Từ Quang Khải tỉnh lại sau đó đã là một ngày rưỡi.
Sau khi thi xong, hắn trở về phòng trọ nhỏ rồi ngả đầu xuống ngủ. Một giấc ngủ tới tận một ngày rưỡi, tỉnh dậy thì trời đã tối, nhìn đồng hồ mới biết đã nửa đêm.
Trong khoảnh khắc, hắn còn chưa định hình được hôm nay là ngày gì, nhưng khi đầu óc thanh tỉnh trở lại, một cảm giác mất mát to lớn ập đến.
Thi trượt rồi.
Hắn biết mình đã thi trượt.
Trong trường thi, thân thể khó chịu cùng đầu óc hỗn loạn khiến hắn ý thức được mình chắc chắn không thể làm tốt bài văn. Càng về sau, hắn hoàn toàn dựa vào ý chí để chống đỡ. Bản thân hắn đã biết rõ kết cục của kỳ thi này như thế nào – nếu không có kỳ tích xảy ra, thì chỉ có thể trượt.
Hắn đã ba mươi sáu tuổi, lặn lội khoa cử mười mấy năm. Năm ngoái, hắn vất vả lắm mới thi đậu cử nhân, vốn định năm nay thừa thắng xông lên, thi đậu tiến sĩ để rạng danh tổ tông, vẽ một cái kết thúc viên mãn cho con đường khoa cử của mình. Ai ngờ lại thất bại vì cái thân thể bất tranh khí, không thể thích ứng với thời tiết giá lạnh khắc nghiệt.
Trong nhà đã chẳng còn tích cóp để hắn tiếp tục thi cử, nên hắn mới phải ra ngoài mưu sinh. Kết quả, vất vả lắm mới thi đậu cử nhân, lại không thể tiến thêm một bước. Đối với Từ Quang Khải, người vừa mới cho rằng mình sắp lên đến đỉnh cao của cuộc đời, đây là một đả kích vô cùng lớn.
Hắn bắt đầu hoài nghi liệu mình có thể tiến xa hơn trên con đường khoa cử hay không, liệu mình có thể trở thành tiến sĩ, được đề tên trên bảng vàng, rạng danh tổ tông hay không.
Thậm chí có lúc, hắn cảm thấy dừng lại cũng tốt. Dù sao làm một cử nhân cũng đã có tư cách làm quan, có quan thân, được miễn thuế. Tự khắc sẽ có người dâng đất đai đến dưới danh nghĩa mình.
Vì nhà nghèo mà phải đi đọc sách, thi cử để tìm đường thoát thân. Thực ra, ngay khi thi đậu cử nhân, hắn đã đạt được mục đích rồi.
Chỉ là, cái cảm giác sung sướng khi đỗ giải nguyên đã làm tan vỡ sự tỉnh táo của hắn, khiến hắn ảo tưởng mình có năng lực tiến lên một cấp bậc cao hơn – tiến sĩ. Nhưng càng nghĩ, việc thi đậu giải nguyên Thuận Thiên phủ đối với hắn chưa hẳn đã không phải là một sự may mắn, là do quan chủ khảo thưởng thức nên hắn mới thi đỗ.
Có lẽ vận may đã dùng hết rồi.
Dù còn cả tháng nữa mới có kết quả chính thức, nhưng Từ Quang Khải đã gần như không còn hy vọng.
Thật sự là, với cái loại văn chương đó, chính hắn đọc còn thấy khó chịu, làm sao còn có thể có sức tiến xa hơn được nữa?
Điều nên làm bây giờ không phải là cân nhắc thứ tự thi cử, mà là nên tính đến việc rời khỏi kinh sư, trở về phương nam để tiếp tục cuộc đời mình. Khoa cử đã hết hy vọng, vậy thì chi bằng làm một vị cử nhân lão gia giàu có, an ổn mà sống qua ngày!
Mang theo ý nghĩ đó trong lòng, giữa đêm khuya, Từ Quang Khải khoác thêm áo rồi đứng dậy, bắt đầu thu dọn hành lý trong căn phòng nhỏ của mình.
Quần áo, sách vở, một ít ngân lượng – kỳ thực đồ đạc chỉ có bấy nhiêu. Là một sĩ tử đi thi, trên người còn có thể có gì khác đâu?
Đây là tất cả những gì quê nhà có thể chu cấp cho hắn. Gia đạo sa sút, Từ gia không thể gánh nổi hết lần này đến lần khác ba năm. Chờ hắn về nhà, sẽ phải bắt đầu đền đáp những nỗ lực mà gia đình đã dành cho hắn trong những năm qua.
Từ Quang Khải thu dọn xong đồ đạc trong tủ, lại lôi mấy cái hộp dưới gầm giường ra. Đến khi nhìn thấy một chiếc hộp dài nhỏ, hắn bỗng khựng lại.
Đây là…
Từ Quang Khải lặng lẽ mở chiếc hộp ra, cúi đầu nhìn vào bên trong.
Khẩu súng hỏa mai vẫn nằm yên vị trong hộp. Lúc trước, khẩu súng hỏa mai này cùng với bức thư của Tiêu Như Huân đã được hắn cất vào hộp, giấu dưới gầm giường. Vì lo lắng việc đọc thư sẽ ảnh hưởng đến việc chuẩn bị cho kỳ thi, Từ Quang Khải đã không xem mà định bụng thi xong sẽ đọc. Qua một thời gian, vậy mà hắn lại quên mất.
Từ Quang Khải vặn đèn sáng hơn một chút rồi mở bức thư ra.
Hắn vốn tưởng rằng một viên võ tướng dù có đọc sách, biết chữ thì cũng chẳng viết được nên trò trống gì. Cùng lắm cũng chỉ là vài ba câu xã giao, dăm ba dòng miêu tả quan hệ của bản thân trong triều đình mà thôi. Nhưng hắn vạn vạn không ngờ Tiêu Như Huân lại chẳng hề đả động đến những điều đó. Ngoài mấy câu mở đầu khách sáo, nàng ta chỉ một mực trần thuật chí hướng và lý niệm của mình.
"Ta tuy là võ tướng, nhưng cũng biết lễ nghĩa liêm sỉ. Từ nhỏ ta đã hiểu, đọc sách không phải để làm quan mà là để trị quốc, để khi quốc gia lâm nguy có thể đứng ra cứu giúp."
"Đọc sách để làm gì ư? Ta xuất thân võ tướng thế gia, không thể làm quan văn, vậy đọc sách còn có ích lợi gì sao? Ta từng đem câu hỏi này thưa với ân sư. Người suy nghĩ rất lâu rồi đáp rằng: Đọc sách là vì thiên hạ thương sinh."
"Lúc đó ta còn nhỏ, không hiểu đọc sách sao lại là vì thiên hạ thương sinh. Một võ tướng như ta đọc sách lại là vì thiên hạ thương sinh, há chẳng phải nực cười sao?"
"Đợi đến khi chiến dịch Ninh Hạ kết thúc, ta mới hiểu ra. Những gì ta học được từ sách vở, những tri thức ta có được, đều dùng để đối kháng ngoại địch, giành lấy thắng lợi, chém tướng đoạt cờ, bình định phản loạn, khôi phục dân sinh. Đó đại khái chính là điều mà ân sư muốn nói với ta."
"Ta từng nghe nói, Giang Nam là vùng văn giáo hưng thịnh, có rất nhiều người sau khi đọc sách, thi đậu cử nhân thì dừng bước, từ người đọc sách biến thành thân hào ở thôn quê, mượn đặc quyền của cử nhân mà ngang nhiên vơ vét của cải, sát nhập, thôn tính ruộng đất, xa hoa dâm dật, đổi trắng thay đen. Ta liền nghi hoặc, lẽ nào đọc sách chỉ là để làm giàu cho bản thân, đồng thời hiếp đáp đồng hương sao?"
"Nếu đọc sách trở thành cái thang để những kẻ tâm địa ác liệt hiếp đáp đồng hương, vậy đọc sách còn có ý nghĩa gì? Lời của Khổng Thánh Nhân còn có ý nghĩa gì? Những lời hùng hồn về việc nối nghiệp thánh hiền, mở ra thái bình cho muôn đời sau còn có ý nghĩa gì? Nếu không thể làm được việc kinh bang tế thế, thì tất cả học thức đều chỉ là đồ trang trí mà thôi."
"Như Huân cho rằng, nếu đọc sách chỉ để làm giàu cho bản thân mà không phải để lòng mang thiên hạ, cứu quốc cứu dân, thì việc đọc sách ấy chẳng có ý nghĩa gì. Nó chỉ khiến cho thiên hạ có thêm một kẻ dùng học thức của mình để ức hiếp bách tính, lừa gạt triều đình, một tên bại hoại khoác áo nho nhã mà thôi."
"Kẻ đọc sách đều khinh bỉ quân nhân thô bỉ, nhưng những việc bọn họ làm sau khi đọc sách chẳng lẽ không thô bỉ hơn ta, một kẻ võ tướng sao? Lấy văn loạn pháp, chẳng lẽ là văn nhã lắm sao?"
"Cứu quốc cứu dân không phải là đặc quyền của kẻ đọc sách, mà là việc mà người trong thiên hạ đều nên làm. Thiên hạ là của người trong thiên hạ, chứ không phải của riêng người đọc sách. Cứu quốc cứu dân không phải là việc mà một hai người đọc sách có thể hoàn thành, mà cần người trong thiên hạ đồng lòng hợp sức mới có thể làm được."
"Người đọc sách trong thiên hạ chẳng qua chỉ có ba mươi vạn, mà lê dân bách tính lại có đến vạn vạn người. Ba mươi vạn người đọc sách sao có thể gánh vác được quốc gia của vạn vạn lê dân? Cần người trong thiên hạ, không phân sĩ nông công thương, đều nguyện dốc sức. Cần không phân nam bắc, không phân già trẻ, đồng lòng hợp sức, thì thiên hạ mới có hy vọng. Đó chính là cái gọi là 'thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách'."
"Như Huân bất tài, dù chỉ là một võ tướng, một kẻ thất phu, nhưng cũng nguyện đem sự hưng vong của thiên hạ đặt lên vai, dùng những gì có được từ việc đọc sách và chinh chiến để tận một phần sức mọn vì sự hưng thịnh của thiên hạ."
"Nếu tiên sinh bằng lòng giúp ta một tay, cánh cửa trấn Miến Điện sẽ vĩnh viễn rộng mở đón tiên sinh. Nếu tiên sinh muốn làm quan trong triều đình, Như Huân nguyện làm bạn với tiên sinh, mong tiên sinh đừng quên mất căn bản của việc đọc sách khoa khảo, dù ở trong triều đình cũng phải ưu quốc ưu dân, chớ như Trương Giang Lăng. Đó là điều mà Như Huân mong mỏi."