Sau bao nhiêu chặng đường vòng vèo và những lần ghé hỏi, cuối cùng họ cũng đến nơi. Cỗ xe ngựa đẫm nước mưa, xóc nảy ê ẩm, dừng lại với hai bánh sa xuống mương đập ngập ứ nước mưa đang tràn cả ra lối đi dẫn vào nhà. Tên gia nhân và cô hầu gái có vẻ cũng đi lạc đường, bởi chẳng thấy bóng dáng cỗ xe thứ hai đâu. Từ cánh cửa thấp lè tè, mấy người dân trong nhà vội vã bước ra, tay che những ngọn nến nhỏ chập chờn trước gió. Nữ bá co người lại. Những gương mặt nông dân này sao mà lạ lẫm đến thế! Một ông lão với nét mặt gian giảo gớm ghiếc, mái tóc xám dài, chòm râu nhọn kiểu Do Thái, chiếc mũi khoằm sắc lẹm cùng đôi mắt sáng quắc! Rồi hai người phụ nữ đứng tuổi: một người thấp đậm, mắt lồi, tóc đen xoăn tít; người kia cao gầy, dị hình dị tính với mái tóc đen như than rối bời, mũi khoằm và đôi mắt đen láy lấp lánh.
Dưới những khoảng bóng tối kỳ bí do ánh nến chập chờn hắt lên các gương mặt góc cạnh, cả nhóm người trông giống hệt một băng nhóm du mục gipsy đến rợn người.
“Ôi! Đây là người dân vùng Ammergau đấy ư?” Nữ bá thì thầm với giọng điệu đầy thất vọng.
“Ông Gross, thợ chạm gỗ, có sống ở đây không?” Vị thân vương cất tiếng hỏi.
“Phải,” có tiếng đáp lại. “Gross, thợ khắc đá đây. Các vị đã đặt phòng trước ở đây rồi sao?”
“Chúng tôi đã viết thư từ Tegernsee để đặt chỗ. Nữ bá von Wildenau đấy,” vị thân vương trả lời.
“Ồ vâng, vâng! Mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi cả rồi! Quý bà sẽ ở lại nhà chúng tôi; còn xe ngựa và gia nhân có thể sang trạm bưu điện cũ. Tôi xin kính chào quý khách,” ông lão nói. “Thật tiếc vì các vị gặp phải thời tiết tệ hại thế này. Nhưng ở đây chúng tôi mưa suốt ấy mà.”
Vị thân vương bước xuống xe — nước bắn tung xối xả dưới chân ông.
“Ôi Sephi, mau mang cái tấm ván ra đây; Nữ bá không thể xuống xe ở chỗ này được đâu!” Ông lão cuống quít kêu lên, áy náy trước sự bất tiện đang đe dọa quý bà. Sephi, người phụ nữ cao gầy, vội kéo một tấm gỗ từ ngoài vườn vào, trong khi một con chó một mắt bắt đầu sủi sủa dữ dội.
Tấm ván vừa được đặt xuống đã lập tức chìm nghỉm dưới dòng nước, khiến Nữ bá đành phải lội qua vũng nước ngập. Khi bước xuống, ngôi nhà thấp đến mức cô cảm giác như đầu mình sắp đập vào mép mái hiên nhô ra. Những bức tranh fresco đã xỉn màu theo thời gian hình như đang uốn lượn, vặn quẹo thành những hình thù dị dạng dưới ánh sáng chập chờn. Nơi này ngày càng trở nên ảm đạm, ảm đạm đến đáng sợ trong mắt Nữ bá.
“Để tôi bế cô qua nhé?” Vị thân vương hỏi.
“Ôi không!” Cô trả lời với vẻ trách móc, trong khi bàn chân nhỏ nhắn mò mẫm tìm đáy vũng nước. Làn nước lạnh như băng ngập qua chiếc ủng tinh xảo lên đến tận cổ chân. Cô từng tràn đầy mong đợi háo hức, từng sống trong thứ tâm trạng thơ mộng biết bao, vậy mà thực tại trần trụi lại giáng cho cô một đòn phũ phàng vào mặt. Cô run rẩy bước đi lặng lẽ trong dòng nước lạnh.
“Mời vào, phòng của quý vị đã sẵn sàng rồi,” ông lão hồ hởi giục.
Họ đi qua một gian bếp đen kịt vì hàng vạn con ruồi, bước vào một căn phòng trước đây vốn là xưởng làm việc, nay được cải tạo thành phòng khách. Hai đứa trẻ đang ngủ khì trên chiếc ghế sofa cũ rách. Trong góc phòng xếp vài bao rơm làm đệm ngủ; chủ nhà coi chuyện mình không có giường nằm trong suốt Mùa Khổ Nạn là điều dĩ nhiên. Một chiếc đèn dầu hỏa nhả khói nghi ngút treo trên trần nhà bằng gỗ đen xì mục nát, tỏa ra nhiều khói hơn là ánh sáng. Căn phòng thấp đến mức Nữ bá khó lòng đứng thẳng người, hơn nữa trần nhà lại còn bị võng xuống — trong bầu không khí tù mờ ảm đạm ngập tràn khói đèn, những xà gỗ tưởng chừng có thể sập xuống bất cứ lúc nào.
Cảm giác ngột ngạt đè nặng lên người mới đến. Cô kiệt sức hoàn toàn, lạnh buốt, thần kinh căng thẳng đến mức chực khóc. Đôi hàm răng trắng gốm của cô đập vào nhau bập bập. Cô run cầm cập vì lạnh và khó chịu. Ông chủ nhà mở một cánh cửa thấp dẫn vào một căn phòng nhỏ có hai chiếc giường, một cái bàn, một chiếc tủ gỗ tối màu kiểu cổ và hai chiếc ghế.
“Đấy,” ông lão reo lên với giọng vô cùng hài lòng, “đó là phòng của quý bà. Giờ thì quý bà có thể nghỉ ngơi được rồi, nếu cần bất cứ thứ gì, chỉ việc gọi một tiếng là một trong các con gái tôi sẽ vào hầu hạ ngay.”
“Được rồi, ông lão tốt bụng, nhưng còn tôi thì trọ ở đâu?” Vị thân vương hỏi.
“Ồ — hoá ra hai người không phải là một đôi sao? Thế thì Nữ bá phải ngủ chung với một quý bà khác, còn ngài đây thì lên gác trên.”
Ông lão chỉ tay về phía chiếc cầu thang nhỏ nằm ở góc phòng; theo phong tục trong những ngôi nhà nông dân cổ, cầu thang này dẫn từ phòng dưới qua một cửa sập lên thẳng căn phòng ngay phía trên.
“Nhưng tôi không thể ngủ ở đó được, làm vậy sẽ bất tiện cho quý bà kia,” vị thân vương nói. “Ông không còn phòng nào khác sao?”
“À có chứ; nhưng người ta đã đặt cho ngày mai mất rồi,” Andreas Gross đáp, trong khi hai cô con gái đứng trố mắt nhìn ra vẻ bất lực.
“Thế thì cứ nhường phòng đó cho tôi, rồi bảo những người kia đi nơi khác.”
“Ôi! Tôi không làm thế được đâu, thưa ngài. — Tôi đã hứa với người ta rồi.”
“Trời Phật ơi! Tôi sẽ trả gấp đôi, gấp mười lần tiền.”
“Thưa ngài, dù ngài có trả gấp hai mươi lần đi nữa thì tôi cũng chịu thôi; tôi không thể bội hứa được!” Ông lão đáp lại bằng một sự kiên định ôn tồn.
“Chà,” vị thân vương thầm nghĩ, “lão này muốn ép giá mình đây — nhưng mình sẽ giải quyết xong thôi. Nữ bá, xin lỗi cô vài phút để tôi đi tìm chỗ trọ khác nhé.”
“Vì Chúa, hãy cố tìm cho em một chỗ nữa với. Em thà qua đêm trên xe ngựa còn hơn phải ở lại đây!” Nữ bá đáp lại bằng tiếng Pháp.
“Phải, gớm ghiếc thật! Nhưng tìm chỗ tốt hơn chắc không khó đâu. Tạm biệt cô!” Ông trả lời bằng chính thứ ngôn ngữ đó.
“Đừng bỏ em lại một mình với những người này lâu quá nhé. Về sớm nha; em sợ lắm,” cô nói thêm, vẫn dùng tiếng Pháp.
“Thật sao?” Vị thân vương vừa bật cười vừa đáp, nhưng một tia vui sướng lóe lên trong mắt ông.
Trong lúc đó, đứa con gái nhỏ ngủ trên ghế sofa đã tỉnh giấc và đi vào phòng.
Nữ bá yêu cầu mọi người lui ra để cô được nghỉ ngơi, và những người nông dân lịch sự rút lui. Nhưng khi cô định gài cửa lại, cánh cửa lại chẳng có ổ khóa lẫn chốt cài, chỉ duy nhất một cái móc sắt nhỏ xíu lồng vào một chiếc vòng lỏng lẻo.
“Ôi!” Cô thốt lên, giật mình. “Mình không khóa cửa lại được.”
“Quý bà cứ an tâm,” ông lão ôn tồn trấn an, “chúng tôi ngủ ngay phòng bên cạnh đây mà.” Nhưng chính việc ở sát gần những con người xa lạ ấy trong khi không thể khóa chặt cửa lại lại là điều Nữ bá khiếp sợ nhất.
Cô gài chiếc móc sắt tồi tàn vào chỗ chốt rồi ngồi xuống một trong hai chiếc giường — chiếc giường chẳng hề có đệm, chỉ vỏn vẹn một tấm bao tải lót rơm.
Úp mặt vào hai bàn tay, cô để mặc cho những giọt nước mắt uất hận trào ra. Cô vẫn khoác nguyên chiếc áo măng tô và đội chiếc mũ trên đầu, không dám cởi ra vì một cảm giác mơ hồ rằng mình đang bị bủa văng bởi những mối nguy hiểm, rằng cô có thể phải bỏ chạy bất cứ lúc nào. Trong tình cảnh này, rõ ràng giữ nguyên trang phục vẫn an toàn hơn cả. Dù cho tình hình có tồi tệ đến đâu, cô sẽ cứ thế này suốt cả đêm. Đi ngủ trong một ngôi nhà mà mái có thể sập xuống bất cứ lúc nào và những bóng người kỳ quái cứ lảng vảng xung quanh là một mạo hiểm quá lớn. Ngay cạnh chiếc giường Nữ bá đang ngồi có một cánh cửa mà trong lúc hoảng loạn cô đã không chú ý tới. Giờ đây, cô hình như nghe thấy tiếng cào sần sật như tiếng dũa sắt. Rồi tiếp đến là những đòn nện thình thịch và tiếng lạch cạch quái lạ. Những âm thanh đáng sợ, không sao hiểu nổi! Một cú đập mạnh giáng vào cánh cửa — cánh cửa mà chốt gài cũng chẳng khá hơn cửa ngoài là bao. Rồi lại một cú nữa.
“Cả thế lực địa ngục đang hoành hành ở đây rồi,” Nữ bá giật nảy người kêu lên. Đôi chân lạnh ngắt, ướt sũng của cô như bị tê liệt, thần kinh cô như muốn quỵ ngã. Và cô lại chỉ có một mình trong tình cảnh hãi hùng này. Các gia nhân đâu cả rồi? Có lẽ họ đã bị dẫn dụ đi sai đường, bị cướp và bị sát hại rồi chăng — trong khi giông bão bên ngoài vẫn đang cuồng nộ hết sức dữ dội.
Lại có một cú húc nữa định phá tan cánh cửa; dưới hai đòn nện rầm rầm, cánh cửa bắt đầu xiêu vẹo. Nữ bá, như trong một cơn mộng mị, lao ra xưởng làm việc và gần như ngất xỉu, cô cất tiếng gọi sự giúp đỡ từ những con người kỳ quái ở đó — lấy nỗi sợ này để chống lại nỗi sợ khác. Với làn môi cắt không còn hạt máu, cô bảo họ rằng có kẻ đã đột nhập vào nhà, rằng có tên điên hoặc kẻ đào tẩu nào đó đang cố xông vào.
“Ôi! Có gì đâu mà,” Andreas nói với một nụ cười mà trong mắt người phụ nữ đang hoảng sợ kia chẳng khác nào nụ cười của quỷ dữ. Ông tiến thẳng về phía cánh cửa trong tiếng la hét thất thanh của Nữ bá, mở tung nó ra, và — một cái đầu thò vào. Một gương mặt ngựa hiền lành, to đùng, ngơ ngác chớp chớp mắt nhìn ánh sáng và thở khịt khịt từ cặp mũi hồng phập phồng trước cảnh tượng lạ lẫm. Một con ngựa hồng — một con ngựa kéo xe hiền lành đang ở ngay căn phòng bên cạnh Nữ bá von Wildenau!
“Quý bà thấy kẻ tội phạm rồi đấy. Nó có tật gặm máng ăn, đấy là nguyên nhân gây ra mấy cái tiếng động hãi hùng mà quý bà nghe thấy lúc nãy.”
Người phụ nữ đang run rẩy trố mắt nhìn gương mặt ngựa hiền lành, đần độn ấy như thể nhìn thấy một hiện thân từ thiên đường — tuy nhiên, dù đã trút bỏ được gánh nặng và vốn rất yêu ngựa, cô vẫn chẳng thể nào yên tâm đi ngủ được. Cánh cửa vốn đã bị đôi móng guốc nặng như chân voi của con vật ngoan ngoãn kia húc sập một nửa, rất có thể trong đêm, bị quyến rũ bởi mùi thơm của tảo biển dùng để nhồi đệm, con ngựa hồng sẽ nhầm chiếc giường của Nữ bá thành cái máng ăn mà đánh thức cô một cách thô bạo bằng cái mõm hít hà của nó.
“Ồ, chúng tôi sẽ xử lý chuyện đó ngay lập tức,” Andreas nói. “Chúng tôi sẽ buộc nó lại để nó không tuột ra được nữa, đến bốn giờ sáng thì người đánh xe đến, lúc đó quý bà sẽ không bị quấy rỗ nữa đâu.”
“Sau khi đã chẳng thể khép mắt nổi suốt cả đêm,” Nữ bá lẩm bẩm, bước theo ông lão để xem ông buộc chặt con ngựa. Phải rồi, căn phòng thông với đây qua một cánh cửa chẳng có khóa cũng chẳng có ngạch cửa chính là một cái chuồng ngựa. Mấy con gà giật mình bay ra khỏi đống rơm — lại còn thế nữa chứ. “Khi con ngựa rời chuồng thì lũ gà trống sẽ bắt đầu gáy. Thật là một đêm kinh hoàng sau một ngày mệt mỏi!” Ông lão mỉm cười với vẻ bề trên trêu ngươi, rồi nói:
“Vâng, ở quê là nó thế đấy ạ.”
“Không, tôi sẽ không ở lại đây đâu — thà tôi qua đêm trên xe ngựa còn hơn. Làm sao mà người ta có thể sống ở cái nơi này, dù chỉ là một ngày cơ chứ,” Nữ bá thầm nghĩ.
“Quý bà có muốn ăn chút gì không? Để con gái tôi làm món schmarren nhé?”
“Món schmarren ư! Trong cái nhà bếp nhung nhúc ruồi đó sao.” Nữ bá cảm thấy buồn nôn.
“Không, cảm ơn.” Dù có chết đói, cô cũng không thể nuốt nổi một miếng nào ở cái nơi này.
Con ngựa hồng cuối cùng cũng được buộc lại, và vì chẳng có việc gì khác để làm, nó tiếp tục gặm máng ăn và hít không khí — một hành động cực kỳ tra tấn thần kinh của cô hàng xóm xinh đẹp ở phòng bên. Cuối cùng — ôi sung sướng thay, sự giải thoát đã đến — cỗ xe thứ hai lóc sóc đỗ trước cửa nhà, chở theo cô hầu gái và tên gia nhân.
“Vào đi, vào đi!” Nữ bá gọi từ cửa sổ. “Đừng dỡ bất kỳ hành lý nào xuống cả. Tôi sẽ không ở lại đây đâu.”
Hai người gia nhân bước vào với khuôn mặt đỏ bừng.
“Trời đất ơi, hai người đã ở đâu mà lâu thế hả?” Người chủ nữ hỏi với giọng hống hách, mừng rỡ vì cuối cùng cũng trút được cơn bực bội lên đầu ai đó.
“Gã tài xế đi nhầm đường ạ,” tên gia nhân ấp úng, liếc nhìn cô hầu gái đang thẹn thùng đỏ mặt. Nữ bá nhìn qua là hiểu ngay sự cớ và lập tức lấy lại uy nghi thường ngày. Sự sợ hãi, e ấp và mọi sự yếu đuối thần kinh của cô tan biến hoàn toàn trước niềm tự hào của một người chủ bị xúc phạm — người đã bị bắt chờ đợi suốt một tiếng đồng hồ, để rồi khi kết thúc, lũ gia nhân chậm trễ bước vào với khuôn mặt bối rối thể hiện rõ ràng rằng sự chậm trễ dài đến thế là hoàn toàn vô cớ.
Cô vươn thẳng người hết cỡ, nỗi sợ hãi của người phụ nữ đã bị lấn át bởi niềm tự hào của một quý bà gia thế.
“Gia nhân, ngươi bị sa thải — cấm nói thêm lời nào nữa!”
“Thế thì tôi xin Đức Bà sa thải cả tôi nữa ạ,” cô hầu gái cuống quýt nói, tự tố giác chính mình. Một ánh nhìn khinh bỉ từ Nữ bá dừng lại trên kẻ phạm lỗi, nhưng không một chút đắn đo, cô thản nhiên nói:
“Rất tốt. Cả hai người có thể đến gặp quản gia để nhận tiền lương. Chào hai người.”
Cả hai tái mặt, lặng lẽ rời khỏi phòng. Họ không ngờ lại bị sa thải nhanh đến thế, nhưng họ hiểu tính khí của chủ mình và biết rằng sẽ không được phép nói thêm một lời nào nữa, chẳng có lời bào chữa hay xin xỏ nào có tác dụng. Nữ bá lúc này tâm trạng cũng chẳng dễ chịu gì. Cô bị bỏ lại đây — không có hầu gái. Lần đầu tiên trong đời cô sẽ phải tự phục vụ bản thân, tự tay dỡ tất cả những chiếc rương và túi xách đồ đồ sộ kia. Làm sao cô có thể làm nổi đây? Cô lạnh và mệt mỏi đến thế, lại còn chẳng biết chiếc túi nào trong số vô vàn chiếc túi kia đựng giày và tất khô. Chẳng lẽ cô phải lôi hết mọi thứ ra, trong khi chính cô sẽ phải tự tay đóng gói lại? Bởi vì lúc này cô nhất định phải chuyển sang một ngôi nhà khác, giữa những con người văn minh, nơi cô có thể có gia nhân phục vụ chứ không phải hoàn toàn cô độc thế này. Ôi, giá mà cô đừng đến cái vùng Ammergau này — thật là một nơi hãi hùng! Người ta khó lòng đánh đổi sự cứu rỗi của thế giới bằng một buổi tối thế này. Thật tồi tệ khi rơi vào tình cảnh này — lại còn không có hầu gái nữa chứ!
Và, vì những chuyện vặt vãnh thường khiến ngay cả những người phụ nữ cao quý nhất cũng phải nản lòng bởi đó là chuyện của thần kinh chứ không phải của nhân cách, người quý bà vừa đứng lên đối mặt với gia nhân một cách kiêu hãnh lúc nãy lại gục xuống giường và khóc như một đứa trẻ.
Có tiếng gõ nhẹ vào cửa xưởng làm việc. Nữ bá mở cửa, và người chị gái thấp đậm rụt rè bước vào.
“Xin lỗi Đức Bà, chúng tôi vừa nghe nói quý bà đã sa thải hầu gái và gia nhân, nên tôi muốn hỏi xem chị em tôi có thể giúp gì được không? Có lẽ chúng tôi có thể giúp dỡ đồ đạc ra một chút chăng?”
“Cảm ơn chị — tôi không muốn ở lại đây qua đêm và hy vọng bạn đồng hành của tôi sẽ mang tin tức về việc tìm được chỗ trọ khác. Tôi sẽ trả bất cứ giá nào chị yêu cầu, nhưng tôi không thể ở lại đây được. Chị hãy hỏi cha chị xem ông ấy lấy bao nhiêu, tôi sẽ đưa bất cứ thứ gì chị muốn — chỉ cần cho tôi đi thôi.”
Ông lão được gọi vào.
“Ồ dĩ nhiên rồi, Nữ bá, quý bà hoàn toàn có thể yên tâm về chuyện đó; nếu quý bà không thích ở lại với chúng tôi thì chuyện đó chẳng có gì phải bận tâm cả. Quý bà sẽ không phải trả bất cứ khoản tiền nào — chỉ có điều quý bà phải nhanh chân lên, bằng không sẽ không tìm được chỗ trọ đâu, dạo này tìm phòng khó lắm.”
“Vâng, nhưng ông phải nhận chút bồi thường chứ. Cứ nói cho tôi biết tôi phải trả bao nhiêu.”
“Không có gì đâu, Nữ bá. Chúng tôi không nhận tiền cho những thứ khách chưa ăn!” Andreas Gross đáp lại với một sự kiên định ấn tượng đến mức người quý bà phải kinh ngạc nhìn ông. “Người dân Ammergau không kinh doanh nghề cho thuê phòng trọ đâu, Nữ bá ạ; việc đó chỉ có những gã đầu cơ từ nơi khác đến mới làm thôi, những kẻ muốn kiếm thật nhiều tiền vào thời điểm này, và ôi chao! Đã mang lại cho Ammergau cái tiếng là bóc phốt, chặt chém! Dân làng chúng tôi làm việc này chỉ vì muốn có càng nhiều du khách đến xem vở diễn càng tốt, và chúng tôi vui mừng nếu trang trải đủ chi phí. Chúng tôi không trông mong gì hơn thế.”
Nữ bá đột nhiên nhìn gương mặt “gian giảo” kia dưới một ánh sáng hoàn toàn khác! Hẳn là bóng tối nhập chạng vạng đã đánh lừa cô. Giờ đây cô lại thấy đó là một gương mặt trí tuệ và cao quý, thậm chí khuôn mặt nhăn nheo, những lọn tóc xám dài và đôi mắt tinh anh, sâu róm lại mang một vẻ uy nghi của bậc trưởng thượng. Cô đột nhiên nhận ra rằng những con người này hẳn đã được thiên nhiên ban tặng cho những tấm mặt nạ mà nhân cách của họ yêu cầu, chứ không phải được vẽ bằng phấn nụ, và do đó những nét tính cách của quá khứ đã vô thức in đậm lên từng đường nét. Cũng theo cách đó, giữa những diễn viên chuyên nghiệp, người đóng các vai tính cách có thể dễ dàng phân biệt được với kẻ đóng vai người tình.
“Ông cũng tham gia đóng kịch sao?” Cô tò mò hỏi.
“Tôi đóng vai Dathan, gã thương nhân Do Thái,” ông tự hào nói. “Tôi đã tham gia Vở kịch được sáu mươi năm rồi, vì hồi tôi còn là một đứa trẻ ba tuổi, tôi đã ngồi trong lòng Eva ở các cảnh tạo hình.” Nữ bá không thể nén nổi một nụ cười, và gương mặt của lão Andreas cũng bừng sáng lên.
Đứa con gái nhỏ, con của người phụ nữ thấp đậm, hé mắt nhìn qua cánh cửa khép hờ, đôi mắt lấp lánh ngước nhìn người quý bà xinh đẹp.
“Đứa bé này là con ai thế?” Nữ bá hỏi, chú ý đến chỏm tóc mềm mại và đôi mắt sáng ngời của cô bé.
“Nó là cháu ngoại tôi, con gái của Anna, con gái tôi. Bố nó là người từ nơi khác đến. Hắn đã bỏ đi, để lại vợ và hai đứa con trong cảnh nghèo khổ. Thế nên tôi đã đón cả ba mẹ con về lại nhà mình.”
Nữ bá nhìn thân hình gầy gò, khắc khổ của ông lão, rồi lại nhìn hai mẹ con người phụ nữ đậm người kia.
“Ai nuôi sống họ?”
“Ồ, chúng tôi đùm bọc lẫn nhau thôi,” Andreas trả lời lảng sang chuyện khác. “Tất cả chúng tôi cùng nhau làm việc. Con trai tôi, thầy giáo dạy vẽ, cũng giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Không có nó thì chúng tôi không sống nổi.” Rồi tự ngắt lời mình với một vẻ giật mình hoảng hốt, như thể sợ có ai nghe thấy, ông nói thêm: “Nhưng tôi không nên nói điều đó — nó sẽ giận lắm nếu biết chuyện đấy.”
“Có vẻ như ông hơi sợ con trai mình thì phải,” Nữ bá nói.
“Vâng, vâng — nó nghiêm khắc lắm, rất nghiêm khắc và tự trọng, nhưng lại là một người con ngoan.”
Đôi mắt ông lão lấp lánh niềm yêu thương và tự hào.
“Thế anh ấy đâu rồi?” Nữ bá sốt sắng hỏi.
“Ồ, nó không bao giờ cho người lạ gặp mặt nếu có thể tránh được.”
“Anh ấy cũng diễn kịch chứ?”
“Không; nó dàn dựng các cảnh tạo hình, và công việc đó đòi hỏi năng lực của một nguyên soái, bởi vì nó phải chỉ huy hai hoặc ba trăm người, nó tập hợp họ lại và họ tuân lệnh nó như thể nó là một vị tướng vậy.”
“Anh ấy hẳn phải là một người rất thú vị.”
Đúng lúc đó, tiếng bước chân của vị thân vương vang lên ngoài phòng khách.
“Tôi vào được chứ?”
“Vào đi, Thân vương.”
Ông bước vào, người ướt sũng nước mưa.
“Tôi chẳng tìm được gì ngoài một căn phòng nhỏ cho bản thân, trong một cái túp lều còn tồi tàn hơn cái này. Tất cả các nhà lớn đều đông nghịt người rồi. Chính Quỷ Satan đã dẫn chúng ta đến giữa lũ nông dân quái đản này!” Ông tức giận nói bằng tiếng Pháp.
“Đừng nói thế,” Nữ bá nghiêm nghị đáp lại bằng cùng thứ ngôn ngữ. “Họ là những thánh nhân đấy.” Đứa con gái nhỏ thì thầm vào tai mẹ.
“Xin lỗi ngài; nhưng con tôi hiểu tiếng Pháp và nó vừa nói với tôi rằng ngài không tìm được phòng cho quý bà,” con gái của Andreas rụt rè nói. “Tôi biết có một phòng trong một ngôi nhà rất đẹp gần đây. Tôi sẽ chạy sang đó nhanh nhất có thể để xem nó còn trống không. Nếu ngài giữ được phòng đó thì sẽ tốt hơn ở nhà chúng tôi nhiều.” Cô vội vã tiến về phía cửa.
“Dừng lại, cô kia,” vị thân vương gọi, “cô không thể ra ngoài lúc này được đâu; mưa đang trút xuống như trút nước, lại sắp có một cơn mưa rào khác đến đấy.”
“Phải đấy, ở lại đi,” Nữ bá kêu lên, “chờ cho cơn bão qua đi đã.”
“Ôi không! Chỗ trọ đang bị người ta đặt từng phút một, chúng ta không thể lãng phí một giây nào cả.” Ngay khoảnh khắc tiếp theo, cô trùm một chiếc khăn xô lên đầu rồi rời khỏi nhà. Cô vừa chạy qua ô cửa sổ thấp — một tia sét sáng quắc soi rọi căn phòng, làm nổi bật vóc dáng nhỏ bé, còng xuống của cô như một bức hình bóng đen. Một tiếng sấm rền vang lập tức bám đuổi theo sau.
“Cơn bão đang ở ngay trên đầu chúng ta rồi,” vị thân vương lo lắng nói. “Chúng ta không nên để cô ấy đi mới phải.”
“Ồ, không sao đâu,” ông lão mỉm cười nói, “nó vui lòng làm việc đó mà.”
“Hãy kể cho tôi nghe về những con người kỳ lạ này đi,” vị thân vương bắt đầu, nhưng Nữ bá ra hiệu cho ông rằng đứa bé hiểu tiếng Pháp. Ông nhìn cô bé với một vẻ mặt buồn cười như muốn nói: “Đúng là những ‘dân bản địa’ kỳ lạ khi cho con cái mình một nền giáo dục tốt đến thế.”
Nữ bá tiến lại gần cửa sổ, bồn chồn nhìn ra cơn giông bão đang cuồng nộ bên ngoài. Một cảm giác tự trách dấy lên trong lòng cô vì đã để người phụ nữ tốt bụng kia lao ra giữa sự cuồng nộ này của thiên nhiên. Đặc biệt là khi những con người này chẳng chịu nhận tiền bồi thường, và do đó sẽ mất đi một khoản lợi nhuận nếu tìm được chỗ trọ khác.
Đó là tổn thất của cô ấy, vậy mà cô ấy lại thể hiện một sự sốt sắng hân hoan đến thế.
Cả nhóm người nhỏ giờ đã đi vào phòng khách. Nữ bá ngồi trên bậu cửa sổ, trong khi hết tia sét này đến tia sét khác bùng lên, và hết tiếng sấm này đến tiếng sấm khác nổ tung từ trên trời cao. Cô không còn nghĩ đến bản thân nữa, chỉ nghĩ đến người phụ nữ tội nghiệp ở bên ngoài. Đứa con gái nhỏ khóc sụt sùi vì lo cho người mẹ tội nghiệp đang phải hứng chịu cơn bão, và nó lẻn ra cửa đứng đợi mẹ. Vị thân vương run rẩy ngồi trên chiếc ghế dài cạnh lò sưởi. Lão Gross thấy vậy liền chất thêm chất đốt “để quý ông có thể sưởi khô người”. Một ngọn lửa hồng nhanh chóng cháy mập mùng trong chiếc lò sưởi màu xanh lá khổng lồ, trụ cột chính của trần nhà đang võng xuống.
“Làm ơn cứ tính tiền củi vào hóa đơn của tôi,” vị thân vương ngượng ngùng nói.
Ông lão mỉm cười.
“Mấy người quý tộc các vị lúc nào cũng muốn trả tiền cho mọi thứ nhỉ. Chính chúng tôi cũng cần đốt lửa mà.” Nói rồi ông rời khỏi phòng. Người chị gái gầy gò lúc này thấy nên không làm phiền những người khách lạ nữa nên cũng đi ra ngoài.
“Nói cho tôi nghe đi, Nữ bá,” vị thân vương bắt đầu, tựa lưng một cách thoải mái vào chiếc lò sưởi ấm áp, “tôi có thể ướp hương cho bầu không khí chẳng mấy dễ chịu này bằng một điếu thuốc lá được không?”
“Tất nhiên rồi, em đã quên mất trên đời này còn có thứ gọi là thuốc lá đấy.”
“Anh cũng thấy thế,” vị thân vương thản nhiên nói. “Nói cho anh nghe đi, chère amie, giờ đây khi cô đã tận hưởng trọn vẹn mọi sự run rẩy của tình cảnh lãng mạn này rồi, cô có muốn dùng một tách trà không?”
“Trà ư?” Nữ bá nhìn ông như thể vừa bừng tỉnh sau một giấc mộng, “trà sao!”
“Phải, trà đấy,” vị thân vương quả quyết. “Người bạn tội nghiệp của anh ơi, cô hẳn đã sống cả một thiên kỷ trong một giờ đồng hồ qua giữa những ‘kẻ dã man’ này nên mới quên mất một trong những sản phẩm tuyệt vời nhất của văn minh rồi.”
“Trà,” Nữ bá nhắc lại, lúc này mới nhận ra sự kiệt sức của mình, “thế thì đỡ mệt lắm, nhưng em chẳng biết làm sao để có được nó nữa, em đã đuổi cô hầu gái đi mất rồi.”
“Phải, anh đã gặp đôi tình nhân bị sa thải đó trong trạng thái tuyệt vọng hoàn toàn. Và anh có thể hình dung ra rằng Nữ bá Madeleine kính yêu của anh — đứa trẻ được cưng chiều và nuông chiều nhất của số phận và giới thượng lưu — chẳng biết làm thế nào để tự xoay xở. Anh chẳng thấy tiếc tẹo nào đâu, vì anh sẽ được hưởng lợi từ việc đó. Giờ đây anh có thể đóng vai một Đấng An Bài tốt bụng. Thật là may mắn cho một kẻ đang yêu! Có đúng không nào? Vậy nên hãy cho phép anh đảm nhận vị trí của cô hầu gái — trong chừng mực có thể. Anh có mang theo trà và tên gia nhân của anh, ơn trời là anh không phải đuổi nó đi, đang chờ lệnh của cô để phục vụ đấy.”
“Anh tốt quá, Thân vương. Nhưng hãy nghĩ đến cái nhà bếp nhung nhúc ruồi đó xem.”
“Ồ, cô không cần phải cảm thấy khó chịu về chuyện đó đâu. Cô rõ ràng là chưa quen với vùng núi rồi. Anh biết lũ ruồi này mà, chúng khác với lũ ruồi ở thành phố chúng ta và có một kỹ năng đặc biệt trong việc tránh xa thức ăn. Cô cứ thử một lần xem sao.”
“Vâng, nhưng trước tiên chúng ta phải xác định xem liệu em có lấy được căn phòng khác không đã,” Nữ bá lại rơi vào trạng thái chán nản.
“Nữ bá yêu quý nhất của anh ơi, điều đó có ngăn cản chúng ta dùng chút đồ ăn thức uống không? Đừng có mất tinh thần thế chứ,” vị thân vương vừa cười vừa nói.
“Ồ, anh cười thì dễ rồi. Tình cảnh này bi thảm lắm đấy, em đoan chắc với anh đấy.”
“Đủ bi thảm để bõ công thể hiện một sự cao thượng nhất định trong tâm hồn, chứ không phải, theo đúng kiểu nữ giới, mất đi mọi sự bình tĩnh.”
Vị thân vương gạt tàn thuốc lá rồi đi ra cửa bảo tên gia nhân dọn trà lên. Khi ông trở lại, Nữ bá đột nhiên bước tới đón ông, đưa tay ra và nói với một nụ cười mê đắm:
“Thân vương, hôm nay anh thật quyến rũ, còn em thì không thể chịu nổi. Em cảm ơn anh vì sự kiên nhẫn anh đã dành cho em.”
“Madeleine,” ông trả lời, chế ngự sự xúc động của mình, “nếu anh không biết tấm lòng tốt bụng của cô, anh sẽ tin cô là một mụ Circe, kẻ thích thú với việc làm cho đàn ông phát điên. Nếu không nhờ lý trí lạnh lùng, tỉnh táo của anh, điều mà cô luôn nhấn mạnh, thì lúc này anh đã nhầm tình cảm khiến cô đối xử với anh nhã nhặn thế này là tình yêu, và do đó tự đẩy mình vào sự thất vọng. Nhưng lý trí cho thấy rõ ràng đó chỉ là sự biết ơn của một tấm lòng tốt bụng đối với một dịch vụ nhỏ nhặt được thực hiện trong một tình huống khó chịu, và anh quá tự trọng để làm một cách nghiêm túc điều anh vừa nói đùa lúc nãy — lợi dụng cơ hội này.”
Nữ bá, lạnh người và xấu hổ, rụt tay lại. Đó là tiếng nói của một người đàn ông khô khốc, thực dụng, tầm thường. Giá như lúc này ông biết cách lợi dụng tâm trạng của cô khi, trong tình cảnh bất lực của mình, ông xuất hiện như một đấng cứu thế trong giờ phút gian nguy, biết đâu điều gì sẽ xảy ra! Nhưng đó lại chính là điều ông khinh bỉ. Người đàn ông từng trải của thế giới biết rõ phụ nữ đủ để hiểu rằng người ta dễ dàng chiếm được cảm tình của một người trong khoảnh khắc suy sụp thần kinh, bối rối tuyệt vọng và bất lực đến thế nào, tuy nhiên dù luôn sẵn sàng tận hưởng mọi tình huống ly kỳ, nhưng chính vì thế hoặc có lẽ vì lý do đó mà ông quá tự trọng để nhờ vào một sự cố kiểu này mà có được người phụ nữ mình đã chọn làm bạn đời. Nữ bá cảm nhận được điều này và thầm mừng vì ông đã thấu hiểu cho cô và chính bản thân ông khỏi một sự thất vọng.
“Phụ nữ là thế đấy,” ông nhẹ nhàng nói, nhìn cô với một vẻ mặt gần như thương hại. “Vì một bát súp của một tình huống dễ chịu, họ sẵn sàng bán đi quyền thừa kế của những tình cảm linh thiêng nhất của mình.”
“Đó là một sự thật trang trọng, đắng ngắt, thứ sự thật mà em không quen nghe từ môi anh, Thân vương ạ. Nhưng dù cho cái vực thẳm của sự thực tế mà anh đã rút ra kinh nghiệm này có sâu đến đâu, anh cũng sẽ không tìm thấy điều đó được xác nhận ở em đâu.”
“Nghĩa là, từ nay trở đi cô sẽ trừng phạt anh bằng sự lạnh nhạt của cô, trong khi cô biết thừa rằng chính sự chân thành trong tình cảm của anh dành cho cô đã thôi thúc hành động của anh, Nữ bá ạ, sự trả thù đó thật không đáng; một người phụ nữ như cô không nên hạ mình xuống sự nhạy cảm vặt vãnh của tự trọng nữ giới thông thường.”
“Ồ, Thân vương, anh lúc nào cũng đúng, và tin em đi, nếu em mang trái tim ở trên đầu thay vì ở trong lồng ngực, nghĩa là, nếu chúng ta có thể yêu bằng trí tuệ, thì em đã thuộc về anh từ lâu rồi, nhưng ôi chao, bạn của em ơi, từ đầu đến trái tim sao mà xa quá.”
Vị Thân vương châm một điếu thuốc khác. Chẳng ai có thể đoán được điều gì đang diễn ra trong đầu ông. “Thế thì càng tệ cho anh!” Ông lạnh nhạt nói, nhún vai.
Đúng lúc đó, một chớp lửa trùm kín căn phòng, và tiếng sấm nổ tung theo sau nghe như thể trần nhà đã sụp xuống và đè bẹp mọi thứ bên dưới. Nữ bá có vẻ bàng hoàng.
“Mẹ ơi, mẹ ơi!” Một tiếng kêu thất thanh vang lên bên ngoài. Mọi người tụ tập trên phố, tiếng người nói, tiếng la hò, tiếng bước chân hối hả và tiếng khóc của đứa con gái nhỏ. Vị thân vương nhảy qua cửa sổ ra ngoài, Nữ bá lấy lại ý thức — về cái gì cơ chứ?
“Có người bị sét đánh rồi.” Cô vội vã lao ra ngoài.
Một thân thể bất tỉnh được bế vào và đặt lên chiếc ghế dài ngoài hành lang. Đó chính là người phụ nữ tốt bụng mà sự đỏng đảnh của cô đã đẩy ra ngoài cơn bão — có lẽ là dẫn đến cái chết của cô ấy. Cô ấy nằm đó lặng lẽ và tái nhạt, đôi mi khép chặt; bàn tay cô ấy lạnh ngắt, các đường nét trên mặt sắc lẹm và cứng đờ như của một cái xác, nhưng trái tim cô ấy vẫn còn đập dưới chiếc áo ướt sũng. Nữ bá bảo vị thân vương lấy nước hoa Cologne và muối ngửi từ trong túi xách của cô ra và khéo léo áp dụng các biện pháp sơ cứu; vị thân vương giúp cô xoa bóp các động mạch trong khi cô cố gắng khôi phục lại ý thức bằng những thứ tinh chất nồng nặc. Trong khi đó, người chị gái kia dỗ dành đứa trẻ đang khóc. Andreas Gross rót vài giọt chất lỏng nào đó từ một chiếc bình bụi bặm vào miệng người bệnh, thản nhiên nói: “Quý bà không việc gì phải sợ hãi thế đâu, tôi cũng biết chút ít về y thuật; đây chỉ là một cơn ngất nặng thôi. Người kia mới tệ hơn.”
“Có hai người bị sét đánh sao?” Nữ bá kinh hoàng hỏi.
“Vâng, một người trong dàn nhạc, người chơi vĩ cầm chính.”
Một suy nghĩ đột ngột lóe lên trong óc Nữ bá, và một cảm giác hãi hùng xâm chiếm cô như thể ở Ammergau này có một sinh mạng yêu quý mà cô phải run sợ cho người đó. Vậy mà cô đâu có quen biết ai.
“Làm ơn lấy cho tôi chiếc khăn khăn choàng trong phòng,” cô nói với vị thân vương, và khi ông đã đi khỏi, cô vội vã hỏi: “Nói cho tôi biết, người nhạc sĩ đó có cao không?”
“Ồ, có chứ.”
“Anh ấy có mái tóc đen dài không?”
“Không, anh ấy tóc vàng,” ông lão trả lời.
Nữ bá, với một cảm giác nhẹ nhõm, giữ im lặng, vị thân vương trở lại. Người phụ nữ bệnh tật mở mắt ra và một tiếng thở dài yếu ớt thoát ra khỏi môi cô.
“Ở đây sắp có một cảnh tượng kịch tính đây,” vị thân vương nghĩ. “Có thể khai thác được khối chuyện từ một tình huống thế này. Người bạn xinh đẹp của mình sẽ đền bù từng giọt nước mắt bằng một đồng tiền vàng cho mà xem.”
Sau một thời gian ngắn, người phụ nữ lấy lại đủ ý thức để nhận ra xung quanh và cố gắng nhấc chân khỏi chiếc ghế dài. “Ồ, Nữ bá, quý bà sẽ vất vả quá. Làm ơn đi vào trong đi, ở đây gió lùa mạnh lắm.”
“Vâng, nhưng chị phải đi cùng tôi,” Nữ bá nói, “thử xem chị có cử động chân được không.”
Vô ích thôi, cô ấy cố bước một bước, nhưng đôi chân không chịu nghe theo mệnh lệnh của cô ấy nữa.
“Ôi chao!” Nữ bá xúc động sâu sắc kêu lên. “Cô ấy bị liệt rồi — và đó là lỗi của tôi.”
Anna nhẹ nhàng nắm lấy tay cô và đưa lên môi. “Xin quý bà đừng tự dằn dằn dỗi mình, Nữ bá, rồi sẽ qua thôi mà. Tôi chỉ tiếc là đã làm quý bà sợ hãi đến thế.” Cô ấy cố gắng mỉm cười, gương mặt xấu xí lúc này trông thật sự đẹp đẽ, và tông giọng của cô ấy, thứ rung rẩy mà cô ấy cố che giấu, thật xúc động khi cô ấy cố gắng trấn an và làm dịu đi sự tự trách của người phụ nữ đã gây ra tai họa khiến nước mắt đong đầy mắt Nữ bá.
“Cô ấy thật là biết điều,” vị thân vương ngạc nhiên trước sự tế nhị và tình cảm như thế.
“Đến đây,” Nữ bá nói, “chúng ta phải đưa cô ấy vào căn phòng ấm áp.”
Andreas Gross, và theo sự ra hiệu của vị thân vương, tên gia nhân, bế người phụ nữ bệnh tật vào và đặt cô ấy lên chiếc ghế dài cạnh lò sưởi. Nữ bá nắm lấy bàn tay lạnh như băng của cô ấy, trong khi nước mắt chảy dài trên má người bệnh.
“Chị có thấy đau ở đâu không?” Người quý bà lo lắng hỏi.
“Không, ồ không — nhưng tôi không thể ngăn mình bật khóc vì Nữ bá quá tốt với tôi — tôi không thấy đau đớn gì cả — thật đấy!” Cô ấy lại mỉm cười, nụ cười xúc động muốn an ủi người khác.
“Vâng, vâng,” ông lão nói, “quý bà không cần phải lo lắng đâu, ngày mai nó sẽ khỏi thôi mà.”
Đứa trẻ tựa đầu một cách âu yếm vào ngực mẹ, một bầu không khí bình yên lạ kỳ bao trùm căn phòng, một sự tự trọng khiêm nhường đánh dấu thái độ của những người nông dân nghèo khổ. Vị thân vương và Nữ bá cũng ngồi trong sự im lặng trầm tư. Đột nhiên người phụ nữ bệnh tật giật mình ngồi dắt dậy, “Ồ chết rồi, tôi suýt quên mất chuyện chính. Quý bà có thể lấy chỗ trọ rồi đấy. Hai căn phòng rất đẹp và sự phục vụ tuyệt vời, nhưng Nữ bá phải đi ngay sau khi cơn mưa rào kết thúc. Người ta chỉ giữ phòng trong một giờ thôi. Đến mười giờ sẽ có thêm người đến đấy.”
“Cảm ơn chị,” Nữ bá nói với một vẻ mặt kỳ lạ.
“Ồ, không cần đâu ạ. Tôi chỉ mừng vì đã giữ được phòng, và Nữ bá có thể có người phục vụ,” người phụ nữ bệnh tật vui vẻ trả lời. “Tôi sẽ sớm khỏe lại thôi, lúc đó tôi sẽ dẫn đường.”
“Cảm ơn chị,” Nữ bá chân thành nhắc lại. “Tôi không cần những căn phòng đó đâu, tôi sẽ ở lại đây.”
“Cô định làm gì thế?” Vị thân vương kinh ngạc hỏi.
“Vâng, em thấy xấu hổ vì tối nay mình đã quá ngớ ngẩn. Các vị tốt bụng có giữ em lại không, sau khi em đã làm tổn thương các vị nhiều đến thế, và gây ra cho các vị nhiều tác hại đến thế.”
“Ồ! Quý bà cứ tùy nghi theo ý thích của mình. Chúng tôi rất vui nếu quý bà ở lại với chúng tôi, nhưng chúng tôi sẽ không phật ý đâu, nếu ở nơi khác dễ chịu hơn cho quý bà,” ông lão nói với một sự tốt bụng không hề thay đổi.
“Thế thì tôi sẽ ở lại.”
“Đó là một quyết định tốt đấy, Nữ bá,” vị thân vương nói. “Cô luôn làm điều đúng đắn.” Ông ra hiệu cho Sephi, người chị gái gầy gò, và thì thầm vài lời. Cô ấy biến mất trong phòng Nữ bá, một lúc sau trở lại với đôi giày và tất khô mà cô ấy tìm thấy trong một chiếc túi xách du lịch. Vị thân vương đi ra cửa sổ và đứng đó quay lưng về phía căn phòng. “Chúng ta phải làm những gì tốt nhất mà cơ hội cho phép,” ông năng nổ nói. “Tôi xin Đức Bà hãy để người phụ nữ này thay giày và tất cho cô. Tôi có trách nhiệm với sức khỏe của cô, không chỉ với bản thân tôi, mà còn với xã hội nữa.”
Nữ bá phục tùng sự sắp xếp của vị thân vương, và đôi chân nhỏ lạnh như băng trượt một cách dễ chịu vào những thứ bao bọc khô ráo mà Sephi đã sưởi ấm bên lò sưởi. Giờ đây cô cảm thấy như mình đang ở giữa những con người thực sự và dần trở nên dễ chịu hơn. Sau khi Sephi rời khỏi phòng, cô hãnh tiến bước lại gần vị thân vương trong đôi dép khô ráo, và nói: “Đến đây, Thân vương, chúng ta hãy đi đi lại lại để dòng máu lạnh giá của chúng ta lưu thông trở lại đi.”
Vị thân vương lịch thiệp đưa tay ra và dẫn cô đi đi lại lại dọc theo gian xưởng dài. Madeleine lúc này thật mê đắm, và nét mặt biết ơn trên gương mặt sinh động của cô hợp với cô đến kỳ lạ.
“Mình phải đi thôi,” ông nghĩ, “bằng không mình sẽ bị dẫn dụ làm một điều điên rồ nào đó làm hỏng mất mọi cơ hội của mình với cô ấy mất.”