Tâm Linh Thể Thao

Lượt đọc: 224 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhìn Từ Xa Đều Là Phong Cảnh

❊ ❊ ❊

1

Một sinh viên đại học đến tìm tôi, nói là muốn thảo luận về vấn đề "Nhị thập tứ hiếu", điều này khiến tôi giật mình. Năm 1949, khi mới bảy tuổi, tôi lớn lên dưới lá cờ đỏ, chưa từng học qua lớp tư thục kiểu cũ, sau đó lại trải qua hết đợt vận động chính trị sóng gió này đến đợt khác, đến năm 24 tuổi lại bắt gặp Đại cách mạng văn hóa, bị cuốn vào cơn cuồng phong "phá tứ cựu". Trước thời điểm đó, tôi chưa từng đọc và cũng chưa từng nghĩ đến việc đọc "Nhị thập tứ hiếu", cho đến tận sau thời kỳ cải cách mở cửa thập niên 80, tôi mới lần đầu tiên đọc được một bản "Nhị thập tứ hiếu" hoàn chỉnh. Sự hiểu biết của tôi về "Nhị thập tứ hiếu" trong thời thanh xuân là thông qua các tác phẩm của Lỗ Tấn tiên sinh, trong tập "Triêu hoa tịch thập" của ông có một bài chuyên đả kích "Nhị thập tứ hiếu", nhưng bài viết đó của ông lại không trích dẫn đầy đủ cả hai mươi bốn câu chuyện tuyên truyền đạo hiếu, thế nên trong một thời gian rất dài, tôi vẫn luôn không biết những người con hiếu thảo ấy rốt cuộc là những ai và đã làm những việc gì.

Cậu sinh viên đến tìm tôi đương nhiên cũng đã đọc bài viết đó của Lỗ Tấn. Cậu ấy nói với tôi: "Lỗ Tấn tiên sinh ở thời đại đó mà viết ra những bài như vậy thì có thể hiểu được. Nhưng bài viết ấy là phiến diện..." Tôi cố nén kiên nhẫn nghe cậu ấy nói hết. Theo lời cậu ấy, hai ví dụ mà Lỗ Tấn tiên sinh phản cảm nhất, "Quách Cự chôn con" quả thực là rác rưởi một trăm phần trăm, làm gì có đạo lý vì để bảo tồn người già mà tiêu chuẩn hóa việc tiêu diệt người nhỏ? Đừng nói là loài người, ngay cả sinh vật bình thường, vì sự di truyền của giống loài, luôn luôn là bỏ già dìu trẻ. Một ví dụ khác, "Lão Lai tử mua vui cho cha mẹ", Lỗ Tấn tiên sinh cũng đã chỉ ra, ghi chép được trích dẫn sớm nhất trong "Thái Bình ngự lãm", là nói ông "thường mặc áo năm màu, lấy nước cho cha mẹ, lên thềm ngã chân, sợ làm tổn thương lòng cha mẹ, ngã sấp xuống liền khóc nhè như trẻ sơ sinh", điều này tuy hơi buồn nôn một chút, nhưng bản chất sự việc là tùy cơ ứng biến, có vẻ như cũng không cần thiết phải căm ghét tột độ. Sau đó Quách Cư Kính đời Nguyên biên soạn "Nhị thập tứ hiếu", phát triển nó thành "giả vờ ngã sấp xuống đất", Lỗ Tấn tiên sinh vì thế mới phẫn nộ mắng rằng: "Bất kể là hiếu thuận, bất kể là nghịch tử, trẻ con phần lớn không muốn làm giả... Khi các ông thầy đạo học cho rằng cậu ta ngọc trắng không tì vết, thì cậu ta đã chết trong lòng lũ trẻ rồi." Ngoài ra, việc tuyên truyền mê tín như "khóc tre mọc măng" và "nằm băng cầu cá chép", cũng bị Lỗ Tấn tiên sinh đả kích chế giễu.

Cậu sinh viên kia nói, cậu ấy nghiên cứu "Nhị thập tứ hiếu" từ góc độ xã hội học. Cái gọi là "hiếu", chỉ sinh mệnh trẻ tuổi quan tâm chăm sóc sinh mệnh cao tuổi. Xã hội loài người ngày nay đã bước vào trạng thái "xã hội siêu già hóa", Trung Quốc cũng không ngoại lệ. Do đó, các văn bản liên quan đến "sự điều hòa giữa người lớn và trẻ nhỏ" của toàn nhân loại trước đó, đều có thể dùng làm tài nguyên tham khảo. Nghiên cứu từ góc độ này, "Nhị thập tứ hiếu" được xếp vào nhóm "tài nguyên có thể tận dụng" được tuyển chọn đợt đầu. Cậu ấy vừa nói vừa lấy ra một tờ danh sách cho tôi xem. Hóa ra, cậu ấy đã bắt ầu từ thống kê học, sắp xếp hai mươi bốn ví dụ "hành vi hiếu thảo" trong "Nhị thập tứ hiếu" thành các loại dưới đây:

Cần phải phủ nhận hoàn toàn: Quách Cự chôn con.

Ý nguyện có thể chấp nhận, nhưng xác suất thành công của sự việc cực kỳ thấp, thuộc về việc tuyên truyền thần tích mê tín: Suối phun cá chép nhảy, khóc tre mọc măng, nằm băng cầu cá chép, khắc gỗ phụng dưỡng cha mẹ.

Xuất phát điểm có thể chấp nhận, nhưng rơi vào thú vui tầm thường: Múa áo màu mua vui cho cha mẹ.

Nên khẳng định cơ bản: Hiếu cảm động trời (Ngu Thuấn cày ở núi Lịch, nuôi sống cả gia đình), sữa hươu phụng dưỡng cha mẹ, áo đơn thương mẹ, bán mình chôn cha, đi ở thuê nuôi mẹ, giấu quýt biếng cha, nghe sấm khóc mộ, bắt muỗi no máu, nếm phân lo lắng, con dâu cho bà bú không mỏi, từ quan tìm mẹ.

Có thể khẳng định toàn diện: Con cõng gạo cho cha mẹ, nếm thuốc cho cha mẹ, hái dâu nuôi mẹ, quạt gối làm ấm chăn, bóp hổ cứu cha, rửa bô cho cha mẹ.

Không thể xem là mê tín, có thể tìm thấy cơ sở di truyền học và tâm lý học, chứa đựng tình người nồng đượm: Cắn ngón tay đau tim (Tăng Sâm đốn củi trong núi, nhà có khách đến, mẹ không biết phải làm sao, ngóng Sâm không về, bèn cắn ngón tay mình, Sâm bỗng thấy đau tim, vác củi trở về, quỳ hỏi duyên cớ, mẹ nói: Có khách gấp đến, ta cắn ngón tay để làm con ngộ ra đấy).

Theo cách tính của cậu ta, những ví dụ hoàn toàn là rác rưởi vì phản nhân đạo chỉ có một, chiếm 5%; bao gồm quan niệm mê tín và thú vui tầm thường cộng lại là năm ví dụ, chiếm 20%; những ví dụ có thể khẳng định, tức là ngay trong ngày hôm nay vẫn có thể coi là "tài nguyên có thể tận dụng" để điều hòa mối quan hệ giữa các thế hệ, lại có tới "mười tám chữ hiếu", chiếm đến 75%, tức là ba phần tư!

Đối với nghiên cứu của cậu sinh viên này, thoạt đầu tôi phẫn uất nghẹn họng, tiếp đó lắc đầu thở dài, cuối cùng tôi nói với cậu ấy rằng: "Năm xưa Lỗ Tấn tiên sinh, cùng một nhóm nhân tài kiệt xuất của phong trào Ngũ Tứ, bọn họ đối với cái lễ giáo cũ, đạo đức cũ, sách cũ văn cũ đã chống đỡ cho xã hội phong kiến mấy ngàn năm ấy, thực sự mang theo mối thù đại hận đấy! Ông mượn lời nhân vật trong "Cuồng nhân nhật ký" để nói rằng, lịch sử xã hội phong kiến trạng thái siêu ổn định mấy ngàn năm ấy, mỗi trang đều viết mấy chữ nhân nghĩa đạo đức, nhưng nhìn kỹ lại, cả cuốn sách đều viết hai chữ là ăn thịt! Ông viết bài "Nhị thập tứ hiếu" là năm 1926 rồi, hơn nữa toàn bộ văn bản "Triêu hoa tịch thập", đã ôn hòa hơn "Mồ", "Hò hét" rất nhiều... nhưng những thứ mà Lỗ Tấn tiên sinh đã triệt để phủ nhận toàn bộ rồi, sao bây giờ cậu lại có thể nhẫn tâm như thế mà... đi làm cái phân tích định lượng gì chứ, vớt vát cái tài nguyên có thể tận dụng gì cơ chứ?!"

Cậu sinh viên chỉ nhìn tôi mỉm cười, rất có khí thế của "Nhị thập tứ hiếu", không, là "Nhị thập ngũ hiếu", cậu kiên nhẫn nói với tôi rằng: "Những lời phê phán của Lỗ Tấn năm xưa đối với lễ giáo phong kiến, giá trị văn bản của nó trường tồn mãi mãi. Sự phiến diện của ông ấy là sự phiến diện của nhiệt tình thời đại, sự phiến diện của tiến bộ, nên được thấu hiểu, và khẳng định đầy đủ. Thế hệ các bác, đối với bất kỳ sự vật nào mang chữ cũ, xã hội cũ, Trung Quốc cũ, văn hóa cũ, văn nhân cũ, sự vật cũ... sự phản cảm quả thực cũng là nhận thức và tình cảm đáng được tôn trọng. Nhưng vật đổi sao dời, thế hệ chúng cháu, tất yếu sẽ sản sinh ra tư duy mới, hơn nữa, trong lúc chúng cháu theo đuổi những sự vật trào lưu mới nhất, đặc biệt là những mốt học thuật và mốt sinh hoạt mới nhất từ nước ngoài — mà nhất là từ phương Tây — thì cũng đem những thứ cũ kỹ ngày càng rời xa, coi là những sự vật thú vị nhất, vớt vát tài nguyên có thể tận dụng từ trong đó... Chỉ cần nêu một ví dụ là đủ, bác xem bây giờ những cuốn sách như "Bức ảnh cũ" bán chạy biết bao, mà chúng cháu, thế hệ trẻ nhất, lại là nhóm khách hàng mua và đọc lớn nhất... Sao bác vẫn không hiểu chứ?"

2

Sao tôi lại vẫn không hiểu?

Sau khi cậu sinh viên đi, một mình tôi lặng lẽ suy ngẫm rất lâu.

Tôi đọc lại bài "Nhị thập tứ hiếu" của Lỗ Tấn tiên sinh, phát hiện ra rằng ít nhất hàng ngàn chữ ở phần đầu bài viết đó của ông chưa kịp mắng "Nhị thập tứ hiếu", mà là nghiến răng nguyền rủa "tất cả những kẻ phản đối bạch thoại, cản trở bạch thoại", thậm chí còn nói rằng: "Phàm là kẻ mưu hại tiếng bạch thoại, đều đáng phải diệt vong!"

Sau "Phong trào Ngũ Tứ", văn bạch thoại đã giành được thắng lợi quyết định. Ai được tính là kẻ mưu hại bạch thoại nhỉ? Nhất thời tôi vẫn chưa nghĩ ra, nhưng những kẻ phản đối bạch thoại, thì lập tức có thể nghĩ ra một loạt: Lâm Cầm Nam, Cố Hồng Minh, Trần Dần Thác, Ngô Mật...

Bây giờ mặc dù mọi người hễ nhắc đến Lỗ Tấn là đều đồng thanh bày tỏ sự kính trọng, nhưng đối với mối thù đại hận của ông dành cho những kẻ phản đối bạch thoại ấy, rốt cuộc còn lại mấy hậu thế coi đó là "tài nguyên có thể tận dụng"?

Ngược lại, bây giờ những vị như Lâm, Cố, Trần, Ngô mà tôi vừa nhắc đến ở trên, đều đã ra mắt các tập văn hay chuyên khảo bản mới, các bài viết, tiểu luận về họ cũng xuất hiện liên tục, náo nhiệt vô cùng, hơn nữa đánh giá tích cực cuồn cuộn dâng trào, tạo thành một cảnh quan hoành tráng nhất thời. Còn những nhân vật kiệt xuất đã dốc sức vì việc phổ biến văn bạch thoại trong "Phong trào Ngũ Tứ", như Tiền Huyền Đồng, Lưu Bán Nông chẳng hạn, thực sự rất tiêu sơ, sách của họ có mấy cuốn được tái bản? Tiêu thụ nổi không? Ai nhiệt tình lập truyện cho họ, nghiên cứu khảo bình về họ? Thậm chí một số sinh viên có chuyên ngành chẳng liên quan gì, hoàn toàn không biết họ là người thời nào và đã làm những gì.

Thái độ của Trần Dần Khác đối với văn bạch thoại là dứt khoát nhất. "Sự lựa chọn dưới thời đại đất nước chìm đắm" năm 1949 của ông là ở lại Quảng Châu trong đại lục, sống cho đến tận năm 1969, nhưng trước sau vẫn không dùng văn bạch thoại để viết lách, và không cho phép in các tác phẩm do ông viết bằng chữ giản thể và bản in ngang. Năm 1996, một nhà xuất bản đã phát hành một bộ "Đại hệ tùy bút văn hóa học thuật Trung Quốc thế kỷ 20", bao gồm tập sách của 20 bậc đại thụ học giới, việc biên soạn vô cùng nghiêm túc cẩn thận, tôi có được một bộ, trong đó cuốn của Trần Dần Khác đã khiến tôi có thêm nhiều hiểu biết về vị đại học giả nổi tiếng khắp giới tri thức nhờ mười chữ "Tinh thần độc lập, tư tưởng tự do" sau khi cuốn tiểu ký về "20 năm cuối đời" của ông được xuất bản, cảm thấy vô cùng trân quý. Thế nhưng, chẳng bao lâu sau liền nhìn thấy trên một tờ báo đăng lời xin lỗi của nhà xuất bản phát hành bộ sách tùy bút này, nguyên nhân sự việc là do gia quyến của ông tái khẳng định, tuyệt đối không cho phép ấn hành bất kỳ chữ viết nào của ông bằng hình thức chữ giản thể, bản in ngang. Nhà xuất bản đó cũng bày tỏ sẽ niêm phong và tiêu hủy các tập tùy bút của ông đã in có lời tựa bạt, chú thích bằng văn bạch thoại, và được in bằng chữ giản thể, bản in ngang.

Cái tên Trần Dần Khác và "câu châm ngôn mười chữ" ấy của ông, hiện nay sinh viên bất kỳ ngành nào cũng đều nghe đến quen tai, đã trở thành những thứ thuộc phạm vi kiến thức thông thường. Bạch thoại hay không bạch thoại, giờ đây hoàn toàn không còn nằm trong sự cân nhắc khi ngắm nhìn phong cảnh của ông nữa.

3

Đúng vậy, khoảng cách đã xa, thị phi lúc đó ai bận tâm làm gì? Chiếc sàng của thời gian để lại, chỉ là một phong cảnh trong mắt con người thời điểm hiện tại.

Vị đồng nghiệp đó nói với tôi rằng: "Đầu những năm 40, tôi đã là một thanh niên, tâm trạng lúc bấy giờ hoàn toàn bị bao trùm bởi sự kiện tày trời là kháng chiến chống Nhật cứu nước, dù có yêu văn học đi nữa, thì vẫn luôn thích những áng văn chương sôi sục có liên quan trực tiếp đến công cuộc cứu quốc của dân tộc, đối với một nhà văn như Trương Ái Linh mà vào thời điểm sinh tử còn vận nước ngập tràn vẫn chỉ say sưa bàn chuyện nổi tiếng phải tranh thủ sớm, viết ra những hỉ nộ ái ố của phụ nữ nhà giàu u sầu chơi xương bài, thuê vú em bồng con, quả thực không thể không khinh bỉ... Đương nhiên, sau khi kháng chiến thắng lợi, nếu định đoạt Trương Ái Linh là Hán gian văn hóa, tôi cũng không tán thành, cô ấy quả thực không hề tham gia cái gọi là đại hội văn học Đại Đông Á do quỷ Nhật tổ chức, cô ấy có quan hệ tình ái với Hán gian Hồ Lan Chân của chính quyền Uông Ngụy, điều đó thực ra cũng chỉ là đời tư của cô ấy, thế nhưng, tại sao quỷ Nhật lại đưa cô ấy vào danh sách của hội nghị loại đó? Bản thân cô ấy tuy không làm việc trong chính quyền Uông Ngụy, nhưng cho đến tận sau khi kháng chiến, Hồ Lan Chân trốn chạy đến Ôn Châu, cô ấy vẫn đi tìm hắn, đời tư như vậy, sao có thể không khiến người ta bĩu môi khinh bỉ? Huống chi, thập niên 50 cô ấy chạy sang Hồng Kông, rồi sau đó lại sang Mỹ, viết ra những cuốn tiểu thuyết chống cộng dày cộp như "ương ca", tư tưởng tạm không bàn tới, về mặt nghệ thuật cũng thuộc loại sản xuất cẩu thả, sao một người như anh, lại có thể gác lại tất cả những điều này không bàn tới, mà chỉ tiếp nhận những đánh giá của Hạ Chí Thanh, coi cô ấy là nhà văn xuất sắc nhất Trung Quốc hiện đại cơ chứ?"

Khi Trương Ái Linh xuất bản cuốn "Truyền kỳ" ấy, tôi vẫn chưa biết chữ. Trong quá trình trưởng thành của mình, tôi hoàn toàn không biết có một nhà văn như thế. Những năm 80 một khi tiếp xúc với các tác phẩm của cô ấy, đặc biệt là tác phẩm được Hạ Chí Thanh ca ngợi trong cuốn "Lịch sử tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc" viết bằng tiếng Anh là "tiểu thuyết vừa vĩ đại nhất từ xưa đến nay của Trung Quốc" - "Kim tỏa ký", tôi thực sự cảm thấy tầm mắt mở rộng — ngòi bút quả thực tuyệt diệu, chỉ riêng câu ví dụ ở phần mở đầu: "... Ánh trăng 30 năm trước hẳn là một vàm sáng hồng vàng ướt át to bằng đồng tiền, giống như một giọt nước mắt rơi trên giấy viết thư của Vân Cung Hiên, cũ kỹ và mơ hồ." cũng đủ khiến người ta thán phục. Vị đồng nghiệp lớn hơn tôi tầm 20 tuổi vì từng có sự quan sát cận cảnh "cùng thời gian không gian" với Trương Ái Linh, nên mới có cảm nhận chủ quan như vậy. Còn tôi, vì khoảng cách thực sự quá xa, thế nên không có những tiền đề "tình cảm chủ đạo thời đại" nhiều đến thế, Trương Ái Linh đối với tôi, chỉ là một phong cảnh đẹp đẽ mang lại sự thỏa mãn về mặt thẩm mỹ.

4

Bước sang thế kỷ 21, toàn bộ thế kỷ 20, bao gồm cả 10 năm cuối cùng đó, cũng bỗng chốc lùi xa.

Tôi nghĩ tâm lý của mình nên hướng đến sự chín muồi. Những "định luận" nào đó được hình thành trong hoàn cảnh và thời điểm lúc bấy giờ, không có nghĩa là phải lật đổ tất cả một cách đồng loạt. Giống như cách mà cậu sinh viên đối xử với "Nhị thập tứ hiếu", cậu ấy hoàn toàn không có ý định phủ nhận công lao lịch sử chống lễ giáo phong kiến của Lỗ Tấn tiên sinh, cũng không hề muốn mạo phạm giá trị văn bản bài viết đả kích dữ dội "Nhị thập tứ hiếu" của Lỗ Tấn tiên sinh, nhưng cậu ấy ngắm phong cảnh ở khoảng cách xa, kết quả nhận ra "Nhị thập tứ hiếu" cũng không phải hoàn toàn hủ bại xấu xí, từ trong đó vẫn có thể chắt lọc ra "tài nguyên có thể tận dụng" có lợi cho sự gắn kết giữa các thế hệ trong "xã hội siêu già hóa" hiện đại.

Do đó, nếu tôi gặp những "người ngắm cảnh" như vậy trong thế kỷ 21, đưa ra một số "cảm nhận" tương tự, dù tôi không thể đạt được sự đồng thuận với họ, thì tôi ít nhất cũng sẽ không còn kinh ngạc đến mức khó hiểu nữa.

Tôi nhớ có lần tôi đi từ khách sạn ra sân bay ở một địa phương khác, nhìn thấy rất nhiều rác thải vứt bừa bãi, còn có cả túi nilon bị gió thổi mắc vào cây xanh ven đường, khiến tâm trạng vô cùng tồi tệ, lúc đó cảm thấy vùng đất này quả thực hết thuốc chữa rồi! Thế nhưng khi chiếc máy bay chở khách cất cánh bay lên không trung, tôi nhìn xuống từ cửa sổ mạn tàu, đập vào mắt là những thửa ruộng xanh mướt, dải rừng xanh thẫm, những con đường cao tốc ngay ngắn, những cây cầu vượt lập thể tựa cánh chuồn chuồn, những con sông uốn lượn phản chiếu ánh trời, cùng với từng cụm nhà cửa, tháp cao giống như khối xếp hình nhiều màu sắc, đều đang minh chứng rằng những con người sinh sống trên mảnh đất này, suy cho cùng vẫn đang không ngừng kiến tạo nên nền văn minh mới...

Cần phải nỗ lực bứt phá ra khỏi sự hạn hẹp của thời điểm và hoàn cảnh lúc bấy giờ, để có được nhãn quan lịch sử bao dung hơn và nhờ đó cũng rộng lượng hơn, tận dụng tối đa tất cả các tài nguyên truyền thống có thể sử dụng.

Cần phải khi quan sát các vấn đề thực tế và nhìn về tương lai, có được cảnh quan toàn diện hơn và do đó cũng bản chất hơn, để duy trì niềm tin lạc quan và khí thế tiến thủ đáng có.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.