Mạc phủ huấn tử
Mặc dù cuộc Tây chinh vì cuộc nổi loạn ở Ký Châu mà bị gián đoạn, nhưng Tào Tháo đã thành công đánh úp phá vỡ các cánh quân Quan Trung, chiếm đoạt được mảng đất đai rộng lớn, lại phái các tướng như Hạ Hầu Uyên chia quân trấn thủ Trường An, đã tạo nên thế uy hiếp như Thái Sơn đè đỉnh đối với Lương Châu. Giết địch đoạt đất hãy còn là thứ yếu, quan trọng nhất là thông qua trận chiến này, Tào Tháo đã vãn hồi được uy danh, cuối cùng ông cũng thoát khỏi vũng lầy thất bại ở Xích Bích, đứng vững trở lại. Đây không chỉ là sự uy hiếp đối với kẻ địch, mà còn là sự uy hiếp đối với triều đình Hán thất.
Nhân lúc Tào Tháo kéo quân khải hoàn, dưới sự điều giải của Đổng Chiêu, triều đình lại phát chiếu thư biểu dương công lao của Tào Tháo; đồng thời quyết định đem các huyện Đãng Âm, Triều Ca, Lâm Lự thuộc quận Hà Nội; Vệ Quốc, Đốn Khâu, Đông Vũ Dương, Phát Can thuộc quận Đông Động; Óc Tự, Khúc Châu, Nam Hoà thuộc quận Cự Lộc; Nhậm Thành thuộc quận Quảng Bình; Tương Quốc, Hàm Đan, Ích Dương (Quận Triệu là quận quốc, Tương Quốc là huyện) thuộc nước Triệu, tổng cộng mười bốn huyện sáp nhập vào sự quản lý của quận Ngụy; ngoài ra lại phong con trai của Thừa tướng là Tào Vũ làm Đô hương hầu, Tào Huyên làm Tây hương hầu. Tào Vũ là con trai nhỏ nhất của Hoàn thị, chưa đầy mười tuổi; Tào Huyên tuy đã đến tuổi nhược quán, nhưng lại do trắc thất Tần thị sinh ra, tính cách tầm thường đạm bạc. Hai vị công tử này tự nhiên sẽ không có công lao gì đối với xã tắc, không còn nghi ngờ gì nữa, đây lại là do mạc phủ ra ý chỉ mà làm. Ký Châu là căn cứ địa của Tào Tháo, quận Ngụy lại là quận đầu não của Ký Châu, đất đai của các châu quận khác được sáp nhập vào sự quản lý của quận Ngụy, điều này có nghĩa là lãnh thổ do Tào Tháo trực tiếp thống lĩnh ngày càng lớn hơn. Xây dựng thành Nghiệp, năm người được phong hầu, mở rộng đất đai, nhà họ Tào hiển nhiên đã có thế lực quốc trung chi quốc.
Thế nhưng, Tào Tháo trở về thành Nghiệp lại không vì thế mà vui mừng, việc đầu tiên chờ đợi ông giải quyết chính là hậu sự của cuộc nổi loạn. Các quan viên của Mạc phủ và quận Ngụy tề tựu tại Thính Chính điện, nói đây là một cuộc gặp gỡ, chi bằng nói là nơm nớp lo sợ chờ đợi sự xử trí của Tào Tháo.
Lưu phủ trưởng sử Quốc Uyên, Hộ quân Từ Tuyên, Ngũ quan trung lang tướng Tào Phi cùng trưởng sử của y là Lương Mậu, Công tào Thường Lâm năm người quỳ rạp một dãy ở cửa đường. Họ là những quan viên lưu thủ chủ yếu lần này, bất kể nguyên nhân nổi loạn ở đâu, trách nhiệm bắt buộc phải do họ gánh chịu, cho nên cuộc gặp gỡ vừa bắt đầu thì họ đã chủ động ra nhận tội. Tào Tháo tay tì lên án soái, mặt trầm như nước, chỉ nhìn cái đồng hồ hứng nước bằng đồng ở ngoài đường, hồi lâu không nói năng gì; các thuộc quan khác cũng không dám lên tiếng dễ dàng, đều cúi đầu nín thở ngưng thần, giống như tượng đất. Đại sảnh tĩnh lặng như tờ, bầu không khí vô cùng căng thẳng, đến nỗi rơi cây kim cũng có thể nghe thấy.
Tất cả mọi người đều chắc mẩm Tào Tháo lập tức sẽ đập bàn nổi giận, nhưng họ đã đoán sai, trầm mặc hồi lâu, ông chỉ lật lật công văn trên án, điềm tĩnh nói: "Quốc trưởng sử, số lượng phản tặc mà ngươi dâng sáu có nhầm lẫn gì không? Ta liên tiếp nhận được mấy đạo quân báo, chỉ riêng vùng Hà Giương, số kẻ nổi loạn đã lên tới mấy vạn, trừ những kẻ do Giả Tín, Tào Nhân tiêu diệt, ít nhất vẫn còn vạn đồng đảng, vì sao số lượng ngươi dâng tấu chỉ có vài nghìn?"
Quốc Uyên quỳ nhích lên phía trước hai bước, hạ giọng nói: "Tướng lĩnh xưa nay khi phá địch để khoe khoang công lao thường lấy một làm mười khai báo số lượng tăng lên. Nhưng bề tôi cho rằng lần bình định này không giống trước đây, cho nên đã cân nhắc lại."
“Có gì khác biệt?” Tào Tháo rất muốn nghe lý do của hắn.
“Trịnh chiến trước đây chính là chinh phạt ngoại khấu, chém bắt được số lượng nhiều, là muốn giương oai vũ công để uy hiếp bọn bạo ngược không tuân thủ. Thế nhưng Hà Giương nằm trong phong vực của Thừa tướng, bình định phản loạn tuy có công đánh dập, chỉ là… chỉ là…” Quốc Uyên nói đến đây tỏ ra vô cùng khó xử.
“Chỉ là cái gì?”
Quốc Uyên hoảng hốt dập đầu: “Bề tôi lấy làm hổ thẹn.” Thiên hạ đều biết Ký Châu là sào huyệt của Tào Tháo, ở đây xảy ra nổi loạn chẳng khác nào chứng minh nhà họ Tào thất đức, đảng phản loạn dâng lên càng nhiều thì thể diện của Tào Tháo càng khó nhìn. Trịnh chiến bình loạn trước đây phần lớn đều lấy một chọi mười phóng đại số lượng, để làm nổi bật công lao uy hiếp bách tính, Quốc Uyên lại làm ngược lại, đừng nói là không khai báo gian dối, ngay cả những người ban đầu bị Giả Tín quy vào hàng phản đảng cũng được sàng lọc đi sàng lọc lại, phàm là những kẻ có thể tha thứ, có thể thương xót, bị xúi giục mù quáng, có thể lược bớt thì cố gắng lược bớt. Đương nhiên đây là vì suy nghĩ cho thể diện của Tào Tháo, nhưng cũng cứu vãn được hàng nghìn sinh mạng.
Tào Tháo không khỏi gật đầu: “Hiếu học gần với trí, biết nhục gần với dũng. Tâm ý thế này có thể gọi là vô cùng khổ tâm, ngươi đứng dậy về hàng đi.”
“Bề tôi có tội.”
Tào Tháo phất phất tay: “Tội không ở ngươi.”
“Đa tạ Thừa tướng khoan dung.” Quốc Uyên đứng dậy hành lễ, run rẩy lùi về hàng.
Tào Tháo lại nói: “Từ hộ quân, ngươi cũng không có tội.”
Từ Tuyên lại không chịu đứng dậy, quỳ ở đó liên tục lắc đầu, đau đớn xót xa nói: “Thánh nhân vẫn dạy: ‘Nguy nhi bất trì, điên nhi bất phù, tắc tương yên dụng bỉ tướng hĩ?’ Bề tôi trị quân không có năng lực, lúc chiến sự nổ ra lại không thể thân chinh ra chiến trường, thật sự tội không thể tha.” Những lời hắn nói quả thực là lời từ đáy lòng, trận chiến còn chưa đánh mà binh quyền đã bị Tào Phi tước đoạt, cái chức hộ quân này của hắn quả thực không còn mặt mũi nào nữa.
Tào Tháo nặn ra một nụ cười nhạt: “Lúc trước lão phu chọn ngươi làm hộ quân lưu thủ, căn bản không phải cảm thấy ngươi có tài trị quân, mà là dùng đức hạnh của ngươi. Cuồn nổi loạn lần này khởi phát từ dân gian, không phải binh lính sinh bệnh, đủ thấy ngươi không nhục mệnh lệnh. Đáng tiếc là kẻ thống sự không hiểu tâm ý của lão phu, không thể học được lòng nhân đức của ngươi, nếu có thể được một hai phần của ngươi, sao có thể xảy ra cuộc nổi loạn này?” Cái gọi là “kẻ thống sự” tự nhiên ám chỉ Tào Phi, xem ra Tào Tháo đã hoàn toàn tính sổ khoản nợ này lên đầu con trai.
Từ Tuyên sao dám thoái thác cho mình, vội vàng nói: “Không phải lỗi của Ngũ quan trung lang tướng, hoàn toàn là do bọn chúng tôi phò tá không đầy đủ…”
“Lão phu đã nói không trị tội ngươi, đứng lên!” Tào Tháo không muốn nghe hắn nói tiếp.
Từ Tuyên bỗng ngẩng đầu lên vừa vặn nhìn thấy ánh mắt nghiêm nghị của Tào Tháo, không dám tranh biện nữa, đành phải đứng dậy hành lễ lùi về hàng. Tào Tháo lại chỉ vào Lương Mậu, Thường Lâm: “Hai người các ngươi cũng đứng lên đi.”
“Thừa tướng, chúng tôi…” Hai người cũng muốn dập đầu nhận tội.
“Lão phu đã nghe nói rồi, hai người các ngươi phò tá con trai ta hết lòng hết sức, loạn lạc vừa chớm nở đã ra sức ngăn cản hắn thân chinh, quả thực có công không có tội.”
Lương Mậu nào dám nhận công lao này, vội nói tốt thay cho Tào Phi: “Ngũ quan trung lang tướng vốn sinh ra đã thông minh sáng suốt, nếu dẫn binh bình định phản loạn nhất định có thể mã đáo thành công, đều là do chúng tôi hành động quá cẩn trọng, chỉ sợ chính sự sơ suất nên mới khuyên can ngài ấy không nên đi. Vô tình mà làm, thật sự không tính là công lao gì cả.”
Tào Tháo cười lạnh nói: “Có tình hay vô tình lão phu đều phải cảm ơn ngươi. Sinh ra đã thông minh sáng suốt? Hè hè hè, nếu thực sự kêu hắn dẫn binh bình định phản loạn, bây giờ còn không biết sẽ hỗn loạn thành cái dạng gì nữa!” Đây đã là những lời nói hờn dỗi. Tào Phi ở bên dưới nghe thấy vừa sợ vừa tủi thân, thực sự không hiểu vì sao phụ thân lại xem thường năng lực của mình như vậy, vì sao lại đoán mò rằng hắn không thể bình định được quân phản loạn.
Thường Lâm còn muốn giải thích thêm hai câu, nhưng đã bị Tào Tháo quát đoạn: “Lão phu nói không có tội chính là không có tội, các ngươi đều đứng dậy hết cho ta!” Lương Mậu, Thường Lâm không tiện trái lệnh, ngượng ngùng liếc nhìn Tào Phi một cái, đành phải đứng dậy về hàng.
Điện Thính Chính rộng lớn như vậy mà chỉ có một mình Tào Phi vẫn quỳ trên mặt đất, Tào Tháo lại không vội xử trí hắn, chỉ lật giở công văn lạnh lùng nói: “Ngươi quỳ sang một bên cho ta, đợi xử lý xong việc rồi sẽ tính sổ với ngươi…” Chỉ một câu này, tất cả các đại thần đều vén áo quỳ rạp xuống: “Thừa tướng bớt giận, khoan dung cho Trung lang tướng đại nhân.”
“Khoan dung? Lão phu có thể tha thứ cho hắn một lần, có thể tha thứ cho hắn hết lần này đến lần khác sao?” Sắc mặt Tào Tháo càng thêm khó coi, “Việc này không can gì đến các ngươi, đều đứng dậy hết cho ta!”
Hoàn cảnh thế này ai nỡ mặc kệ chứ? Mọi người hoảng hốt dập đầu, cầu xin Tào Tháo khoan thứ cho Tào Phi, vậy mà không có một ai đứng lên. Tào Tháo thấy tình cảnh này càng thêm bất bình, ném tấm thẻ tre trong tay xuống, nghiêm giọng nói: “Ta bảo các ngươi đứng lên, không nghe thấy sao? Chẳng lẽ các ngươi đều nhận được vài hòm gấm vóc của nó, nên mới nói giúp cho nó sao?”
Câu nói này vừa thốt ra liền dọa mọi người sợ chết khiếp — trước đó Tào Phi tặng quà cho quần thần, phần lớn người có mặt đều nhận, không phải vì ham chút gấm vóc đó, mà là không dám đắc tội Tào Phi. Hiện nay Tào Tháo lôi chuyện này ra, nếu còn cầu tình nữa chắc chắn sẽ mang tội giao du với công tử, kết đảng múa mép, cho nên ai nấy đều đứng phắt dậy như bị kim châm, không dám nói năng gì nữa.
Tào Tháo được đà lấn tới, vùng đứng phắt dậy, cuối cùng cũng trút giận lên đầu Tào Phi: “Ngươi tưởng những chuyện này ta không biết sao? Đường đường là con trai Thừa tướng lại đi hối lộ quan viên Mạc phủ triều đình, không tiếc sức lực để mua chuộc lòng người, tưởng như vậy là có thể bảo đảm ngươi kế vị trí của cha? Tài năng trộm gà bắt chó thì có đấy, cái gì chưa học được mà đã học trước thói tranh đoạt doanh trại tranh giành quyền lực rồi! Đáng tiếc là lão phu muốn một người công trung ái quốc, thành tâm làm việc, mấy trò vặt vãnh lén lút này không giúp được gì cho ngươi đâu!”
Tào Phi quỳ ở một bên, hai tay bấu chặt vào khe gạch, đầu cúi thật thấp. Chuyện bí mật nhường này mà phụ thân lại công khai vạch trần, chẳng khác nào lột sạch sành sành hắn trước đám đông, tình cảnh này biết giấu mặt vào đâu?
Tào Tháo dần kìm nén cơn giận, vừa đi đi lại lại vừa nói: “Ngươi cũng là người hơn hai mươi tuổi rồi, lão phu vốn muốn giữ thể diện cho ngươi, nào ngờ ngươi lại không biết điều. Triều đình ban chức quan cho ngươi, ngươi không bận dâng biểu tạ ơn, ngược lại còn dẫn một đám người đi du lịch Nam Bì, ngươi không coi triều đình ra gì, thì từ khi nào từng coi phụ thân ra gì? Những kẻ cùng ngươi đi Nam Bì ta đều biết cả, chẳng qua cũng chỉ là một lũ ô hợp thối nát của ngươi mà thôi. Bọn họ cùng ngươi mưu tính những chuyện cút gì? Nói!”
Được thăng quan rồi đi du lịch là thật, nhưng Tào Phi chỉ cùng mọi người ngắm phong cảnh thưởng trăng, Tào Tháo bảo hắn có mưu đồ mật thiết, đây chính là suy đoán lung tung rồi. Ký thất Lưu Trinh, Nguyễn Vũ đều là một phần tử đi du lịch Nam Bì, có lòng muốn ra nói một câu công đạo, chỉ sợ rước họa vào thân, lại bị Tào Tháo nói thành là lũ ô hợp thối nát, ai nấy sợ đến cắt không còn giọt máu, đờ ra như gà gỗ. Tào Phi có oan mà không nơi kêu giận, ruột gan hối hận đến xanh cả, chỉ có thể khổ sở phân biện: “Phụ thân, tuyệt đối không có chuyện này, tuyệt đối không có chuyện này mà…”
Tào Tháo sao chịu nghe hắn giải thích, tự mình hung hăng nói: “Đậu Phụ kia đã nhận được lợi lộc gì của ngươi, mà ở bên cạnh ta ngày ngày lải nhải nói tốt cho ngươi, lần chinh chiến này hắn đã tử trận sa trường, lão phu vốn có ý truy phong, nhưng vì nể mặt ngươi, lão phu quyết định không truy phong cho hắn nữa. Tránh cho những kẻ tầm nhìn ngắn cõi đó cảm thấy đi theo ngươi có lợi, từng tốp ba tốp năm đều đến bợ đỡ ngươi! Còn những kẻ cùng giuộc với ngươi, ngươi cứ yên tâm, bọn chúng cũng chẳng khá khẩm gì đâu, chúng ta từ từ tính sổ sau!”
Tào Phi vừa đau vừa buồn, một Đậu Phụ thì chuyện nhỏ, nhưng sau này còn ai dám thân cận với hắn, giúp đỡ hắn chứ? Tào Tháo đây là muốn chặt đứt quan hệ của hắn rồi!
Tào Tháo càng nói càng giận, chỉ thẳng vào mũi Tào Phi mắng mỏ xối xả: “Lão phu hết lần này đến lần khác bao dung ngươi dạy bảo ngươi, ngươi từng lọt tai được mấy chữ? Ta trấn thủ Ký Châu bảy năm, sờ tâm tự hỏi tuyệt đối không có chỗ nào hổ thẹn với bách tính. Ngươi nhậm chức chưa đầy nửa năm đã gây ra mớ hỗn độn này, không phải ngươi thất đức thì là gì? Tên phản tặc Điền Ngân đó vốn là một hào tộc ở Hà Giương, Tô Bá chẳng qua chỉ là một tá điền quèn! Phụ thân thật sự từ tận đáy lòng khâm phục ngươi, chưa đầy nửa năm, hào cường thứ dân đều bị ngươi đắc tội sạch sành sanh, ngươi thật đúng là có bản lĩnh! May mà ngươi chỉ là con trai ta, nếu sinh ra ở hoàng gia ngồi thiên hạ, há chẳng phải thiên hạ đều phản loạn sao? Hồi nhỏ phụ thân đã không mấy yên tâm, lúc đọc sách thì đầu cơ trục lợi, mấy anh em cùng đi săn, lúc nào cũng là người khác ra tay trước ngươi tranh thủ lúc hỗn loạn thủ lợi, bắn được thứ gì về đều nói là của mình. Lúc hạ thành Nghiệp ai nấy đều bận rộn quân vụ, chỉ có mỗi ngươi lẻn vào tư trạch nhà họ Viên kinh động nữ quyến, tìm hoa ghẹo liễu không việc gì làm…”
Một tràng dài những lời không đầu không cuối này ném ra, những người có mặt đều ngẩn người ra cả. Ngay cả chuyện đọc sách đi săn hồi nhỏ mà cũng nhớ ra được, lại còn đem chuyện của nhà họ Trân ra nhắc lại, đây là chuyện từ năm nảo năm nào rồi? Toàn là những chuyện vặt vãnh trong nhà, thứ thực sự có sức nặng chỉ có cuộc nổi loạn, mà kẻ nên chịu trách nhiệm cho cuộc nổi loạn này rốt cuộc là ai? Tào Tháo đây căn bản không phải là dạy bảo, mà là một màn trút giận, muốn trút hết sự bất mãn đối với con trai trong suốt mấy năm qua cùng nỗi uất ức từ trận thất bại ở Xích Bích ra ngoài.
Tào Phi không ngờ mình lại biến thành cái bao trút giận, chỉ cảm thấy phụ thân dường như muốn trút tất cả tội lỗi trên đời này lên đầu mình, ngoài việc dập đầu nhận tội hết lần này đến lần khác, còn có thể làm gì hơn?
Tào Tháo mắng mỏ xối xả không ngừng nghỉ, chuyện cũ rích từ đời tám hoang nào cũng nhớ lại, tiếp đó lại nhìn cái đồng hồ hứng nước bằng đồng ở ngoài đường, nhìn những giọt nước tí tách rơi lạnh lùng nói: “Đời người ngắn ngủi biết bao? Bóng câu qua cửa chớp nhấp nháy là trôi qua, ta già rồi, nhưng ta muốn tìm một người kế nghiệp có tài năng xuất chúng, như ngươi tài đức đều không có thì sau này làm được cái tích sự gì? Phàm là Ngang nhi, Xung nhi mà vẫn còn, há đến lượt ngươi cái đồ bất hiếu này? Con trai chết của ta ơi…” Kỳ thực nói nãy giờ, đây mới là quay về chủ đề chính. Tào Tháo trong thâm tâm vẫn nhớ nhung Tào Ngang, Tào Xung, cho nên mới phóng đại lỗi lầm dù là nhỏ nhất của Tào Phi lên vô hạn, cái ông không thích chỉ là tính cách của Tào Phi, đơn thuần bàn về chuyện đối nhân xử thế thì cũng chẳng có gì là to tát lắm, trên đời này làm gì có cha mẹ nào không thiên vị.
Biện Bỉnh sớm đã nghe không nổi nữa, lại vì chuyện ngoại sanh xây dựng đài Đồng Tước mà mình phải chịu tiếng oan thay, trong lòng thật sự không nhẫn nại được nữa, cậy vào thân phận ngoại thích bước ra khuyên can: “Thừa tướng hãy tạm bớt cơn giận dữ, Đại công tử cẩn trọng cần cù hiếu thảo, chưa từng có lỗi…”
Lời còn chưa dứt Tào Tháo đã quay mặt mắng: “Cái cước phụ (cậu) nhà ngươi làm tốt lắm, quả nhiên nói giúp cho ngoại sanh ngươi, chuyện lao dịch dân đinh ở Tịnh Châu ta còn chưa tính sổ với ngươi đấy! Mấy đứa trẻ này từ nhỏ đến lớn đều bị ngươi nuông chiều hư hỏng, ngươi từng dạy chúng học hành tử tế ngày nào chưa? Suốt ngày chỉ biết dẫn chúng đi chơi bời lêu lổng, nuông chiều chúng không biết trời cao đất dày là gì, bây giờ gây ra họa rồi, ngươi còn mặt mũi nào mà xin giùm cho nó!” Một tràng mắng chửi khiến Biện Bỉnh mắng cho xám ngoét cả mặt.
Hôm nay Tào Tháo thực sự có hơi quá đáng rồi, việc nước việc nhà nhập nhằng làm một, lại còn không nhận người thân. Ngay cả cậu ruột lên tiếng cũng không ăn thua, người khác lại càng không dám tùy tiện xen mồm vào, mọi người trơ mắt nhìn ông, đều không biết phải làm sao cho phải. Tào Tháo thở hổn hển đi qua đi lại trước mặt Tào Phi, không hiểu vì sao, lúc này Tào Phi càng ngoan ngoãn vâng dạ thì Tào Tháo lại càng tức giận, đã bắt đầu nảy ý định tước bỏ chức Ngũ quan trung lang tướng của hắn rồi.
Đột nhiên có một giọng nói cao vút vang lên: “Thừa tướng, thuộc hạ có một lời mong ngài suy xét sâu xa.” Mọi người đều vô cùng kinh ngạc — người nào mà dám cất lên tiếng kêu của ngựa chiến vào cái lúc nước sôi lửa bỏng này? Mọi người liếc nhìn sang, chỉ thấy một vị quan viên áo đen hơn năm mươi tuổi bước ra khỏi hàng. Người này tuy là văn sĩ, nhưng mắt cọp râu hùm diện mạo hùng vĩ, tiếng như chuông đồng chấn động bốn bề, chính là Tây tào duyện của Mạc phủ - Thôi Diễm.
“Đây là chuyện cha con ta, ngươi có gì mà nói?” Tào Tháo biết hắn là một người tính tình ngay thẳng.
Thôi Diễm lại tiến lên mấy bước, chắp tay nói: “Thừa tướng gánh vác trọng trách của thiên hạ, lại há có chuyện gia sự bình thường? Năm ngoái Đại công tử cũng từng phái người mang gấm vóc đến tặng cho thuộc hạ, thuộc hạ không dám nhận, chuyện này Thừa tướng cũng đã biết rồi. Cho nên thuộc hạ tuyệt đối không có tâm tư tư lợi ích kỷ, những luận điệu thốt ra mong Thừa tướng suy xét tường tận.”
Tào Phi vừa thấy Thôi Diễm bước ra, tim suýt nhảy ra ngoài, cứ đinh ninh hắn là người của phe Tào Thôi, nhất định sẽ nhân cơ hội này gièm pha dậu đổ bìm leo, trong lòng chỉ mong phụ thân cũng đẩy hắn về. Nào ngờ Tào Tháo lại thở dài một hơi: “Ngươi đã khăng khăng muốn nói thì cứ nói đi.”
“Tuân lệnh.” Thôi Diễm cúi người nói, “Đã ở vị trí đó thì phải trung thành với công việc đó, Ngũ quan trung lang tướng gánh vác trọng trách lưu thủ, dưới thời quản lý của ngài ấy mà Ký Châu xảy ra phản loạn, bất kể nguyên nhân do đâu, chuyện này ngài ấy quả thật cũng khó lòng chối bỏ trách nhiệm.” Nghe đến đây lòng Tào Phi lạnh ngắt, đoán là kẻ này công kích mình không tiếc sức, nhất định sẽ hại mình mất sủng ái mất quan chức, nào ngờ nói đến đây giọng điệu lại xoay chuyển, “Thế nhưng… căn nguồn của loạn Hà Giương ở đâu chẳng lẽ Thừa tướng không rõ? Lúc trước thuế má bỗng nhiên tăng vọt, sĩ dân bất mãn nên mới sinh ra oán hận, thêm vào đó Thừa tướng dẫn binh ở bên ngoài, Ký Châu trống rỗng, lúc đó mới có những kẻ ưa loạn ở giữa châm ngòi thổi gió sinh sự, Trung lang tướng tối đa cũng chỉ là giám sát không chặt chẽ mà thôi. Hơn nữa, nói một cách công tâm thì Thừa tướng thực sự giao quyền hành cho ngài ấy chưa? Tất cả các trọng thần lưu thủ đều có quyền tùy nghi hành sự, bản thân Trung lang tướng có thể tự chủ quyết định được chuyện gì? Phủ Thừa tướng, phủ Ký Châu, phủ Ngũ quan trung lang tướng, ba bên công việc đều đè nặng lên một mình ngài ấy, thứ cho thuộc hạ nói thẳng, cho dù là Thừa tướng ngài cũng chưa chắc đã cực nhọc nhường này đâu nhỉ? Sao có thể quy chụp tất cả mọi lỗi lầm lên đầu Trung lang tướng chứ?” Đổi lại là người khác thì vạn lần không dám nói những lời này, chỉ có Thôi Diễm bình thường vốn có tiếng công chính, cho nên mới đường hoàng chính trực không chút che đậy.
Tào Phi quả thực không dám tin, Thôi Diễm lại dám nói giúp cho mình, hơn nữa câu nào câu nấy gtrúng trọng tâm, cứ như thể đều xuất phát từ đáy lòng mình vậy. Bỗng chốc trong lòng hắn dâng lên một xúc động muốn khóc, nếu không phải đang quỳ ở đại sảnh, có lẽ giờ này hắn đã nước mắt đầm đìa rồi. Hắn nhận ra mình đã sai, sai rành rành, Thôi Diễm quả nhiên giống như Ngô Chất đã nói, là một vị đại thần công trung ái quốc, kiên cường chính trực. Đại thần thực sự vĩnh viễn đứng về phía công lý, sẽ không vì kết thông gia với ai mà thay đổi tấm lòng công chính. Gió lớn biết cỏ cứng, hắn từ sợ hãi chuyển sang bi thương, lại từ bi thương chuyển thành căm hận, hận bản thân tầm nhìn ngắn cõi, cứ nghĩ ân huệ nhỏ nhặt là có thể thu phục thế nhân, thật sự là đã xem thường những vị đại thần này, xem thường chuyện thiên hạ quá đơn giản rồi.
Cũng vì Thôi Diễm xưa nay không thiên vị cầu thị thực tế, vậy mà hỏi câu nào khiến Tào Tháo á khẩu không trả lời được, tuy nhiên cái gan dám phạm vào cơn thịnh nộ này quả thực không phải người thường có thể sánh kịp. Thôi Diễm thấy Tào Tháo thở hổn hển không phản bác, lại quay người nói với các đại thần có mặt: “Ban nãy Thừa tướng nói Trung lang tướng trăm bề không tốt, ta lại cứ cả gan nói một điểm tốt của ngài ấy. Mấy ngày trước Mao Đông Tào điều tộc đệ của hạ quan là Thôi Lâm làm Biệt giá Ký Châu, Trung lang tướng đã nói có hiềm nghi tư lợi. Câu nói này nói rất hay! Chúng ta làm quan đều phải có tâm cẩn trọng, câu nói của Đại công tử không những vì chính sự của Mạc phủ, chính sự của triều đình mà suy nghĩ, cũng là vì danh tiết của một môn tộc họ Thôi chúng ta mà suy nghĩ. Nửa năm nay Trung lang tướng thành tâm làm việc thực tế kiên định, trăm công nghìn việc chưa từng có một giây phút thảnh thơi, mọi người đều thấy rõ rành rành, sao có thể lấy một lỗi lầm mà che lấp trăm điều tốt?” Mao Giới biết rõ chi tiết nội tình hơn Thôi Diễm, nhưng phàm là chuyện gì cũng nên giấu điều xấu khoe điều tốt, Thôi Diễm đã đem chuyện này nói thành ý tốt của Tào Phi, thì hắn cũng không cần phải vạch trần làm gì.
Chỉ cần có một người chịu đứng ra nói lời công đạo, thì những người khác cũng dễ ăn nói hơn. Quốc Uyên lập tức tiếp lời: “Thôi Tây tào nói rất đúng, hạ quan ngày ngày cùng Trung lang tướng xử lý công việc, trong nửa năm nay phàm là mọi công vụ lớn nhỏ, ngài ấy đều phải suy đi tính lại nhiều lần mới dám quyết định. Kinh Thi có câu ‘Như thiết như tha, như trác như ma’, đây chính là điểm vượt trội không ngại phiền hà của Trung lang tướng. Bây giờ nghĩ lại lúc ban hành thuế mới ban đầu, Trung lang tướng cũng từng dặn dò chúng tôi cẩn trọng hành sự để tránh sinh ra phiền phức, nếu như chúng tôi có thể chú ý nhiều hơn thì chưa chắc đã có cuộc nổi loạn này đâu.” Mọi người lần lượt gật đầu — những gì Quốc Uyên nói không mất đi tính công bằng, bàn về tài năng thì Tào Phi kém xa phụ thân ngài ấy, nhưng sự cần mẫn thực tế thì quả thực là rành rành trước mắt ai cũng thấy rõ.
Ngay cả Từ Tuyên cũng bước ra nói: “Loạn ở Hà Giương bùng nổ đột ngột, Trung lang tướng tuy vượt quyền nhưng có thể quyết đoán trong chớp mắt, lại còn dẫn binh Tiên Ti chặn địch ở U Châu, tránh được tình thế xấu đi. Sự quyết đoán quyết định kịp thời thế này cũng xem như không phụ lòng sáng suốt của Thừa tướng rồi.”
Mấy vị đại thần này đều là những trang quân tử ngay thẳng, không dễ dàng gì khen ngợi bừa bãi, đã đồng lòng khẳng định Tào Phi, ít nhất chứng minh rằng trong lòng họ Tào Phi là một người đạt tiêu chuẩn. Những người khác cũng hùa theo thấp giọng phụ họa, Lương Mậu, Thường Lâm đều là thuộc hạ của Tào Phi, không tiện nói giúp cho hắn vào lúc này, chỉ đành liên tục gật đầu đồng tình. Trong lòng Tào Phi đã yên tâm được một nửa, thấy tình cảnh này lại càng cảm động không nói nên lời. Trên đời này ai mới là người thực sự đối xử tốt với mình? Ngày thường mấy vị đại thần này mặt nặng mày nhẹ, thoạt nhìn có vẻ khó giao du, nhưng đến lúc then chốt thực sự thì họ lại đứng ra nói lời chính nghĩa. Cho đến lúc này hắn mới hiểu ra, những cánh tay đắc lực mà phụ thân chọn cho hắn đều rất tốt, không hề có ai cố ý đối đầu với hắn, mà là do trách nhiệm thúc đẩy. Những vị đại thần trung trinh này không những chấn chỉnh những sai sót của Tào Phi, mà còn lúc nào cũng chấn chỉnh sự thiên vị của Tào Tháo.
Tào Tháo đã không còn lời nào để nói, chỉ cảm thấy lồng ngực giống như bị chặn một tảng đá lớn, một hơi thở không lên được cũng chẳng xuống được — đường đường là một đời Thừa tướng sao có thể không rõ lý lẽ? Thế nhưng đối với màn trút giận vừa rồi ngay cả bản thân ông cũng cảm thấy có chút vô lý, có sự bất mãn lâu ngày đối với Tào Phi, có tâm lý muốn che đậy sự xấu hổ sau cuộc nổi loạn, e rằng phần lớn là do từ tận đáy lòng ông vẫn luôn không đánh giá cao Tào Phi. Nhất là sau trận Tây chinh này, dường như ngược lại ông lại đặt kỳ vọng cao hơn vào Tào Thôi. Rốt cuộc muốn hy vọng đứa con nào kế vị, ngay cả bản thân ông cũng không phân định rõ ràng được nữa. Thế nhưng những lời của Thôi Diễm rất có lý, nhà họ Tào trên thực tế đã gánh vác trọng trách của thiên hạ, gia sự đã không chỉ đơn thuần là gia sự bình thường nữa, mà là quyết định liên quan đến vận mệnh thiên hạ, có một số việc ngay cả bản thân ông cũng không thể tự chủ được. Tào Phi đứa con trai trưởng này cũng không phải là đứa con trưởng bình thường, theo một ý nghĩa nào đó thì đã là nơi quy tụ của chính thống Nho gia, những vị đại thần quan trọng này tuy nhìn thấy một số tài năng của ngài ấy, nhưng e rằng phần lớn vẫn là coi trọng thân phận của ngài ấy. Đối với một gia tộc không vua không thần như nhà họ Tào mà nói, quan niệm chính thống của lễ pháp Nho gia đã không thể tránh khỏi thấm sâu vào trong, tông pháp chế ngược lại đã trở thành chiếc áo giáp bảo vệ mạnh mẽ nhất cho Tào Phi, cho dù là Thào Tháo mang thân phận người cha kiêm Thừa tướng cũng khó lòng lay chuyển nổi…
Đưa mắt nhìn quanh các đại thần đang thì thầm to nhỏ, đứa con trai cúi đầu im lặng, cơn giận của Tào Tháo chợt dừng bặt, ngược lại cảm thấy nực cười — đường đường là bề tôi mà đùa giỡn thiên tử trong lòng bàn tay, quản nhiều binh lực hơn triều đình, ở dinh thự lớn hơn hoàng cung, tuyển chọn quan lại trọng tài không trọng đức, Tào mỗ ông có thể coi là kẻ phản chuẩn mực đạo đức nhất trên đời này rồi, thế nhưng ngay cả một người như ông cũng không thể thoát khỏi sự trói buộc của chính thống và lễ pháp. Không muốn để bề tôi trung thành với triều đình mà muốn họ trung thành với mình, trung qua trung lại lại không tránh khỏi quay về thói cũ, vua không ra vua thần không ra thần, rốt cuộc là nên bảo thuộc hạ thủ vững lễ giáo hay nên bảo mọi người phản bội lễ giáo? Trên đời này còn có người nào mâu thuẫn với chính mình hơn Tào Tháo nữa không? Tào Tháo nghĩ đến đây không khỏi cười khổ, cười sự bất lực của chính mình; nhưng chỉ cười hai tiếng, bỗng thấy trời đất quay cuồng đầu đau như búa bổ, lùi liền mấy bước ngã sụp xuống đất.
“Bệnh phong hàn của Thừa tướng tái phát rồi! Mau truyền Lý Đang Chi tới!” Cả đám thần lẫn con đều hoảng hốt, người đỡ kẻ dìu, cả sảnh một màu hỗn loạn. Vị Tây tào vừa mới cất lời hùng hồn ban nãy, sơ sẩy một cái thế mà bị người bên cạnh xô ngã lăn quay…
Thế sự không ngừng
Tào Tháo lặng lẽ ngửa người nằm trên điện Hạc Minh, uống một bát thuốc sắc của Lý Đang Chi, lại dùng nước lạnh ngâm đầu, đã không còn chóng mặt như ban nãy nữa. Triệu thị và Lý thị mỗi người quỳ một bên trái phải cạnh ông, một người lau giọt nước cho ông, một người chải tóc cho ông. Biện thị thì ôm Tào Hùng ngồi ở một góc xa không nói một lời, chỉ thở dài thườn thượt — Tào Phi là con trai bà, bà cũng không tiện nói gì. Triệu thị, Lý thị đều là những người phụ nữ thông minh, lông mi chớp cũng biết cách nịnh bợ, theo phu nhân tới đây sao có thể không hiểu đạo lý chứ? Dưới tay hầu hạ Tào Tháo, miệng thì cứ nhắc đi nhắc lại những điểm tốt của Tào Phi, đem chuyện nửa năm nay Tào Phi đối đãi lễ độ với các vị phu nhân ra sao, chăm sóc các em thế nào thêu dệt thêm mắm thêm muối kể lại một lượt. Tào Tháo ở tiền đường được Thôi Diễm và những người khác khuyên can một hồi, ở hậu đường lại được hai vị sủng thiếp khai sáng, cơn giận sớm đã tan biến đi đâu mất tiêu, chỉ đăm đăm nhìn Biện thị.
Biện thị thừa biết trong lòng chồng nghĩ gì, nhưng cố tình không nhìn ông, nhẹ nhàng vỗ vỗ lưng Tào Hùng. Tào Tháo đăm đăm nhìn bà hồi lâu, cuối cùng không kìm được hỏi: “Em là mẹ, em nói thử mấy đứa con do em sinh ra đứa nào là tốt nhất?”
Biện thị tiện miệng nói: “Ai tốt nhất chứ… Em thấy Hùng nhi là tốt nhất, không rước tai họa không chuốc phiền phức, cũng không làm anh tức giận, chỗ nào cũng khiến người ta yêu thích.”
Tào Tháo không khỏi cười khổ: “Em hiểu anh đang hỏi cái gì, cố tình không chịu nói. Em cho rằng Hùng nhi là tốt nhất, nhưng cái đồ ốm yếu này có thể làm nên đại sự gì? Em đấy, chính là không chịu nghĩ cho anh.”
“Em không nghĩ cho anh?” Sống mũi Biện thị cay xè, “Anh từng nghĩ cho em lần nào chưa? Bọn chúng đứa nào chẳng phải do một tay bụng mang dạ chửa sinh ra từ người em? Em có thể nói đứa nào tốt, đứa nào không tốt? Trên đời này làm mẹ đều giống nhau cả thôi, chỉ mong các con hòa thuận với nhau, thành hay không thành đại sự là chuyện của đàn ông các anh. Nếu anh thật sự hiểu chuyện thì không nên hỏi em, cứ coi như em là một kẻ câm đi là được…” Lời chưa dứt nước mắt đã ào ào tuôn rơi. Biện thị tính ra cũng là một nữ trung hào kiệt, năm xưa Tào Tháo trốn khỏi Lạc Dương dấy sự, bà ở nơi nguy hiểm dù khổ cực khó khăn thế nào cũng chưa từng rơi một giọt nước mắt, vậy mà nay lại bị chuyện của con cái làm cho sầu não thành ra thế này, chuyện gia sự trên đời này quả thực còn khó xử đứt quãng hơn cả chuyện quốc gia đại sự.
Bà đã khóc thế này thì Tào Tháo cũng không tiện hỏi tiếp nữa, sờ tâm tự hỏi đối với Biện thị ông chỉ có sự biết ơn. Chuyện sinh con đẻ cái chưa bàn tới, riêng việc bà chăm sóc Đinh thị thôi cũng đủ để Tào Tháo nhìn bằng con mắt khác rồi. Dù nói vợ chồng trên đời không phân chia hai nhà, nhưng luôn có người chịu thiệt người nợ ai đó, đời này ông nợ Biện thị quá nhiều rồi, hà cớ gì lại lấy chuyện con cái ra chuốc lấy phiền muộn cho bà nữa chứ? Nghĩ tới đây chỉ đành thở dài ngao ngán.
“Ối chao chao, đại tỷ của tôi ơi, đây là làm sao thế này?” Biện Bỉnh cười hề hề bước vào, hắn có thân phận thân thích nội tộc, nha hoàn cũng không tiện ngăn cản ngoài cửa, “Có phải hai cô em này hầu hạ tỷ phu, chị lại nổi ghen ăn giấm rồi không?” Một câu nói khiến Triệu thị, Lý thị không khỏi mỉm cười.
“Mặc thây cậu!” Biện thị phá lên cười ném đi giọt nước mắt, “Cũng từng ấy tuổi đầu rồi, cái mỏ vẫn không có cửa nẻo gì cả. Thảo nào tỷ phu không thăng quan cho cậu, cứ làm cái chức Biệt bộ tư mã của cậu đi!”
Tào Tháo cũng bị bọn họ chọc cười, tiếp lời nói: “Hai chị em các người đừng có giả vờ cãi nhau cho người khác xem nữa, ta đã phong nhà họ Biện các người làm Đô hương hầu rồi, có thể làm em vợ cho Tào mỗ ta đây còn có gì mà không biết đủ? Nếu chê bổng lộc ít, các ngươi lén lút vơ vét tài sản trong phủ này đem về nhà mẹ đẻ chẳng lẽ vẫn chưa đủ sao?” Câu nói này tuy là nói đùa, nhưng cũng lấp ló tâm tư của Tào Tháo, ông tuyệt đối không muốn ngoại thích nắm quyền quá lớn. Tỉ như chuyện của mấy đứa con, riêng tư hỏi Biện thị thì còn được, nếu mà cả một đám nhà họ người ta nhúng tay vào chuyện này, thể nào cũng sẽ náo loạn lên mất!
Biện Bỉnh tính ra cũng có công lao hiển hách, nghe tỷ phu nói những lời này ít nhiều cũng có chút chạnh lòng. Nhưng dù sao mình cũng là người đến giảng hòa, không dây dưa nữa, xáp lại gần giường nịnh nọt cười nói: “Thừa tướng tốt của tôi ơi, tỷ phu tốt của tôi ơi, nói cũng đã nói rồi quậy cũng đã quậy rồi, bớt giận đi thôi. Nếu sức khỏe của ngài thấy khỏe rồi thì ra ngoài ngó một cái đi, Tử Hoàn dẫn theo mười mấy thằng nhóc đều đang quỳ ở bên ngoài đấy. Quần thần cũng đang đợi kìa, ngay cả Trình Dục lúc nào cũng không hay lộ diện mà nay cũng tới rồi. Đổng Chiêu, Viên Hoán vừa từ nơi khác tới, không hiểu chuyện gì xảy ra, cũng đang đứng chờ ở ngoài kìa.”
“Haizz…” Tào Tháo thở dài một tiếng, con cái nhiều quá cũng phiền phức, đứa lớn thì hơn hai mươi, đứa nhỏ như con trai của Tống thị là Tào Cổn, con trai của Lưu thị là Tào Cức, đều chưa đầy mười tuổi, tạm không bàn tới chuyện hôm nay oán trách ai, làm cha mà có bệnh, các con đều ở bên ngoài đợi chờ, tiết tháng Chạp mà đứng lạnh phát bệnh ra chẳng phải khiến người ta đau lòng lắm sao? Chút giận hờn đó của Tào Tháo sớm đã vứt tận đẩu tận đâu rồi. “Bảo mọi người giải tán hết đi, chuyện hôm nay ta không oán trách ai cả. Cậu thay ta nhắn lại với thằng cả, bảo nó đừng suy nghĩ nhiều nữa, là lỗi của nó thì hôm khác ta sẽ tìm nó tính sổ, không phải chuyện của nó… coi như hôm nay ta giận lú lẫn đi vậy.” Ông không tiện trực tiếp xin lỗi con trai, có người thân cận truyền đạt lại là thỏa đáng nhất rồi.
“Được thôi!” Biện Bỉnh cười hì hì quay người bước đi.
“Khoan đã.” Tào Tháo lại gọi giật hắn lại, “Cậu mời Trình Dục vào đây, Viên Hoán, Đổng Chiêu cũng gọi vào luôn. Còn nữa… ban nãy ở đằng trước ta có mắng cậu vài câu, cậu cũng đừng để tâm. Mấy ngày nữa cậu sắp xếp mọi người đi dạo đài Đồng Tước đi, cũng xem như là thưởng cho mọi người vất vả hơn nửa năm nay rồi. Dù sao cũng coi như đánh một trận thắng lợi, đừng để ai nấy đều không vui vẻ.”
“Ngài nói gì vậy, nghe xa cách quá.” Biện Bỉnh miệng thì nói vậy, nhưng vớ phải một ông tỷ phu sáng nắng chiều mưa thế này, nơm nớp lo sợ nửa đời người mà vẫn không được thăng quan, khổ hay vui chỉ có trong lòng tự hiểu. Có ngoại thần bước vào, nữ quyến liền không thể ở lại nữa, Biện thị bế con, dẫn theo hai người thiếp đi vòng qua bức bình phong. Chẳng mấy chốc ba người Trình Dục bước vào, đều tới thăm dò bệnh tình của Tào Tháo.
“Không sao nữa rồi, các người ngồi đi.” Tào Tháo ngồi dậy, tóm lấy cổ tay Trình Dục, kéo hắn ngồi xuống cạnh mình, “Lần bình định này làm phiền ngài bận tâm rồi.”
Trình Dục lại nói: “Già nua vô dụng chỉ thêm phiền phức cho công tử, giúp đỡ thì ít mà phá hoại thì nhiều.”
“Vậy sao?” Tào Tháo cười rạng rỡ trầm ngâm nói: “Tử vi phụ ẩn, phụ vi tử ẩn, trực tại kỳ hĩ.”
Trình Dục như bị kim châm một nhát, hắn nằm mơ cũng không ngờ tới, những lời hai người nói riêng với nhau mà lại bị Tào Tháo biết được. Nghĩ lại cũng không có gì kỳ lạ, đám người như Trượng Đạt, Lô Hồng rải rác khắp triều dã, khắp nơi đều có mắt tai thì chuyện gì mà ông ta không biết chứ? Đối với con trai ruột của mình mà còn dùng tâm cơ này, thật sự là quá đáng sợ! Nghĩ tới đây Trình Dục vội vàng muốn quỳ xuống nhận tội, cổ tay lại bị Tào Tháo nắm chặt cứng, động đậy không được, chỉ đành cúi đầu nói: “Hạ quan nhất thời hồ đồ nói nhảm, mong Thừa tướng thứ tội.”
Tào Tháo lắc đầu nói: “Ngài vì cha con ta mà suy nghĩ, lão phu còn cảm ơn ngài không hết nữa là, sao có thể nói là tội lỗi được chứ? Đừng thấy ngài là người đánh trận, mà không chỉ rành về mưu lược quân sự, lại còn rất giỏi xử lý quan hệ cha con nhà người ta đấy nhé.”
Trình Dục nghe câu này thấy hơi chột dạ, hoảng hốt nói: “Đa tạ Thừa tướng không chấp nhứt lỗi lầm của mạt tướng, hạ quan từ nay về sau nhất định sẽ cẩn trọng lời nói.” Đâu chỉ là cẩn trọng lời nói, hắn đã thầm hạ quyết tâm, sau này dã tuyệt đối không dám quản chuyện của hai cha con họ nữa rồi.
Tào Tháo lại nói: “Ngài cũng là có ý tốt, thế nhưng ta muốn khảo hạch con trai, ngài ra mặt chỉ điểm há lại là điểm tốt của nó sao? Xem ra con thì biết che chở cho cha, ngược lại người làm cha như ta lại hẹp hòi rồi.”
“Thiên hạ không có bậc cha mẹ nào là sai cả.” Trình Dục còn có thể nói gì nữa? Có những chuyện thực sự không phải biết càng rõ càng tốt.
Tào Tháo vỗ vỗ lưng hắn cảm thán: “Thất bại ở Duyên Châu ngày xưa, nếu không có ngài, lão phu sao có thể có ngày hôm nay? Những lão huynh đệ cùng chung hoạn nạn như ngài, đừng nói là không có lỗi lầm, cho dù có lỗi thì lão phu cũng sẽ không khép tội đâu.”
“Đa tạ Thừa tướng thành toàn.” Trình Dục biết ngài ấy nói có ẩn ý, lỗi lầm mà Tào Tháo nói tuyệt đối không chỉ chuyện của Tào Phi, mà là chuyện hắn tự xin cáo lui về ở ẩn. Mặc dù Trình Dục có hơi lớn tuổi một chút, nhưng chưa đến nỗi không thể ra chiến trường đánh trận, còn về chuyện dưỡng bệnh thì lại là một lời nói dối tày đình, rượu thiệu ngon hắn vẫn có thể uống được hai vò đấy! Lần trước hắn mượn danh nghĩa đưa dâu để gặp gỡ Tuân Úc, ở lại Hứa Đô mấy ngày, vốn muốn khuyên Tuân Úc dừng tay, kết quả không thấy có hiệu quả. Tào Tháo muốn cướp lấy thiên hạ nhà họ Hán, Tuân Úc muốn bảo vệ thiên hạ họ Lưu, trơ mắt nhìn hai người càng đi càng xa, chỉ sợ sớm muộn gì cũng trở mặt thành thù. Đến lúc đó một vị lão tư cách, lão tướng quân có uy vọng như hắn thì phải xử trí thế nào ở giữa đây? Nếu có một ngày Tào Tháo ép hắn biểu thái, trái lệnh Tào Tháo thì tự chuốc họa vào thân, nhẫn nhịn chịu đựng thì làm sao đối xử với Tuân lệnh quân đây? Chẳng lẽ cũng phải chịu cái tội giống như Tuân quân sư kia sao? Cho nên Trình Dục mới rút lui khi đang gặp thời, dứt khoát giao nộp binh quyền về nhà giả vờ hồ đồ.
Bây giờ xem ra giả vờ hồ đồ chưa trót lọt, chỉ vì nói thêm mấy câu với Tào Phi mà làm lộ ra sự tinh ranh, sau này lại càng phải thu vòi rụt đuôi làm người hơn nữa. Tào Tháo biết rõ suy nghĩ tính toán của hắn, nhưng dù sao cũng là công thần đi theo mình lập nghiệp, người ta một lòng muốn rẽ sang một hướng khác, thì có thể làm gì được người ta nào? An ủi thêm vài câu rồi liền bảo Biện Bỉnh dìu hắn ra ngoài.
Viên Hoán và Đổng Chiêu vừa đến thành Nghiệp thì bắt gặp ngay một chuyện thế này. Đổng Chiêu là đến Hứa Đô để chạy vạy chuyện tăng huyện cho quận Ngụy của Tào Tháo, còn Viên Hoán thì từ quê nhà quận Trần mà đến. Ông ta lâu năm làm quan địa phương, có thể gọi là một vị tuần lại đời đời, đôn đốc giáo hóa biểu dương hiếu tiết, rất được bách tính tôn kính yêu mến. Tào Tháo đặc biệt bổ nhiệm ông ta làm cha mẹ quan của quê nhà Tiêu Huyện, giám sát chuyện đồn điền, nhưng mấy năm trước bùng phát dịch bệnh, Viên Hoán không may bị lây nhiễm, về quê dưỡng bệnh hơn hai năm mới khỏi, gầy đến mức da bọc xương, bây giờ trở lại thành Nghiệp là để vào phủ chờ nhận chức.
Tào Tháo đang phiền muộn vì cuộc nổi loạn ở Ký Châu, thấy ông ta về thì mừng như bắt được vàng: “Đạo Khanh đến thật đúng lúc, bệnh tình vừa khỏi thì đừng đi làm quan địa phương nữa, cứ ở lại Mạc phủ bổ sung chức Tế tửu đi.”
“Hết thảy đều do Thừa tướng sắp xếp.” Viên Hoán đứng dậy hành lễ có vẻ rất cố sức, có vẻ như sức lực vẫn chưa hồi phục, ngồi xuống lần nữa theo phản xạ xoa xoa ngực, trầm ngâm nói: “Dọc đường nghe ngóng được Ký Châu xảy ra chút hỗn loạn, sợ là do việc thay đổi điền tô gây ra phải không?” Đúng là người thông minh, biết trong lòng Tào Tháo đang nghĩ gì, hiểu rõ mọi chuyện rồi mới đến.
“Đúng như lời ngài nói.” Tào Tháo đưa ra một ánh mắt thưởng thức, “Lão phu năm xưa vì để an ủi bách tính nên đã hạ thấp thuế má, mỗi mẫu đất chỉ thu bốn thược thuế, lại còn ngăn chặn hào cường thôn tính, vốn tưởng rằng có thể thu phục được lòng người bách tính Ký Châu. Nào ngờ lòng người không biết đủ, bây giờ sinh thêm mấy chỗ tiêu tiền, vừa mới điều chỉnh lên một chút mà đã rước lấy đám hào tộc, nông hộ đều nổi dậy chống lại ta. Thật là lòng người đổi thay phong tục suy đồi, nghĩ đến khiến lão phu vô cùng đau lòng.”
Viên Hoán rõ ràng không đồng tình với luận điệu này, lơ đễnh chỉnh lại vạt áo, đợi Tào Tháo trút giận xong mới nói: “Những lời Thừa tướng nói tuy có lý, nhưng lại giống như thầy bói xem voi chưa trúng trọng tâm.”
“Ồ?” Tào Tháo không ngờ ông ta lại đánh giá mình như vậy, không khỏi nhíu mày.
“Thuộc hạ lâu năm ở địa phương nên thấu hiểu nỗi khổ của bách tính. Đương kim khói lửa chưa tắt, không năm nào không động đến binh đao, gia đình nông phu năm khẩu người đi lao dịch có đến không dưới hai người, hoặc là ở công thự hoặc sung làm binh lính, phần còn lại người có thể cày cấy không quá trăm mẫu, thu hoạch ra chỉ đủ ấm bụng. Cày xuân cuốc hè, thu gặt đông cất, đốn củi kiếm củi, cống nạp quan phủ, cung cấp lao dịch, nha môn huyện địa phương đến củi đốt cũng đều do bách tính cung cấp cả. Mùa xuân không được tránh gió bụi, mùa hạ không được tránh nắng gắt, mùa thu không được tránh mưa dầm, mùa đông không được tránh rét đậm, trong bốn mùa không có ngày nào được nghỉ ngơi; lại còn khó tránh khỏi chuyện cưới xin ma chay qua lại thăm hỏi ở chòm xóm, viếng tang hỏi bệnh, nuôi người cô đơn phụng dưỡng người già đều nằm trong đó cả… Bách tính có câu ‘Ly loạn nhân bất cập thái bình khuyển’, chỉ cần có chiến tranh thì có những nỗi khổ không tài nào chịu thấu, lao dịch không tài nào phục vụ hết, mỗi mẫu thu bốn thược tuy rất thấp, nhưng chỉ cần cuộc chiến này chưa dứt, thì kẻ chịu khổ vĩnh viễn vẫn là bách tính mà thôi!”
Tào Tháo không phủ nhận những gì ông ta nói, nhưng lại bảo: “Không phải lão phu cho bách tính chút ít ân huệ rồi tự mình khoe khoang đâu, thời buổi này chính là như vậy. Thà chịu đau ngắn còn hơn đau dài, ta đông chinh tây phạt chẳng phải là vì muốn sớm ngày ổn định thiên hạ hay sao? Đích thực như ngài nói, mỗi mẫu thu bốn thược cho dù không tính là ơn đức to lớn gì, chung quy vẫn tốt hơn là vơ vét của cải tột cùng, hơn nữa đánh thuế ba mươi lấy một là chế độ cũ của triều đại này, kể từ thời Hoàn, Linh trở lại đây loạn lạc xảy ra nhiều lần, thuế khóa thực tế sớm đã vượt quá hai ba thành rồi, tô thuế của hào tộc thậm chí còn có kiểu chia đôi nữa, hiện tại ta đề cập đến chuyện thu hai mươi lấy một cũng không tính là bóc lột, so với chế độ của Viên Sơ, Lưu Biểu ngày trước thì có thể coi là hậu đạo lắm rồi.”
Viên Hoán thầm nghĩ, đây chính là điều mà Mạnh Tử gọi là “năm mươi bước cười trăm bước”. Lại không dám nói những lời quá khó nghe, hơi suy nghĩ một lát xoay người hỏi: “Thừa tướng cho rằng mỗi mẫu thu bốn thược, thì lợi ích thuộc về ai?”
“Tự nhiên là nhường lợi ích cho dân rồi.”
“Không phải vậy, là do hào sỹ chiếm được.”
“Sao lại nói thế?” Tào Tháo thấy ông ta chỗ nào cũng đối chọi với mình, vô cùng ngạc nhiên.
“Thuộc hạ sẽ giải thích thật tỉ mỉ, Thừa tướng sẽ rõ.” Viên Hoán phân tích rạch ròi từng chút một, “Kể từ khi chiến loạn xảy ra tai họa hoành hành ruộng đất của dân hoang hóa, nông dân tự tồn tại chỉ chiếm số ít, phần lớn đều nương nhờ vào hào tộc chòm xóm. Một là hào tộc có bộ khúc riêng có thể bảo toàn tính mạng không tổn hại, hai là cũng vì đất đai bị thôn tính mà ép buộc không còn cách nào khác. Thừa tướng ngài hạ thấp điền tô, hào tộc thụ hưởng ân huệ đó tô thuế mỗi mẫu bốn thược, nhưng bọn họ đòi hỏi ở tá điền thì tuyệt đối không chỉ là bốn thược nữa. Bây giờ ngài đột nhiên nâng cao lên, nước lên thuyền lên, hào cường nộp thuế nhiều hơn, tự nhiên sẽ vươn tay đòi hỏi ở tá điền nhiều hơn nữa. Tính ra như vậy, rốt cuộc là bình dân đắc lợi hay là hào sỹ đắc lợi?”
Tào Tháo biện minh: “Nói thế là sai rồi, lúc trước lão phu rõ ràng đã hạch định điền mẫu, tịch thu đảng phái chết của họ Viên chia ruộng đất cho dân, lại còn giới hạn sản nghiệp ruộng đất dưới tên hào tộc không được vượt quá quy định.”
“Vấn đề nằm ở chính chỗ này.” Viên Hoán ngẩng đầu đăm đăm nhìn ông, “Bất kỳ điều luật pháp lệnh nào cũng đều phải dựa vào con người để thực thi chứ?”
Tào Tháo sững sờ, hình như đã hiểu ra chút ít: “Ý ngài là… quan lại chấp pháp không nghiêm, hào tộc vẫn cứ cướp đoạt ruộng đất của dân thôn tính đại quy mô?”
Viên Hoán không phải là đến để tố cáo, tất nhiên không dám nhận câu nói này, nhưng lại uyển chuyển nói: “Lúc trước nghiêm hay không thì thuộc hạ không ở Ký Châu nên không rõ lắm, nhưng ngài đừng quên bây giờ đã qua sáu bảy năm rồi, chỉ sợ tình hình đã không còn giống như lúc ban đầu nữa rồi nhỉ? Hào cường của họ Viên đã giảm đi không ít, thế nhưng trong đại doanh Tào chúng ta…” Nói được nửa câu thì Viên Hoán đột nhiên ngắt quãng, lại xoay người hào hùng nói: “Sùng thực hiệu, khử hư văn, chấn chỉnh lại lại trị, hậu dân sinh, đây chính là yêu cầu cốt lõi muôn đời không đổi của việc trị quốc!”
Tào Tháo dần bừng tỉnh — chuyện thôn tính ruộng đất không phải cứ nói kiểm soát là có thể kiểm soát được, cũng tuyệt đối không phải cứ làm tốt một lúc là có thể làm tốt mãi mãi được. Bình định Hà Bắc đã sáu bảy năm rồi, đám tân quý Tào doanh cũng đang không ngừng mở rộng gia tài của mình, hào tộc mới đã sinh ra, hào tộc cũ cũng đã trải qua thời kỳ ẩn mình, xu thế thôn tính ngày một tăng. Dù rằng trên chế độ có điều khoản hạn chế thôn tính đó, nhưng lâu ngày chầy tháng thì lại lỏng lẻo đi, ngay cả bản thân ông cũng không dám từ tận gốc rễ để lay chuyển hào tộc, huống chi là mấy tên tiểu lại quản lý địa phương? Địa chủ thôn tính tăng điền tô, tá điền như Tô Bá phải nổi dậy; mà thân tín nhà họ Tào lại còn có đặc quyền hơn địa chủ bình thường, địa chủ không có quan hệ như Điền Ngân cũng không thỏa mãn. Tào Tháo thấy lạnh sống lưng, ngay vào lúc ông đang đắc ý huyễn hoặc vì chính sách tốt đẹp của mình, Ký Châu sớm đã lặng lẽ biến thành một bộ mặt khác rồi.
“Vì sao không ai nói cho ta biết?” Tào Tháo phẫn nộ hỏi một tiếng, tiếp đó lại cảm thấy câu nói này hỏi quá nực cười — những người ở bên cạnh đều là kẻ được hưởng lợi ích, ai lại đi rước họa vào thân chứ? Người vô tư như Viên Hoán đây vậy mà từng phản ánh chuyện con cháu của Tào Hồng, Lưu Huân, Quách Gia tung hoành làm càn không tuân theo pháp luật, kết quả chẳng phải đều bị ông ta biến chuyện lớn thành chuyện nhỏ chuyện nhỏ thành không có đấy thôi? Ông ta trầm mặc một lát, lạnh lùng nói: “Ngày mai ban bố giáo lệnh của ta, đại xá cho huyện lệnh Trường Sa đang bị giam giữ lao động ở Tả Hiếu là Dương Bái, triệu tập hắn đến thành Nghiệp.”
Viên Hoán và Đổng Chiêu nhìn nhau một cái — chuẩn bị dùng liều thuốc mạnh là quan lại tàn bạo rồi đây.
Tào Tháo nheo nheo đôi mắt nói: “Chuyện hào cường ngài không phải bận tâm nữa, lão phu sẽ xử lý, nhưng gần đây chuyện đồn điền cũng xảy ra không ít vấn đề, nghiêm trọng nhất là chuyện dân đồn điền bỏ trốn ruộng đất. Nhất là dân đồn điền mới chiêu mộ ở Hoài Nam, nghe nói đã trốn mất gần một nửa rồi, chuyện này lại nên quản lý thế nào đây?”
Viên Hoán thay đổi giọng điệu nghiêm khắc ban nãy, mang dáng vẻ xót thương nhân thế nói: “Bách tính an cư lạc nghiệp không muốn rời bỏ quê hương, không thể thay đổi đột ngột được, thuận theo thì dễ mà làm trái thì khó. Chế độ đồn điền đã được đẩy mạnh nhiều năm rồi, kho lẫm sung túc lương thực quân đội không thiếu. Nếu theo ý kiến của hạ quan, cũng không cần phải ép buộc dân đồn điền nữa. Ai không nhà không cửa thì ở lại, ai muốn về quê thì cứ để họ đi, thuận theo ý dân cũng là một đại đức đấy.”
Dân đồn điền dưới quyền cai trị của Tào Tháo cơ bản có bốn loại: Một là quy định phạm vi, những người ở trên mảnh đất này dù muốn hay không thì đều được coi là dân đồn điền; hai là nghĩa quân Khăn Vàng cùng con cháu gia đình bọn họ đã được thu nạp từ những năm trước; ba là dân lưu vong trong chiến loạn; bốn là bách tính bị cưỡng chế di dời từ vùng tiếp giáp với kẻ địch. Dân đồn điền tuy không phải đi lao dịch, nhưng đều chịu sự quản chế của quân đội, nộp thuế lại cao, cho nên bách tính đều không muốn làm dân đồn điền. Lúc trước là do thiên hạ chiến loạn không còn cách nào khác, có thể giữ được mạng sống là tốt lắm rồi, bây giờ phương Bắc dần bước vào ổn định, so với nông dân tự canh, tá điền, đồn điền sắp sửa trở thành bạo chính đến nơi rồi, hễ có thể tự tìm đường sống cho mình, thì còn ai muốn làm cái này nữa chứ? Mà cùng với sự thay đổi của tình thế, Tào Tháo cũng không còn đau đầu vì lương thực nữa, làm đồn điền chẳng qua chỉ là tiện cho việc nuôi binh đóng thú, sơ tâm đã thay đổi rồi, cũng không cần phải câu nệ máy móc nghiêm ngặt như trước nữa.
“Cứ làm theo lời ngài nói đi.” Tào Tháo không khỏi bùi ngùi, “Thời thế thay đổi không bao giờ dừng lại, xem ra lão phu cũng nên đổi cái đầu mới rồi. Ngài là chuyên gia trị lý dân sinh, gặp chuyện gì nhớ giúp ta chia sẻ bớt lo lắng, sau này làm việc trong phủ, có chỗ nào không thỏa đáng thì sớm nhắc nhở ta.”
“Tuân lệnh.” Viên Hoán đứng dậy, “Vậy thuộc hạ xin cáo lui trước.” Ông ta biết Đổng Chiêu tất có chuyện cơ mật, cho nên nói xong liền đi không đứng lại hàn huyên nhiều.
Viên Hoán vừa đi thì bầu không khí lập tức trở nên trầm lặng, Tào Tháo không thèm liếc mắt nhìn Đổng Chiêu một cái, mà nghiêng người nằm trên sập, đấm đấm đầu gối than thở: “Thượng Thư có câu ‘Luận đạo kinh bang, tiết lý âm dương’, nhưng cái khó trong đó thì có mấy ai thấu hiểu? Lão phu nghe lời ngài, làm cái chức Thừa tướng gánh vác thiên hạ này, từ đó về sau không có lấy một ngày an ổn, trong ngoài lo lắng không hết việc. Ngài còn chê ta hại chưa đủ, vừa xây đài Đồng Tước vừa bắt con ta làm quan phong hầu, bây giờ còn thêm cho Ký Châu mười bốn huyện, gánh thêm bao nhiêu việc thế này, thực sự muốn mệt chết lão phu đây mà!”
Đổng Chiêu tự nhiên không thể vạch trần, đành phải phối hợp diễn tiếp với ông ta, mặt đầy cười khổ nói: “Kẻ bình thường tự nhiên khó mà gánh vác nổi việc lớn, nhưng ngài há phải là người phàm? Đức trùm thiên hạ uy danh trấn viễn, đừng nói là trách nhiệm của Thừa tướng, cho dù gánh nặng trên vai có nặng hơn chút nữa thì đã sao nào?” Câu này thực chất là mang ý nghĩa kép, đã ở dưới một người trên vạn người rồi, gánh nặng trên vai mà nặng hơn chút nữa thì lại có ý nghĩa gì đây?
Tào Tháo không tiếp lời này, ngược lại cảm thán: “Kinh Lễ có câu: ‘Tâm chính nhi hậu thân tu, thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu thiên hạ bình.’ Lão phu hiện nay đến cả tề gia còn không làm nổi, há dám mong cầu gì nhiều hơn nữa?” Giọng điệu của ông nửa là khiêm nhường nửa là tự giễu.
Đổng Chiêu càng cười nói: “Từ xưa đến nay quân vương nào có thật sự tuân theo con đường tu tề trị bình đâu? Nghĩ đến Tề Hoàn Công hội minh chư hầu chín lần, còn sủng ái những kẻ tiểu nhân như Thụ Điêu, Dịch Nha; Tấn Văn Công được ban Cửu tích, cũng không tránh khỏi đối xử lạnh nhạt với các công thần như Giới Tử Thôi, Điển Hiệt; Thủy Hoàng Đế quét sạch sáu nước thống nhất thiên hạ, cũng từng có chuyện tước vị em trai ép mẹ ruột. Hán Cao Tổ hoàng đế nước ta thì sao? Vứt vợ bỏ con, ruồng bỏ cha khinh bỉ chị dâu, mắng mỏ hiền sĩ, tàn sát công thần, đừng nói là tề gia, e rằng ngay cả cái cửa ải tu thân cũng không qua nổi, thế mà chẳng phải vẫn cứ bình định thiên hạ đó sao? Thừa tướng là người tinh ranh, sao cũng tin những lời của bọn hũ nho đó vậy?”
“Lời thì nói vậy, rốt cuộc thì… haizz…” Tào Tháo đương nhiên không tin mấy cái thứ tu tề trị bình, nhưng vẫn phải bày ra cái bộ dạng đó, cho dù đối mặt với một mình Đổng Chiêu, có một số việc vẫn phải công khai đặt lên mặt bàn. Miếng bánh lớn thiên hạ nhà họ Hán này phải ăn, nhưng vẫn phải có một dáng vẻ ăn uống tao nhã chứ.
Đổng Chiêu tuyệt đối không làm khó Tào Tháo, vội vàng quay về chủ đề chính: “Thừa tướng công trùm thiên hạ, đừng nói là tăng mười bốn huyện, cho dù tăng mười bốn quận thì đã sao nào? Nếu theo ý của hạ quan, thêm đất cho quận Ngụy vẫn chưa gọi là thập toàn thập mỹ đâu.”
“Thế nào mới gọi là thập toàn thập mỹ?”
Vẻ đùa cợt trên mặt Đổng Chiêu lập tức biến mất, đột nhiên quỳ rạp xuống trước giường: “Từ xưa đến nay bề tôi phò tá đời chưa có công lao nào lớn như ngày nay; có công lao ngày nay, chưa từng có ai ở lâu trong địa phận bề tôi mà yên ổn được. Nay Thừa tướng thẹn vì có đức hổ thẹn mà chưa được thập toàn, thích giữ gìn danh tiết mà không gánh vác trách nhiệm lớn, đức hạnh tốt đẹp vượt quá Y Doãn, Chu Công. Thế nhưng Thái Giáp, Thành Vương chưa chắc đã có thể gặp được, nay ở trong thời loạn dân tình khó dạy dỗ, còn hơn cả thời Ân Chu, ở vào địa thế đại thần, khiến người ta đem việc lớn ra hoài nghi mình, thực sự không thể không suy nghĩ thật kỹ! Thừa tướng tuy chấn uy đức, minh pháp thuật, mà không định đoạt căn cơ của mình, tính toán cho muôn đời thì vẫn chưa đến nơi đến chốn đâu! Gốc rễ của việc định căn cơ nằm ở đất và người, sao không nhân cơ hội lập nên các nước chư hầu để tự làm phên giậu bảo vệ? Thừa tướng trung tiết không tì vết, thiên uy ở trước mặt, những lời dưới giường của Cảnh Yểm, luận điệu vô vọng của Chu Anh, đều không thể vượt qua tai được. Chiêu chịu ơn nghĩa phi thường, không dám không bày tỏ.” Đổng Chiêu dõng dạc trần từ, những lời này chẳng khác nào trực tiếp khuyên tiến vị!
Năm xưa Quang Vũ Đế Lưu Tú chưa lên ngôi cửu ngũ từng nằm đêm ở cung Hàm Đan, đại tướng Cảnh Yểm canh ba tới bái kiến, bên giường bệnh trần tình lợi hại, khuyên Lưu Tú tự lập làm hoàng đế. Môn khách Chu Anh của Xuân Thuận Quân Hoàng Hà Hết nước Sở khuyên ông ta tự lập, để tránh tai họa vô vọng vì quyền thế quá lớn. Đã quyết mà không quyết thì ức hiếp ngược lại bị tổn hại, có vòng vo thế nào thì bước thay thế nhà Hán cũng phải bước ra, cung điện tương lai đều đã xây xong rồi, chẳng lẽ còn có sự lựa chọn nào khác sao? Đổng Chiêu đã nói toạc móng heo ra rồi, Tào Tháo vẫn cứ không chịu nói chết một câu, mập mờ nước đôi đáp: “Thiên hạ chưa bình định thì trận chiến vẫn phải tiếp tục đánh, chuyện ngài nói ấy mà… cũng có thể làm, nhưng phải làm từng bước một, tuyệt đối đừng nóng vội.”
Đổng Chiêu cực kỳ biết suy đoán ý muốn của ông ta: “Hạ quan sẽ cố gắng hết sức làm cho tốt, nếu Thừa tướng sớm định đoạt thiên hạ thì đương nhiên là tốt nhất, nếu sự việc có điều không suôn sẻ thời gian không đợi người, hạ quan cũng có cách. Việc trước mắt cấp bách nhất là khôi phục chế độ Cửu Châu.” Đây đã là lần thứ hai hắn đề xuất khôi phục chế độ cũ Cửu Châu, lần trước là vào thời điểm bảy năm trước khi vừa định đô thành Nghiệp, lúc đó đã bị Tuân Úc chặn họng sống. Bây giờ quan hệ giữa Tào Tháo và Tuân Úc đã thay đổi rồi, việc này rất có triển vọng thành công.
“Được, ngài cứ đi làm đi.” Tào Tháo đáp ứng rất sảng khoái, không hề có chút bất an nào.
“Nếu Tuân lệnh quân lại gây khó dễ cản trở thì phải làm sao đây?” Đổng Chiêu phải nói trước những lời khó nghe, xin một viên thuốc an thần từ ông ta.
Tào Tháo hơi nhíu mày, ngồi dậy nhìn ngọn đèn bấc đang lúc lắc, đờ đẫn nói: “Lão phu ban đầu hy vọng cùng lệnh quân tham gia triều chính, nhưng lửa không chê nhiệt nước không chê lạnh, có những chuyện do bản tính tự nhiên, không thể ép uổng người ta được. Chuyện thiên hạ không thể vì một người mà bỏ dở, ngài không cần phải vướng bận lo lắng gì cả, cứ thoải mái buông tay mà làm. Lệnh quân nếu có dị nghị, lão phu tự có cách xử trí…”
Có cách tự xử lý? Rốt là cách gì? Đổng Chiêu muốn hỏi cho ra lẽ, lời đến bên môi lại nuốt xuống—— Tào, Tuân dù sao cũng cộng sự hơn hai mươi năm, Tào Thao có thể biểu lộ thái độ này đã rất không dễ dàng, việc gì cứ phải ép hắn tự miệng nói ra điểm mớ, cứ nhìn tình hình rồi tính tiếp vậy!
Lời vừa dứt lại thấy Biện Bỉnh vội vã trở về, còn dẫn theo Lương Mậu, Tào Thao lập tức ngậm miệng, đổi giọng hỏi: "Các ngươi còn có chuyện gì?"
Biện Bỉnh kéo Lương Mậu một cái, cười nói: "Quần thần đều giải tán rồi, chỉ có Lương trưởng sử không đi, hình như có lời muốn bẩm với ngài, lại chần chừ không dám vào, ta dứt khoát kéo ngài ấy vào luôn. Lương trưởng sử, có lời gì ngài cứ nói thẳng với thừa tướng đi."
"Cái này... cái này..." Lương Mậu có vẻ khó mở lời.
Đổng Chiêu thấy tình cảnh này không biết lại phải dây dưa thêm bao nhiêu công sức, hắn đến đây vốn chỉ vì muốn xin một câu nói của Tào Thao, nay đã được ăn viên thuốc an thần, dứt khoát không ở lại nữa: "Đã thế thừa tướng còn có việc trọng đại, tại hạ xin cáo lui."
Lời nói ban nãy, Tào Thao dường như đã tốn không ít tâm thần, chỉ mệt mỏi xua xua tay: "Việc gì nên làm thì đi làm đi. Chỉ là vừa đến Nghiệp Thành lại phải về Hứa Đô, bôn ba lại qua chịu khổ nhiều rồi."
Đổng Chiêu cười nhạt: "Vì nước rong ruổi là chuyện đương nhiên." Dứt lời sải bước đi ra khỏi sảnh. Hắn nói "vì nước rong ruổi", lại chẳng biết rốt cuộc là vì nước nào! Biện Bỉnh vô cùng lanh lợi, sớm nhận ra Lương Mậu có nỗi khổ tâm khó nói, liền lặng lẽ chuồn theo Đổng Chiêu.
Đến khi Lương Mậu phản ứng lại, trong sảnh chỉ còn lại một mình Tào Thao và hắn. Tào Thao biết đây là người trung hậu, cũng không giục hỏi, chỉ tay về chiếc sập bên cạnh: "Ngồi đi, đây có phải triều hội đâu, ngồi xuống thong thả nói."
"Không, không." Lương Mậu liên tục xua tay, lại nghẹn ngào một hồi lâu, hình như đã hạ quyết tâm lắm mới cất lời: "Khẩn xin thừa tướng cho phép ta từ chức vụ Ngũ quan Trung lang tướng trưởng sử."
Tào Thao bình tĩnh hơn Lương Mậu dự tưởng rất nhiều, không có lấy nửa phần kinh ngạc, ngược lại hỏi vặn: "Vì sao từ chức? Tử Hoàn đối xử vô lễ với ngươi sao?"
"Không không không, Trung lang tướng đối xử với tại hạ rất tốt... chỉ là tại hạ tài đức kém cỏi, khó đảm đương trọng trách này, cúi xin thừa tướng... xin thừa tướng chọn người khác..." Có những lời Lương Mậu thật sự không biết mở miệng thế nào. Hiện nay quan hệ cha con nhà họ Tào nắng mưa thất thường, chức trưởng sỹ này quả thật khó làm, phía Tào Phi không coi hắn là người một nhà, phía Tào Thao tuy ngoài miệng không nói, nhưng lâu ngày rồi cũng sẽ bất mãn, lại chẳng thể nói giúp vài câu cho Tào Phi. Đây đích thực là cái sai vặt chịu tội mà chẳng được tích sự gì. Lương Mậu là người làm việc thực tế cẩn trọng, tự nhận không có tài trí để đứng giữa mà luồn cúi xoay sở, lần náo loạn ở Hà Gian này đã khiến tâm lực hắn kiệt quệ, chi bằng đổi lấy một chức vụ yên tâm mà làm. Nhưng lời này phải nói thế nào đây?
Tào Thao đã nhìn thấu tâm tư của hắn, cũng không làm khó dễ nữa: "Thôi được rồi, ngươi cũng không cần nói nữa, ta điều ngươi sang chức vụ khác là được."
"Hổ thẹn hổ thẹn." Lương Mậu lấy tay áo che mặt vô cùng xấu hổ.
"Chuyện này cũng không trách ngươi, lúc trước lão phu bảo ngươi sang làm trưởng sử cho Tử Hoàn vẫn là chưa suy xét chu đáo. Sở trường của ngươi là trị quốc nuôi dân, không nên đem mấy việc phiền phức vụn vặt ra làm phiền ngươi nữa. Thôi thế này đi, ngươi đi báo với Tử Hoàn một tiếng, từ ngày mai vẫn về mạc phủ làm việc, Trưởng sử Ngũ quan Trung lang tướng ta sẽ đổi người khác." Tào Thao thầm tính toán, phải tìm một người từng trải sóng gió, xử sự lão luyện, có thể trấn áp được Tào Phi.
"Đa tạ thừa tướng thành toàn." Lương Mậu lại từ trong ngực áo lấy ra một tờ lụa mỏng đặt bên sập: "Đây là thơ văn Trung lang tướng tiện tay viết từ hai tháng trước, ngài ấy không để tâm nên vứt trên bàn án. Thuộc hạ đọc thấy xúc động nên đã giữ lại, thừa tướng nếu có thời gian không ngại xem qua." Nói xong cúi đầu vái dài, lặng lẽ lùi ra ngoài.
Tào Thao khẽ cầm tờ lụa lên, thấy trên đó toàn là chữ hành thư nhỏ nhắn, quả nhiên là do chính tay Tào Phi viết, còn có một bài tiểu tự ngắn ngủi, bèn khẽ lẩm nhẩm đọc:
Kiến An thứ mười sáu, trên đi chinh Tây, ta ở lại giữ nhà, mẹ già các em đều đi theo, vô cùng thương nhớ, bèn làm phú rằng:
Gió thu lay động khí trời lạnh, ở mãi không vui lòng dạ đau.
Bước ra vườn bắc ngơ ngác đứng, nhìn những nấm mồ xếp thành hàng.
Cành lá tiu nghỉu chẳng sắc màu, cỏ xanh úa vàng đổi sắc mau.
Cảm sương mỏng manh rơi lả tả, theo gió theo mưa bay là đà.
Ngày tàn chiều buông lòng chẳng vui, nỗi nhớ chẳng nguôi lại càng nhiều.
Vẫy gọi đứng trông mong theo mãi, chợt ngẩn ngơ quên cả đường về.
"Đứa trẻ này cũng là người nặng tình..." Đọc bài thơ bi thương tưởng nhớ cha mẹ anh em này, Tào Thao dù sắt đá đến đâu cũng phải mềm lòng, nói cho công bằng thì Tào Phi có gì là không tốt chứ?
Tào Thao gấp tờ lụa nhỏ này lại hết lớp này đến lớp khác, như cất giữ trân bảo nhét chặt vào ngực áo. Bình định thiên hạ, tranh giành ngôi chí tôn, nếu chỉ đánh giặc đơn giản như vậy thì tốt biết mấy, trên chiến trường có thể dùng dao sắc chặt đay rối, những việc nước việc nhà tiến thoái lưỡng nan này phải lựa chọn thế nào đây? Ngày hôm nay Tào Thao thực sự cảm thấy mình đã già, rất nhiều chuyện tâm lực có thừa mà sức lực không đủ, có lẽ chỉ có chiến trường mới là nơi hắn đắc ý nhất cuộc đời này. Kỳ thực mọi bài toán khó đều có một cách giải quyết tận gốc — sớm ngày thống nhất thiên hạ. Đến lúc đó còn có phép tắc vua tôi nào nữa? Còn bàn chuyện đích thứ gì nữa? Hưng bang lập nghiệp danh chính ngôn thuận, nói gì chính là nấy!
Dần dần Tào Thao không còn nghĩ đến những vấn đề phiền nhiễu này nữa, mà chuyển hướng suy nghĩ về phía đông nam, kế hoạch cho lần nam chinh thứ hai đã hiện lên trong đầu hắn...