổi để mà học. Anne ơi, tớ thoáng thấy dấu tích của nước mắt kìa. Nếu cậu vừa khóc thì hãy thú nhận đi. Nó sẽ giúp tớ lấy lại lòng tự trọng đấy, vì tớ cũng vừa tuôn rơi nước mắt trước khi Ruby tới đây. Tớ thấy đỡ buồn hơn khi biết mình không phải là kẻ ngốc duy nhất nếu có ai đó ngốc nghếch giống mình. Bánh ngọt ư? Cậu cho tớ một mẩu nhỏ xíu thôi nhé? Cảm ơn cậu. Vẫn mang hương vị đích thực của Avonlea đấy.”

Ruby nhìn thấy cuốn lịch của trường Queen’s nằm trên bàn liền gặng hỏi xem Anne có định thi lấy huy chương vàng hay không.

Anne đỏ bừng mặt và thừa nhận rằng cô đang suy nghĩ về điều đó.

“À, nhắc mới nhớ,” Josie lên tiếng, “cuối cùng thì trường Queen’s cũng nhận được một trong các suất học bổng Avery. Tin tức vừa được đưa tới hôm nay đấy. Frank Stockley đã nói với tớ như vậy—cậu biết đấy, chú của cậu ấy là một trong những thành viên hội đồng quản trị mà. Chuyện này sẽ được công bố tại Học viện vào ngày mai.”

Một suất học bổng Avery! Anne cảm thấy tim mình đập loạn nhịp, và chân trời hoài bão của cô như được mở rộng và dịch chuyển bằng một phép màu. Trước khi Josie thông báo tin này, đỉnh cao khát vọng của Anne chỉ là tấm bằng giáo viên cấp tỉnh, Hạng Nhất vào cuối năm, và có lẽ là cả huy chương nữa! Thế nhưng ngay trong khoảnh khắc ấy, khi âm vang từ lời nói của Josie còn chưa dứt, Anne đã thấy mình giành được học bổng Avery, theo học chuyên ngành Nghệ thuật tại Cao đẳng Redmond, và tốt nghiệp trong bộ lễ phục với chiếc mũ vuông. Bởi vì học bổng Avery là dành cho môn Tiếng Anh, và Anne cảm thấy đây chính là mảnh đất quen thuộc của mình.

Một nhà chế tạo giàu có ở New Brunswick đã qua đời và để lại một phần gia tài của ông để thành lập một số lượng lớn học bổng phân phát cho các trường trung học và học viện khác nhau ở vùng Hàng hải, dựa trên thành tích tương ứng của họ. Đã từng có rất nhiều hoài nghi về việc liệu trường Queen’s có nhận được suất nào hay không, nhưng cuối cùng mọi chuyện đã ngã ngũ, và vào cuối năm, học viên nào đạt điểm cao nhất môn Tiếng Anh và Văn học Anh sẽ giành được suất học bổng ấy—hai trăm năm mươi đô la một năm trong suốt bốn năm tại Cao đẳng Redmond. Thảo nào mà đêm đó Anne đi ngủ với đôi má hồng rực ráng!

“Mình sẽ giành cho bằng được suất học bổng đó nếu sự chăm chỉ có thể làm nên chuyện,” cô tự nhủ. “Matthew sẽ tự hào biết bao nếu mình trở thành một Cử nhân Văn khoa nhỉ? Ôi, thật tuyệt vời làm sao khi có những hoài bão. Mình thật hạnh phúc vì có quá nhiều ước mơ. Và dường như chúng chẳng bao giờ có điểm dừng—đó mới là điều tuyệt vời nhất. Ngay khi bạn vừa đạt được hoài bão này thì một hoài bão khác lại lấp lánh xuất hiện ở một tầm cao hơn nữa. Quả thực nó khiến cuộc sống trở nên thú vị biết bao.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của L. M. Montgomery

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.