Trên Thánh Giá: Mối Tình Tại Oberammergau

Lượt đọc: 86 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
Những Cuộc Xung Đột

❊ ❊ ❊

Trời đã sáng! Ngọn đèn gần như đã cạn dầu! Josepha và nữ bá tước đang bận rộn chăm sóc đứa trẻ, giấc ngủ của thằng bé bị làm cho gián đoạn bởi những tiếng ho ngắn và khô. Người mẹ đã ở lại lâu đài nhỏ suốt cả đêm và chỉ chợp mắt được vài giờ. Đôi khi, khi ở bên đứa con nhỏ, tình mẫu tử trong lòng nàng lại trỗi dậy. Khi ấy, nàng bị nỗi sợ hãi tột cùng bủa vây, sợ rằng Chúa sẽ thu hồi lại một món quà quý giá chỉ vì nàng chưa từng biết trân trọng giá trị của nó. Nàng thừa hiểu điều đó là hoàn toàn công bằng — và chính vì sự công bằng ấy, nàng thấy nó rất dễ xảy ra, khiến trái tim nàng nỗ lực bù đắp chỉ trong vài giờ cho sự thờ ơ suốt bao nhiêu năm. Có lẽ nhờ vậy mà nàng có thể trốn tránh được hình phạt. Thế nhưng, khi nàng rời đi, ngôi sao nhỏ bé nhợt nhạt trên chân trời của nàng lại lùi dần vào dĩ vãng trước những hiện tượng muôn hình vạn trạng của thế giới ngoài kia; và chỉ trong những khoảnh khắc cô lập, qua một nỗi đau âm ỉ, nàng mới nhận ra rằng trong tâm hồn mình vẫn còn đang ẩn chứa những tình cảm không tài nào phát triển nổi — tựa như một kho báu bị giấu kín ở nơi không thể nào đào lên được. Điều đó giống như ngụ ngôn về người đầy tớ đã chôn giấu nén bạc thay vì đem đi cho vay lấy lãi. Nén bạc mà Chúa giao phó cho con người chính là tình yêu. Một cảm xúc cao cả, quý giá bị chúng ta kìm nén chính là kho báu bị chôn vùi mà Chúa sẽ đòi lại khi thời hạn Ngôi ban phát đã cạn kỳ. Có những giờ phút người đàn bà bất hạnh ấy đã ngộ ra điều đó. Khi ấy, nàng oán trách tất cả mọi thứ — cả thế giới và chính bản thân mình! Và đứa trẻ tội nghiệp đã cảm nhận được trong tâm hồn non nớt của mình nỗi buồn của "quý bà xinh đẹp", người mà nó linh cảm yêu thương như mẹ ruột dù chẳng hề hay biết đó chính là mẹ mình. Những đứa trẻ bình thường, cũng giống như loài vật, thường yêu quý nhất những ai chăm sóc nhu cầu thể xác của chúng, và do đó thường quấn quýt với vú em nhiều hơn là với mẹ. Nhưng thằng bé này thì không. Nó gần như vô ơn với Josepha, người càng tận tụy chăm sóc nó bao nhiêu thì càng bị nữ bá tước bỏ bê bấy nhiêu.

Josepha dành cho đứa trẻ một tình cảm sâu sắc và mãnh liệt. Toàn bộ tình yêu thương đầy đau khổ mà nàng từng cất giấu trong trái tim hoang phế dành cho đứa con trai đã khuất của mình, ngay từ khoảnh khắc đầu tiên, đã được chuyển sang sinh linh mong manh và thiếu vắng tình mẫu tử này. Thằng bé gợi cho nàng nhớ nhãn về đứa con tội nghiệp của chính mình: nét tương đồng rõ rệt trong gia phả giữa nó và Freyer — cùng với sự bí ẩn mà nó phải được bao bọc xung quanh. Một người mẹ từng phải hổ thẹn vì con, giống như Josepha ngày trước — tựa như thể đứa con trai đã chết của nàng nay được sống lại. Hơn thế nữa, nàng lại đóng vai là mẹ của nó.

Đứa trẻ ra đời trong khoảng thời gian nữ bá tước đang đi du lịch ở phương Đông, và việc dàn xếp với nhà chức trách là một chuyện vô cùng dễ dàng. Khi ở Jerusalem, nữ bá tước đã lấy tên là Josepha Freyer — còn Josepha lấy tên là Nữ bá tước Wildenau, và đứa trẻ được rửa tội dưới cái tên Freyer. Nó được ghi tên vào sổ hộ tịch như một đứa con ngoài giá thú, và Josepha gánh lấy nỗi nhục nhã ấy để trở về Đức với tư cách là mẹ của đứa bé.

Điều gì còn thiếu để hoàn thiện ảo tưởng của Josepha rằng đứa trẻ chính là con mình, và rằng nàng có quyền yêu thương nó như một người mẹ? Chẳng có gì cả, ngoại trừ sự hồi đáp tình cảm từ phía đứa trẻ. Và đó lại là nguồn cơn của một nỗi đau cay đắng. Nàng có thể cho đi và làm bất cứ điều gì, dâng hiến cả ngày lẫn đêm cho nó, hy sinh cả sức khỏe vốn đã suy kiệt của mình — nhưng tất cả đều vô ích. Khi sau nhiều tuần, nhiều tháng vắng bóng, "quý bà xinh đẹp" mà nó vẫn gọi xuất hiện, đôi mắt u sầu của thằng bé bỗng bừng sáng và nó như tràn trề một sức sống mới, dang rộng đôi tay nhỏ bé về phía nàng với ánh nhìn như muốn nói: "Nếu người không đến sớm, con đã chết mất rồi!" Josepha lập tức trở thành kẻ vô hình đối với nó, và ngay cả người cha mà nó vẫn thường trìu mến yêu thương như cha đỡ đầu — "Goth", theo cách gọi của người dân địa phương nơi ấy — cũng bị lãng quên. Điều này khiến Josepha tức giận đến mức không thể chịu đựng nổi. Nàng gánh vác mọi bổn phận của người mẹ với tất cả sự mệt nhọc, trái tim nàng gìn giữ tình yêu của mẹ với mọi đớn đau và lo lắng, thế nhưng khi người đàn bà kia xuất hiện — kẻ chẳng hề xứng đáng, chẳng làm gì cả, chẳng có lấy trái tim hay quyền hạn của một người mẹ — ả ta lại mang đứa trẻ đi, để lại cho Josepha toàn nỗi nhọc nhằn và sự hổ thẹn! Người kia vội vã, hời hợt và vô tư tận hưởng những niềm vui mà lẽ ra chỉ có sự hy sinh của Josepha mới đáng được đền đáp: những nụ cười ngọt ng nghiêng, những cái ôm âu yếm và dáng vẻ nũng nịu của đứa trẻ — thứ mà nàng sẵn sàng đánh đổi bằng cả sinh mạng. Nàng nghiến chặt hàm răng trắng nhọn, và một thứ ghen tị ngầm, suýt chút nữa đã hóa thành lòng thù hận, bám rễ sâu trong tâm trí đang cay đắng của nàng. Nàng có thể nể trọng điều gì ở người đàn bà này cơ chứ? Vì lẽ gì mà nàng phải biết ơn ả? Ả ta đối xử tử tế với nàng — chỉ vì ả cần sự phục vụ của nàng — chứ nào có bận tâm gì đến bản thân Josepha! "Giá mà ả cho ta ít đi, nhưng làm tròn bổn phận với chồng con — thì ta còn thấy dễ chịu hơn," nàng thầm thì thầm trong lòng. "Có được đứa con như thế mà không làm mẹ của nó, không đem lại cho nó ánh dương, sự ấm áp của tình mẫu tử mà nó hằng khao khát — rồi lại đến cướp đi từ tay người khác thứ mà bản thân ả chẳng mỉm cười đánh đổi lấy gì."

Có được một người chồng như thế, phúc lộc lớn nhất mà Josepha từng biết trên cõi đời này — một người đàn ông mà cả thế giới phải ngả mũ tôn kính như thể trước đấng tối cao, một người vô cùng thành kính, tốt bụng, khiêm nhường và chung thủy — thế mà lại bỏ rơi anh ta, giấu kín anh ta trong một lâu đài cổ mục nát để không ai nhận ra nỗi nhục nhã của một quý bà cao quý đã dám kết hôn với một thợ chạm gỗ nghèo khổ! Rồi sau đó lại đến cướp lấy những nụ hôn trên đôi môi ấy hệt như loài chim ăn trộm quả mọng, những lúc không ai nhìn thấy, thế mà anh ta lại thấy như vậy là đủ tốt rồi! Và anh ta chấp nhận điều đó — người đàn ông kiêu hãnh, nghiêm nghị mà cả cộng đồng vừa kính sợ vừa nể trọng. Thật đủ sức khiến người ta phát điên.

Và nàng, Josepha, buộc phải nuốt ngược cơn thịnh nộ vào trong năm này qua năm khác — chẳng dám thốt lên lời nào — bởi khốn khổ cho nàng nếu dám phàn nàn về nữ bá tước! Anh ta sẽ không cho phép bất cứ ai tấn công nàng — dẫu cho tình cảnh này đang bóp nghẹt lấy anh. Nàng buộc phải chứng kiến anh đau khổ vì người đàn bà đó, nhìn anh ngày một hốc hác và kiệt quệ, bởi ả sinh vật độc ác ấy đã bỏ bùa mê cho tất cả mọi người, quấn lấy chồng và con trai cho đến khi họ chết mòn vì yêu ả, trong khi bản thân ả vẫn tiếp tục những trò tán tỉnh trơ trẽn với những kẻ khác.

Đó là những lời buộc tội khủng khiếp đang sục sôi trong tâm hồn đầy đam mê của Josepha chống lại nữ bá tước, những lời cáo buộc làm xóa nhòa ký ức về tất cả những gì nàng từng mang ơn vị ân nhân trước đây của mình.

"Ta rất muốn biết không có ta thì ả sẽ ra sao," đó là điệp khúc thường trực trong lòng mối hận thù vô ơn của nàng. "Ả có thể đối xử tử tế với ta đấy — nhưng nếu ta muốn, những trò mèo quỷ quái của ả sẽ chấm dứt ngay lập tức. Ả xứng đáng bị như vậy — và ta cần gì số tiền công kia chứ? Ta tự lo cho bản thân được, ta chẳng cần mấy đồng tiền bất nghĩa ấy. Nhưng... khi ấy ta sẽ phải rời xa đứa trẻ — và nó sẽ chẳng còn ai bên cạnh. Không, không, Josepha, hãy cố gắng trụ lại lâu nhất có thể — và hãy giữ im lặng vì lợi ích của đứa trẻ."

Đó là những cuộc xung đột đang cuồn cuộn trong lồng ngực của người cư ngụ thầm lặng tại lâu đài săn bắn, đó là những vực thẳm đang ngoác miệng dưới chân người đàn bà vô tình.

Đó chính là sự báo thù của đạo đức bình dân bị xúc phạm, thứ mà nàng từng ngỡ rằng bản thân đứng cao hơn rất nhiều. Xung lực không đáng kể này trong tiến trình phát triển của nhân loại, không đáng kể bởi vì nó là đặc trưng riêng biệt của những con người bình dân khiêm nhường, sẽ luôn chiến thắng trong cuộc chiến chống lại sự giải phóng của cái gọi là những bản chất "được tổ chức cao hơn", bởi vì định mệnh của những cá nhân vĩ đại luôn là phải gục ngã trong cuộc chiến chống lại những người phàm trần bình thường. Ở đây tồn tại một quy luật vĩ đại, vĩnh cửu của vũ trụ, từ thuở sơ khai đã tập hợp các thành phần khiêm nhường, nhỏ bé của mình lại, và bén rễ sâu trong cái gọi là "đạo đức bình dân" — chính là đạo đức Cơ đốc giáo. Do đó, phần thắng sẽ thuộc về phe trước và họ sẽ luôn khẳng định quyền lợi của mình, ngay cả khi đội quân Tiểu tư sản nhỏ bé tập합 quanh lá cờ của nó đánh bại một đối thủ cao quý hơn nhiều so với chính mình, một đối thủ mà ngay cả các vị thần cũng phải tiếc thương! Khốn thay cho cá nhân tài năng xuất chúng nào dám dung hợp với các thành phần tiểu tư sản — trao cho chúng quyền lực chi phối mình và tin rằng bản thân vẫn có thể đi theo con đường riêng — trong bất kỳ trường hợp nào, họ sẽ tìm thấy sự khoan dung trước mặt Chúa còn sớm hơn là trước tòa án của thứ tôn giáo câu nệ chữ nghĩa này, cùng những ngọn giáo và mũi tên của đội dân binh ấy.

Một cảm giác tựa như vết giáo đâm ấy đã xuyên thấu nữ bá tước từ ánh mắt của Josepha, khi nàng cúi xuống nhìn đứa trẻ đang tỉnh giấc.

Josepha toan bế lấy thằng bé, nhưng nó giãy giụa kịch liệt và nhất quyết không chịu sang tay nàng. Với đôi mắt sáng rực, ngập tràn khao khát, nó rúc vào vòng tay của "quý bà xinh đẹp". Nữ bá tước ôm siết thân hình gầy gò ấy vào trái tim mình. Khi làm vậy, nàng nhận ra vẻ mặt nghiêm nghị, đầy oán trách trên đôi môi khô nứt nẻ của Josepha cùng vết đỏ hây hây trên gò má có phần hơi cao của nàng ta. Có điều gì đó trong thái độ của cô gái khiến chủ nhân phật lòng. Giá mà nằm trong quyền hạn của mình, nàng đã sớm tống cổ kẻ "ngày càng trở nên tồi tệ hơn" này đi rồi. Thế nhưng nàng lại bị trói buộc bởi những xiềng xích không thể tháo gỡ, thậm chí còn phải phụ thuộc vào nàng ta — và bắt buộc phải dè chừng nàng ta. Nàng cảm nhận rõ điều đó mỗi khi đặt chân tới đây. Dưới những ấn tượng ấy, mỗi chuyến ghé thăm lâu đài dần biến thành một hình phạt chứ chẳng còn là niềm vui nữa. Chồng nàng thì gắt gỏng và đầy rẫy những lời trách móc, con trai thì ốm đau, còn nữ vú em thì cau có, tối tăm mặt mày. Một đứa con cưng của thế giới vẫn quen được dọn sạch mọi chướng ngại vật trên đường đi, cuối cùng không thể tránh khỏi việc né tránh một nơi mà nàng chẳng thể hít thở lấy một giờ đồng hồ cho trọn vẹn.

"Josepha, cô không đi chuẩn bị bữa sáng cho thằng bé sao?" Nàng cất lời mệt mỏi, những quầng thâm quanh mắt tố cáo đêm dài thức trắng của nàng.

"Nó phải được tắm táp trước đã!" Josepha đáp lại bằng giọng điệu vẫn thường làm tổn thương nữ bá tước — giọng điệu mà những người vú em, những kẻ phải gánh vác việc chăm sóc trẻ nhỏ quá nhiều, thường dùng để dạy dỗ các bà mẹ trẻ rằng: "nếu họ chẳng màng chăm chút cho con cái ở nơi khác, thì họ chẳng có quyền lên tiếng trong phòng trẻ đâu."

Nữ bá tước, với sự tự chủ mang phong thái quý tộc, nén giận để giữ vẻ bình tĩnh. Rồi nàng điềm đạm nói, dẫu giọng nói có phần yếu ớt và khàn khàn: "Trẻ có vẻ yếu, tôi nghĩ tốt hơn là nên cho nó ăn chút gì trước khi tắm."

"Vâng," đứa bé thỏ thẻ, "con khát nước." Những lời ấy khiến nữ bá tước nhớ đến người cha của nó, khi ngài cất tiếng trên cây thập giá: "Ta khát." Khi những ký ức ấy ùa về, toàn bộ nỗi thống khổ của mối tình xưa từng đẹp đẽ — giờ đây đang tàn lụi thê thảm — bủa vây lấy nàng. Nàng bế thốc đứa trẻ — nhẹ hẫng tựa làn hơi, như một ảo ảnh sương mù — từ trên giường đặt lên đùi mình, và quấn đôi chân trần nhỏ bé của nó trong tà áo ban ngày của nàng. Nó áp cái đầu nhỏ bé với mái tóc xoăn đen vào má nàng. Những khoảnh khắc ấy thật ngọt ngào, nhưng lại bị lấn át bởi quá nhiều cay đắng.

"Hãy mang sữa đến đây — sữa tươi!" Madeleine von Wildenau lặp lại bằng giọng điệu hơi bề trên, thứ giọng điệu ra điều không chấp nhận bất kỳ sự phản kháng nào.

"Điều đó hoàn toàn khác với thói quen thường ngày của nó," Josepha nhận xét, hệt như thể mệnh lệnh của nữ bá tước đã làm xáo trộn nghiêm trọng lối sinh hoạt vốn rất cần thiết cho đứa trẻ.

Người mẹ nhận ra điều đó, và một chút hồng hào vì hổ thẹn cùng phẫn nộ thoáng hiện trên khuôn mặt nàng, nhưng rồi vụt biến đi ngay lập tức, tựa như nỗi đau đớn đã thiêu rụi cả dòng máu vừa bị cơn giận khơi sục.

"Mẹ cô — Josepha — có đối xử tốt với con không?" nàng hỏi, khi Josepha đã bước ra khỏi phòng.

Đứa trẻ hờ hững gật đầu.

"Bà ấy có đánh con không, bà ấy có dịu dàng không?"

"Không, bà ấy không đánh con," thằng bé đáp. "Bà ấy thương con."

Nữ bá tước gặng hỏi tiếp: "Con có thương bà ấy không?"

"Cơ... mà... Vâng!" đứa trẻ đáp, nhún vai một cái. Rồi nó ngước nhìn nàng đầy âu yếm. "Con thương u hơn."

"Như thế là không đúng đâu, Josepha là mẹ của con — con phải thương bà ấy nhất chứ."

Đứa trẻ đăm chiêu lắc đầu. "Nhưng con thích u làm má của con cơ."

"Đâu thể như vậy được — thật không may — u không được phép."

Thằng bé nhìn nàng với vẻ mặt đầy thất vọng và buồn bã. =Cuối cùng nó tìm ra một lối thoát. "Nhưng ở Thiên đàng — khi con lên Thiên đàng — u sẽ làm mẹ của con ở trển nhé, chịu không?"

Nữ bá tước rùng mình — một nỗi đau khôn tả xuyên thấu trái tim nàng, song nàng lại cảm thấy hạnh phúc, một nỗi thống khổ đong đầy hạnh phúc! Nước mắt giàn giụa trên mi, nàng ôm chầm lấy đứa trẻ và dịu dàng đặt lên trán nó một nụ hôn.

"Được chứ, con yêu! Trên Thiên đàng — có lẽ u sẽ là mẹ của con!"

Lúc này Josepha mang sữa bước vào và định đút cho thằng bé, nhưng nó nhất quyết không chịu nhận từ tay nàng, nằng nặc đòi nữ bá tước phải là người cầm bát. Nàng làm theo, nhưng đôi bàn tay run rẩy khiến Josepha buộc phải giúp một tay, nếu không thì toàn bộ số sữa đã đổ tung tóe ra ngoài. Nàng quay mặt đi chỗ khác.

"Đến nước cho con uống mà cô ta cũng chẳng làm nổi," Josepha thầm nghĩ trong lúc vừa dọn dẹp quanh phòng.

"Josepha, xin cô để tôi ở lại một mình một lát," nữ bá tước cất lời, gần như là nài nỉ.

"Thế cơ à?" Gò má Josepha đỏ bừng lên, khiến các đường nét xương xẩu trên mặt nàng có vẻ càng thêm nhô cao. "Nếu tôi đứng đây vướng víu Điện hạ — tôi có thể đi ngay lập tức."

"Josepha!" Nữ bá tước thốt lên, bất giác quay phắt người lại đối diện với nàng, khuôn mặt đầm đìa nước mắt. "Chẳng lẽ tôi không được phép dành vỏn vẹn mười lăm phút ở một mình với con tôi mà không làm mếch lòng ai sao! Tôi sẽ bỏ qua lời nói của cô — vì cơn ghen tuông tự nhiên của một người mẹ — và tôi tin là cô đã hối hận rồi phải không?"

"Vâng," Josepha đáp, có phần miễn cưỡng, nhưng bị khuất phục trước lời nói của người đàn bà bất hạnh đến mức nàng ấn một nụ hôn cứng nhắc, ngập ngừng lên bàn tay nữ bá tước bằng đôi môi thô ráp, nứt nẻ. Đoạn, với một cái nhìn đầy thiết tha hướng về đứa đứa trẻ, nàng nhường chỗ lại cho người mẹ mà lẽ ra nàng rất muốn tranh giành quyền làm mẹ ngay cả trước mặt Chúa tể nếu có thể.

Thế nhưng, khi cánh cửa vừa khép lại sau lưng nàng ta, nữ bá tước không thể chịu đựng thêm được nữa. Đặt đứa trẻ xuống chiếc giường nhỏ, nàng gục ngã bên cạnh, nức nở. "Con tôi — con tôi ơi, hãy tha thứ cho mẹ," nàng kêu lên, quên đi mọi sự dè dặt. "— hãy cầu nguyện cùng Chúa cho mẹ."

Đúng lúc ấy, cánh cửa bật mở và Freyer bước vào. Mọi giông bão đang sục sôi trong tim người mẹ phút chốc hiện lên rành mạch trước mắt anh, khi anh chứng kiến cảnh nàng đang suy sụp bên giường của đứa trẻ.

"Bình tĩnh lại đi em — đứa trẻ sẽ nghĩ gì cơ chứ!" anh vừa nói, vừa cúi người nâng nàng dậy.

"Đừng khóc nữa, Mẹ ơi!" thằng bé cất lời, đưa tay vuốt ve mái tóc mềm mại trên đỉnh đầu đang trĩu nặng vì đau khổ của nàng. Nó chẳng hiểu tại sao lúc này mình lại đột ngột gọi nàng là "mẹ" — có lẽ đó là viễn cảnh về cõi thiên đàng nơi nàng sẽ trở thành mẹ của nó, và nó thốt lên trước một bước.

"Ôi Freyer, hãy giết em đi — em chẳng còn xứng đáng với điều gì hơn thế nữa — hãy chấm dứt cuộc chiến của một cuộc đời hoài phí này đi! Một con vật không thể hồi phục còn được người ta kết liễu vì lòng trắc ẩn, hà cớ gì lại không làm thế với một con người, kẻ đang phải gạn đục khơi trong nỗi đau đớn nhân đôi?"

"Magdalena — Nữ bá tước — anh không nhận ra em trong tâm trạng này chút nào cả."

"Chính em cũng chẳng nhận ra nổi mình nữa! Em là gì chứ? Một người mẹ không phải mẹ — một người vợ không thể tuyên bố mình là vợ thì là cái gì? Hệt như một con cá chẳng biết bơi, một con chim chẳng thể bay! Chúng ta kết liễu những sinh vật tật nguyền khốn khổ đó chỉ vì lòng thương hại thuần túy. Tồn tại thế này thì còn gì là sự tồn tại? Một kẻ ích kỷ nhưng vẫn khắc khoải nỗi đau của những kẻ bị nàng ta làm cho bất hạnh; một nữ quý tộc chẳng thể sống nổi ngoài vòng vi Vi của địa vị mình mà lại cứ khát khao sự thật vĩnh hằng của bản chất con người; một ả đanh đá đùa giỡn với những trái tim nhưng sẵn sàng chết vì một thứ tình cảm chân thật — đó chính là chân dung tính cách của em đấy! Còn gì mâu thuẫn hơn, còn gì khốn khổ hơn thế nữa?"

"Chúng ta ra ngoài đi, thưa Nữ bá tước, những lời nói thế này không thích hợp để đứa trẻ nghe thấy đâu."

"Ồ, nó có hiểu gì đâu chứ."

“Nó hiểu nhiều hơn em tưởng đấy, em chẳng hề biết nó hay đặt ra những câu hỏi gì đâu — à mà em đã tự tước đi của mình những niềm vui cao cả nhất khi không thể dõi theo quá trình phát triển kỳ diệu của đứa trẻ này.”

Nàng lặng lẽ gật đầu, tâm trí hoàn toàn dán chặt vào đứa con.

"Nào Nữ bá tước, mặt trời đã lên rồi — không khí buổi sáng se lạnh sẽ tốt cho em thôi, anh sẽ giông chuông gọi Josepha vào bế con," anh điềm đạm nói, đồng thời với tay bấm chuông.

Thằng bé ngồim bật dậy trên giường, hơi thở gấp gáp và đầy lo âu, đôi mắt to tròn khẩn khoản dán chặt vào nữ bá tước: "Ôi má — má thân yêu trên Thiên đàng — ở lại với con đi — đừng đi đâu cả."

"À, giá mà u có thể — con yêu ơi — u mới vui lòng biết bao khi được ở lại đây mãi mãi. Nhưng u sẽ quay lại ngay thôi, u chỉ ra ngoài tắm nắng nửa tiếng đồng hồ rồi về liền."

“Ôi, con cũng muốn ra ngoài nắng nữa. Con đi cùng u, chạy nhảy một chút có được không?”

"Hôm nay thì không được, phải đợi đến khi con hết ho đã chứ, con trai tội nghiệp của u! Nhưng u hứa sẽ không nói chuyện và không nghĩ đến bất cứ điều gì ngoài con cho đến khi u quay lại nhé! Trong lúc đó Josepha sẽ tắm rửa và mặc quần áo cho con, u không rành việc ấy đâu — để Josepha làm sẽ tốt hơn."

"Ồ! Vâng, ít ra tôi cũng đủ giỏi để làm việc đó!" cô ta thầm nghĩ, vừa lúc bước vào và nghe được trọn vẹn câu nói cuối cùng.

"Má xinh đẹp của con vừa mới khóc, bởi vì u là con chim chẳng thể bay..." đứa bé ngây thơ nói với Josepha vẻ đồng cảm xót xa. "Nhưng cô cũng chẳng bay được — và con cũng thế, cho đến khi chúng ta hóa thành thiên thần — lúc ấy thì tha hồ bay nhé!" Nó dang rộng hai cánh tay nhỏ xíu hệt như đôi cánh chim, làm ra vẻ thèm thuồng được vút bay lên cao và bay đi thật xa, nhưng một cơn ho dồn dập khiến nó khụy người ngả rạp trở lại gối.

Hai vợ chồng nhìn nhau với cùng một nỗi lo âu trĩu nặng.

Nữ bá tước cúi người sát chiếc giường nhỏ hệt như muốn dùng những nụ hôn để dập tắt cơn ho đang xé toạc lồng ngực non nớt ấy.

"Mẹ ơi, con không đau đâu — mẹ đừng khóc nữa," thằng bé an ủi. "Trong ngực con có một con nhện đang nhột lắm — nên con mới phải ho. Nhưng nó sẽ giăng một cái lưới thật to bằng những sợi tơ bạc giống như trên cây thông Noel ấy, cái lưới vươn dài tận lên Thiên đàng luôn, và lúc đó con sẽ trèo lên trển!"

Nữ bá tước suýt không kìm nén được xúc động. Freyer luồn tay nàng qua cánh tay mình và dìu nàng bước ra khoảng không gian đẫm sương sớm.

"Em quá ư lo lắng về bí mật của chúng ta, thế mà nếu anh không đủ tỉnh táo để giúp em che giấu nó, thì em đã tự bộc lộ bản thân từng giây từng phút rồi đấy. Em quá bất cẩn đối với đứa trẻ, anh không vì lợi ích của riêng mình mà là vì em nên mới cảnh báo em đấy. Đừng để tình mẫu tử vừa thức tỉnh trong em phá hỏng sự tự chủ trước mặt đứa bé. Đừng để nó gọi em là 'Mẹ'. Người mẹ tội nghiệp — anh thực sự hiểu điều đó xát muối vào tim em thế nào — nhưng... phải dứt khoát một trong hai. Nếu em không thể — hoặc không muốn làm mẹ của đứa trẻ — em phải từ bỏ cái tên ấy đi."

Nàng cúi gằm mặt xuống. "Anh lúc nào cũng nhẫn tâm tàn nhẫn như thế, dẫu rằng anh nói đúng! Làm sao em có thể giữ nổi bình tĩnh khi nghe đứa trẻ thốt ra những lời như vậy cơ chứ? Thằng bé quả là một đứa trẻ phi thường! Mỗi lần đến đây, em lại ngỡ ngàng trước sự phát triển trí tuệ của nó! Chỉ cầu mong đó là sự phát triển tự nhiên, chứ không phải điềm báo của một cái chết yểu!"

Freyer xót xa trước nỗi lo sợ của nàng,

"Chẳng qua vì đứa trẻ lớn lên trong cảnh cô độc, chỉ tiếp xúc với hai con người đầy ưu tư là Josepha và anh; việc tâm hồn non nớt của nó phát triển theo chiều hướng trầm tư và sâu sắc hơn những đứa trẻ khác là điều hoàn toàn dễ hiểu," anh an ủi.

Họ đã bước ra một ban phòng mục nát, xung quanh phủ đầy dây leo và bụi rậm. Đó là một buổi sáng đẹp trời, nhưng những khu rừng bạt ngàn xung quanh và lớp lá mục mùa thu đều đã phủ một lớp sương giá trắng xóa. Freyer khoác chiếc áo choàng mà anh mang theo lên người người phụ nữ đang run lên vì lạnh. Dưới hơi thở buốt giá của buổi sáng mùa thu rực rỡ và những lời động viên xoa dịu từ người chồng, nàng dần bình tâm trở lại và lấy lại vẻ điềm tĩnh.

"Nhưng dẫu sao cũng phải làm gì đó với đứa trẻ thôi," nàng nghiêm túc nói. "Mọi chuyện không thể cứ tiếp diễn thế này mãi được, trông nó có vẻ mong manh phiêu diểu quá... Em sẽ gửi nó sang Ý cùng Josepha."

Freyer khó khăn lắm mới kìm nén được nỗi hoảng hốt, thốt lên: "Chúa tôi, thế thì anh sẽ hoàn toàn cô độc một mình sao!"

"Nhưng bắt buộc phải thế," nữ bá tước đáp giọng quả quyết.

"Làm sao anh chịu đựng nổi đây? Đứa trẻ là tất cả đối với anh, là thiên thần hộ mệnh — là ánh sáng giữa chốn tối tăm! Đã bao lần những ngón tay nhỏ xíu ấy xoa dịu trán anh khi ngọn lửa cuồng loạn vây quanh. Đã bao lần đôi mắt, khuôn mặt của nó lại khắc họa rõ nét hình bóng em khi mà sau những tháng ngày dài xa cách, nó đã trở nên mờ nhạt và biến dạng. Ngắm nhìn đứa trẻ, đứa trẻ đáng yêu tuyệt vời ấy, anh cảm thấy chẳng có thứ gì có thể cắt đứt sợi dây thiêng liêng này. Người mẹ của đứa trẻ này không thể ruồng bỏ chồng mình — vì đứa trẻ này, em buộc phải yêu anh! Anh tự nhủ với lòng như thế, và học cách tin tưởng, hy vọng thêm một lần nữa. Thế mà giờ đây anh lại phải chia tay nó. Ôi lạy Chúa! — Phán quyết của Ngài thật nghiêm khắc. Ngài từng phái một thiên thần đến an ủi Con trai chí tôn của Ngài trên Vườn Ghết-sê-ma — thế mà Ngài lại nỡ cướp nó khỏi tay anh! Dẫu vậy, xin đừng theo ý anh, mà hãy theo ý Ngài!"

Anh buồn rầu cúi đầu: "Nếu đã bắt buộc phải thế, hãy đưa nó đi."

"Thằng bé đang ốm, em đã giam hãm nó trong những căn phòng ẩm thấp này quá lâu rồi, nó cần ánh nắng và bầu không khí ôn hòa hơn. Nếu nó phải trải qua thêm một mùa đông nữa ở cái xứ lạnh buốt này, đó sẽ là bản án tử hình cho nó. Nhưng nếu anh quá đau lòng khi phải xa thằng bé — hãy cùng đi với nó đi. Em sẽ thuê cho anh và Josepha một biệt thự ở đâu đó ven bờ Riviera. Chuyến đi cũng sẽ tốt cho anh, để rời khỏi xó xỉnh ẩn mình trong rừng sâu này — và em không thể che chở cho anh ở xứ Bavaria này, nơi mà ai nấy đều biết mặt anh, mà không làm bại lộ mối quan hệ của chúng ta."

Freyer nhìn nàng với một nụ cười đượm buồn: "Và em nghĩ rằng — anh sẽ đi ư?" Anh lắc đầu. "Không, anh không thể làm cho mọi chuyện trở nên dễ dàng cho em thế được. Chúng ta vẫn là vợ chồng, anh vẫn là của em, cũng như em thuộc về anh. Và dẫu em rất hiếm khi đến gặp anh — nếu trong suốt mùa đông dài đằng đẵng ấy chỉ có vỏn vẹn một giờ đồng hồ em cần đến một bờ vai, em nhất định phải tìm thấy bờ vai của chồng mình, anh phải ở đây!" Anh dịu dàng kéo nàng vào ngực. "Không, vợ của anh ạ, giá mà anh được giữ đứa trẻ lại thì đó sẽ là một sự ủi an lớn — nhưng nếu em buộc phải cướp nó khỏi tay anh, anh cũng sẽ cam chịu điều đó, giống như mọi thứ xuất phát từ bàn tay em, dẫu là sự sống hay cái chết — chẳng gì có thể chia cắt anh khỏi em, ngay cả tình yêu dành cho đứa con trai."

Có một điều gì đó không thể tả xiết trong ánh nhìn mà anh dành cho nàng khi thốt lên những lời giản dị ấy, và nàng ôm chầm lấy anh, bị ngợp đi trước lòng chung thủy vô song ấy — thứ tình cảm sẵn sàng hy sinh phước lành duy nhất và cuối cùng mà anh sở hữu chỉ để đổi lấy vỏn vẹn một giờ ngắn ngủi ở bên nàng.

“Chồng của em — người chồng nhân hậu và cao quý của em! Trái tim hào phóng nhất trên cõi đời này!” nàng kêu lên, hết lần này đến lần khác âu yếm anh trong khi say sưa ngắm nhìn khuôn mặt tuấn tú, tràn đầy uy nghi ấy: "Anh sẽ không phải hy sinh vì một giờ ngắn ngủi đâu, vợ của anh sẽ đến và đền đáp lòng trung thành của anh bằng thứ tình yêu lớn gấp ngàn lần. Thường xuyên hơn... Thường xuyên hơn trước kia nữa! Bởi vì em cảm thấy tình hình hiện tại không thể kéo dài mãi được. Em phải được phép làm vợ và làm mẹ — hôm nay bên giường bệnh của con, em đã nhận ra tội lỗi của mình cũng đang lớn dần lên theo năm tháng. Đã đến lúc em phải chuộc lỗi. Khi trở về nhà, em sẽ suy nghĩ thật thấu đáo xem phải làm thế nào để đạt được thỏa thuận với gia tộc mình! Em chẳng cần phải thú nhận rằng mình đã kết hôn rồi — em có thể nói rằng mình sẽ chịu kết hôn nếu họ chịu cấp cho em một khoản tiền kha khá, nhưng em sẽ không làm thế nếu họ từ chối cung cấp cho em phương tiện để sống xứng đáng với địa vị của mình. Khi ấy, có lẽ họ sẽ thà chịu hy sinh một khoản tiền đủ để em lấy chồng — qua đó nhường lại toàn bộ gia sản — còn hơn là ép em, thông qua thói keo kiệt của họ, phải chịu cảnh góa bụa và nắm giữ toàn bộ gia tài. Đó sẽ là một ý tưởng tuyệt vời! Em thấy chưa, tình yêu giàu tính sáng tạo biết bao nhiêu?" nàng cất lời với vẻ quyến rũ đáng yêu, chờ đợi một cái gật đầu vui sướng từ anh.

Thế nhưng anh quay mặt đi với vầng trán u ám — tựa như một cơn gió lạnh buốt vừa quét qua toàn bộ khung cảnh đầy nắng, biến mọi thứ thành một gam màu mùa đông lạnh giá.

“Dối trá và lừa lọc ở khắp mọi nơi — ngay cả trong những điều thiêng liêng nhất. Khi nghe em nói năng thế này, trái tim anh như thắt lại! Một người phụ nữ cao quý như em mà lại hạ mình xuống làm chuyện gian dối và lọc lừa, chẳng khác nào những kẻ đê tiện nhất!”

Nữ bá tước đứng bất động, đôi mi rũ xuống, cả sự hổ thẹn và lòng kiêu hãnh đều hiện rõ trên vầng trán nàng. Trái tim nàng cũng thắt lại, và một cái lạnh buốt giá bao bọc lấy nó.

"Thế anh có đề xuất nào hay ho hơn chắc?"

"Không!" Freyer trầm giọng đáp, "bởi vì đề xuất duy nhất anh có thể nghĩ ra thì em sẽ chẳng đời nào chấp nhận đâu. Đó là hãy chuộc lại lỗi lầm mà em đã gây ra, thành thật thú nhận mọi chuyện đã diễn ra thế nào, rồi cùng chồng con lui về chốn hoang sơ sống một cuộc đời bình dị nhưng đạm bạc và lương thiện. Thế gian sẽ cười chê em, đúng vậy đấy, nhưng những người có trái tim cao cả sẽ tôn kính em. Anh không thể tưởng tượng nổi có thứ hạnh phúc đạo đức nào lại có thể mua được bằng sự dối trá và lọc lừa — chỉ có duy nhất một con đường dẫn đến Chúa — đó là con đường của sự thật — mọi con đường khác đều là ảo tưởng!"

Người phụ nữ tuyệt đẹp ngước nhìn anh với sự ngưỡng mộ không kìm nén được. Đó chính là sự uy nghi nội tại từng khiến người đàn ông hèn mọn ngày trước khiến nàng phải kính sợ đến thế; và dù bị anh làm cho hổ thẹn và tổn thương sâu sắc đến đâu, nàng vẫn phải cúi đầu trước sự vĩ đại ấy. Thế nhưng nàng không thể chịu đựng nổi ánh mắt của anh thêm nữa, nàng cảm thấy mình thật hèn kém trước mặt anh, niềm vui sướng khi ở bên anh đã hoàn toàn tiêu tan. Nàng đứng trước người đàn ông mà nàng từng đinh ninh là thấp kém hơn mình rất nhiều, hệt như một tên tội phạm tầm thường, bị kết án vì một lời nói dối vụn vặt nhất, một sự phản bội đê tiện nhất. Nàng thực sự ghê tởm chính mình. Đâu là thứ có thể xóa sạch vết nhơ này? Đâu là lòng kiêu hãnh có thể vực nàng dậy khỏi nỗi nhục nhã này? Bằng ý thức về giai cấp của mình ư? Khốn khổ cho nàng, những kẻ đồng đẳng với nàng sẽ nói gì nếu họ biết rõ gia cảnh của nàng? Chẳng lẽ nàng sẽ bị ruồng bỏ khỏi mọi tầng lớp xã hội sao? Còn thứ gì có thể khôi phục lại danh dự cho nàng nữa đây? Nàng chẳng biết đến thứ phẩm giá hay danh dự nào khác ngoài những thứ mà thế gian ban phát, và để bảo vệ chúng, bằng bất cứ giá nào và bằng mọi thủ đoạn — nàng càng chìm sâu hơn nữa trong mắt chính mình và trong mắt người đàn ông nghèo khó nhưng lương thiện — kẻ có nhiều lý do để hổ thẹn vì nàng hơn là nàng phải hổ thẹn vì anh.

Nàng phải trở về nhà, nàng phải tận mắt nhìn thấy cung điện của mình, những gia nhân của mình, thế giới của mình, để tự nhủ rằng mình vẫn là chính mình, rằng mặt đất dưới chân vẫn vững chãi, bởi vì mọi thứ xung quanh và bên trong nàng đều đang chao đảo.

"Xin hãy cho người đánh xe ra đi!" nàng cất lời, quay mặt về phía cánh cửa đổ nát một nửa mà từ đó họ đã bước ra khỏi ngôi nhà.

Trời quả nhiên đã trở nên ảm đạm và lạnh lẽo. Một lớp sương mù mùa thu tái ngắt đang bao trùm lấy khu rừng. Trông có vẻ như trời sắp mưa hoặc sắp tuyết.

"Tôi dùng xe mui trần — tôi muốn về nhà trước khi trời mưa," nàng nói lời thanh minh, chẳng buồn nhìn anh lấy một cái.

Freyer lịch sự đẩy cánh cửa sắt cổ kính và nặng nề mở ra. Họ lặng lẽ bước đi dọc theo một hành lang tối tăm, lạnh lẽo và chật hẹp để đến cánh cửa phòng của đứa trẻ.

"Anh đi cho người đánh xe ra đây," Freyer nói, và nữ bá tước bước vào trong phòng.

Nàng từ biệt đứa trẻ một cách lơ đễnh. Nàng chẳng hề nhận ra nó đã run rẩy thế nào khi nghe tin nàng sắp về nhà, nàng cũng chẳng nghe thấy tiếng nó nài nỉ: "Mang con đi cùng với!" Nàng an ủi nó như mọi khi bằng lời hứa hẹn rằng mình sẽ sớm quay lại, rồi ra hiệu gọi Josepha ra ngoài phòng. Thằng bé ngước nhìn theo bóng nàng với ánh mắt hệt như của một con hoẵng đang hấp hối, và vài giọt nước mắt lớn lăn dài trên đôi má nhợt nhạt. Người mẹ nhìn thấy cảnh đó, nhưng nàng không thể nán lại, quãng thời gian nàng ở đây cho ngày hôm nay đã chấm dứt. Bên ngoài, nàng thông báo cho Josepha về kế hoạch đưa cô ta và đứa trẻ sang Ý, nhưng người vú em chỉ lắc đầu nguây nguẩy.

"Đứa trẻ chẳng cần gì ngoài mẹ của nó cả," nàng ta nhẫn tâm nói, "nó chỉ khao khát có mình chị thôi, và nếu chị còn đày nó đi xa hơn nữa, nó sẽ chết mất."

Nữ bá tước đứng sững như một kẻ đang đợi bản án tử hình.

"Khi chị ở bên cạnh, nó như hồi sinh, còn khi chị vừa đi rồi, nó lại héo rũ hệt như một bông hoa thiếu ánh mặt trời!"

"Trời đất ơi!" nữ bá tước rên rỉ, hai tay ôm chầm lấy trán: "Biết phải làm sao bây giờ!"

"Nếu chị có thể mang theo đứa trẻ, đó sẽ là phương thuốc chữa bệnh tốt nhất. Đứa trẻ cần tình yêu của mẹ; điều đó còn mang lại nhiều lợi ích cho nó hơn là tất cả những chuyến du lịch trên thế giới này. Chị chẳng thể tưởng tượng nổi nó quấn quýt lấy mẹ nó đến mức nào đâu. Trông nó thực sự hệt như bị chị bỏ bùa mê vậy. Suốt cả ngày dài nó tự bào mòn sức lực trong sự ngóng chờ và dõi theo tiếng bánh xe ngựa lăn, và khi màn đêm buông xuống, đến giờ phút mà chị thường lái xe tới, đôi bàn tay nhỏ bé của nó lại nóng rực vì sốt ruột chờ mong. Và rồi nó nhìn thấy bố nó khao khát chị thế nào. Một đứa trẻ như nó để ý hết thảy mọi thứ, và khi bố nó buồn bã, nó cũng sầu muộn theo. 'Hôm nay u không đến!' nó vừa nói cách đây không lâu, vừa đưa tay vuốt ve má bố; nó thừa hiểu chuyện gì đang làm bố phiền lòng. Một cơ thể nhỏ bé mong manh như nó chẳng mấy chốc sẽ kiệt quệ vì những tháng ngày mòn mỏi ngóng chờ. Đến cả loài hoẵng con, loài nai non còn cất tiếng kêu gào gọi mẹ. Ở trong khu rừng này, tôi vẫn thường nghe những chú nai con vừa bị bắn mất mẹ cả đêm cất tiếng rên rỉ, khóc lóc, chẳng lẽ một đứa trẻ có nhận thức và biết yêu thương lại không khao khát mẹ của nó sao? Chị cứ ngồi ì trong những căn phòng lộng lẫy ở nhà và chẳng mảy may nghe thấy trên căn nhà ảm đạm này, cùng với hai con người sầu muộn chúng tôi, đứa trẻ tội nghiệp đang mỏi mòn cất tiếng gọi người mẹ — người vốn là tất cả của nó."

"Josepha, cô định bức hại tôi đến chết sao!"

Nữ bá tước bấu chặt lấy khung cửa để đứng vững, đầu óc nàng quay cuồng thực sự.

"Không, tôi không bức hại chị đâu, thưa Nữ bá tước, tôi chỉ muốn ngăn chặn việc chị đang giết chết đứa trẻ thôi," Josepha nói với đôi mắt đỏ rực lửa. "Chị có nghĩ rằng, nếu tôi có thể thay thế vị trí của một người mẹ đối với đứa trẻ, tôi lại đi nài xin chị thứ vốn là quyền lợi của bất kỳ đứa trẻ nào, thứ mà bất kỳ người mẹ nào có trái tim trong lồng ngực cũng sẽ tự nguyện dâng hiến cơ chứ? Chắc chắn là không đời nào. Tôi sẽ cướp lấy trái tim của đứa trẻ — thứ mà chị đang bỏ đói — trước khi bố thí cho chị một lời tử tế, và chị sẽ phải khóc lóc van xin tình yêu của con trai mình trong vô vọng, hệt như tôi bây giờ đang phải cầu xin mẹ của nó vì nó vậy. Nhưng thằng bé tội nghiệp hiểu rất rõ ai mới là mẹ của nó, và cho dù tôi có làm gì đi nữa — nó cũng nhất quyết không chấp nhận tôi! Đó là lý do tại sao tôi phải nói cho chị biết rõ sự tình là như thế. Chị muốn làm gì với tôi tùy ý — tôi chẳng còn sợ bất cứ điều gì nữa — nếu đứa trẻ không thể cứu được thì tôi cũng chẳng còn thiết sống trên cõi đời này làm gì nữa! Chị thừa biết tính tôi — và biết rằng tôi chẳng màng gì đến sinh mạng này đâu. Chị chẳng làm cho nó trở nên đáng giá hơn so với hồi chúng ta mới gặp nhau là bao."

Đúng lúc ấy, cánh cửa bật mở và một bóng hình nhỏ bé màu trắng xuất hiện. Thằng bé đã nghe thấy giọng điệu đầy phẫn nộ của Josepha nên chạy ra bênh vực mẹ: "Mẹ ơi, má thân yêu trên Thiên đàng của con, bà ấy đang làm gì mẹ thế? Bà ấy không được phép bắt nạt mẹ đâu nhé. U Josepha ác độc, đó là lý do tại sao con không thích u chút nào cả, u toàn la mắng quý bà xinh đẹp và tốt bụng thôi."

Nó vòng đôi tay nhỏ xíu ôm chặt lấy cổ mẹ, hệt như muốn che chở cho nàng.

"Ôi, thiên thần của mẹ!" nữ bá tước nức nở kêu lên, bốc bồng nó lên tay để ép chặt vào lồng ngực.

Tiếng bánh xe ngựa lạo xạo vang lên phía bên ngoài — bốn con ngựa của nữ bá tước đã đến nơi. Bắt những con chiến mã đang sung sức ấy phải chờ đợi là điều bất khả thi. Freyer vội vàng báo tin xe đã đến, lũ ngựa hôm nay rất bất kham. Nữ bá tước giao đứa trẻ lại cho Josepha chăm sóc. Freyer lặng lẽ dìu nàng lên xe, mọi thứ diễn ra nhanh như chớp nhoáng bởi những con ngựa đã bắt đầu chuyển bánh — một cái nhìn đầy u ám được trao đổi giữa vợ và chồng — lời chào biệt của những người xa lạ — và chiếc xe mui trần lao vun vút vào màn sương mùa thu mịt mùng. Người mẹ cứ ngỡ như mình nghe thấy tiếng đứa con trai đang khóc thét lúc xe lăn bánh rời đi, và có cảm giác như thể Josepha vừa tuyên án kết tội nàng là kẻ sát nhân hại chết đứa con mình. Thế nhưng nàng sẽ chuộc lại lỗi lầm đó — vào một ngày nào đó — sớm thôi! Có tiếng gọi thầm vang lên từ tận đáy lòng: "Con tôi, con tôi ơi!" Một lớp mồ hôi lạnh toát đọng thành từng giọt trên vầng trán nàng; đó là mồ hôi của sự lo âu, hay chỉ là sương sớm? Nàng chẳng thể phân biệt nổi, tâm trí nàng không còn cách nào suy nghĩ thêm được nữa, nàng đang gục ngã dưới sức nặng của mọi nỗi muộn phiền bủa vây suốt cả ngày hôm nay. Nàng nhắm nghiền đôi mắt lại và ngả người ra phía sau xe hệt như sắp ngất lịm, trong khi cỗ xe lao đi vun vút mang theo gánh nặng nhẹ tênh hướng về đích đến.

Thời gian trôi vèo qua. Cỗ xe dừng bánh trước cổng cung điện Wildenau, nhưng nàng hầu như chẳng còn chút ý thức nào về điều đó. Đủ mọi loại kế hoạch và quyết tâm đang cuồn cuộn quay cuồng trong đại não nàng. Người ta đỡ nàng xuống xe và dìu bước lên những bậc thềm đá cẩm thạch được trải thảm đỏ. Có hai bức thư đang nằm trên chiếc bàn trong phòng riêng của nàng. Hoàng tử đã ghé qua và để lại một lá thư, bên trong chỉ ghi vỏn vẹn vài dòng: "Chắc hẳn ngài sẽ nhận ra rằng vào thời điểm hiện tại, ngài không dám từ chối vị trí này đâu.

"Người bạn có thiện ý nhất."

Bức thư còn lại, nằm trong một phong bì cỡ lớn, là một văn kiện chính thức. Nữ bá tước Wildenau vừa chính thức được bổ nhiệm giữ chức Chánh nghi lễ cung đình!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.