Người Chiến Thắng Ở Salamis

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Sự Xuất Hiện Của Xerxes, Vị Vua-thần

❊ ❊ ❊

Cuối cùng, khoảng thời gian đắm chìm trong sự nhàn hạ vô lo ấy cũng phải khép lại. Những sứ giả liên tiếp phi ngựa về báo tin Xerxes đang rời khỏi Babylon, tập hợp đại quân ở Cappadocia, và giờ đây đang băng qua vùng Tiểu Á để tiến về Sardis. Mardonius cùng các tùy tùng đã quay về kinh đô đó. Từng đoàn binh lính nườm nượp đổ về Sardis mỗi ngày, số lượng lên tới hàng chục vạn. Glaucon giờ đây hiểu rằng lời khoác lác suốt mười năm qua về việc phương Đông chuẩn bị vũ khí chống lại xứ Hellas không phải là lời nói suông, rằng toàn bộ sức mạnh của hai mươi tổng trấn sẽ giáng xuống xứ sở Hy Lạp bất hạnh tựa như một đòn sấm sét.

Ngay trên vùng đồng bằng quanh Sardis, một thành phố thứ hai đang mọc lên, được dựng lên từ những lều tranh và lều vải rực rỡ sắc màu. Đạo quân lớn lên từng giờ. Hết đoàn cung thủ da đen ngăm trong những bộ da báo tiến đến từ xứ Ethiopia xa xôi, rồi đến những lính rìu chiến xứ Bactria, người Tartar mặt vàng từ vùng đông bắc, những thương gia Ả Rập đội khăn rằn sặc sỡ trên lưng những con lạc đà đang lắc lư — người Syria, người Cilicia, người Assyria và Babylon râu đen, người Ai Cập môi dày — lũ lượt kéo đến, cùng vô số các tộc người kỳ lạ khác.

Nhưng cốt lõi của quân đội vẫn là những hàng ngũ kỵ binh và bộ binh Aryan đứng sát cánh bên nhau — những kẻ tóc vàng mắt xanh, người Ba Média và người Ba Tư, những cự binh qua hai mươi trận chiến. Bắp thịt của họ rắn chắc như thép tôi. Những đôi chân bền bỉ ấy đã nện qua biết bao dặm đường dài. Một số là bộ binh nhẹ mang khiên đan và cung lớn, nhưng đông không kém là các kỵ binh mặc giáp vảy vàng cưỡi những con tuấn mã sa mạc bay nhanh tựa thần Pegasus.

“Kỵ binh xuất sắc nhất thế giới!” Mardonius ca ngợi, và vị khách của hắn không dám thốt lời phản bác.

Từng vị tổng trấn cứ thế kéo đến. Khi cuối cùng một kỵ sĩ Ả Rập phi ngựa như bay đến cổng thành và hô lớn: “Sáng mai, Chúa tể Thế giới sẽ bước vào Sardis,” Glaucon suýt tưởng rằng mình sắp được diện kiến một nhân vật vĩ đại hơn cả thần Zeus xứ Cronus.

Mardonius, với tư cách là “quan mang cung cho nhà vua”, một chức vụ gần như hàng vương giả, đã cưỡi ngựa ra tận trạm quan ải để đón nhà vua. Các con đường ở Sardis được trang hoàng lộng lẫy bằng hoa tươi. Hàng ngàn giáo sĩ giăng hàng giữ đám đông lại phía sau. Chàng thanh niên Athens đứng cạnh Roxana và Artazostra bên cửa sổ tầng trên của một nhà buôn quý tộc người Lydia, và ánh mắt chàng không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào.

Chưa bao giờ hai người phụ nữ trông kiều diễm đến thế như khi trái tim họ hướng về vị vua đang đến gần. Giờ đây, chàng cảm nhận được sức mạnh của quyền lực tối thượng mang dấu ấn cá nhân, hiểu cách mà những đứa con của phương Đông ấy đang mỏi mòn ngóng đợi không phải là Xerxes người cai trị, mà là Xerxes Đấng Toàn Năng, vị Thần hiển hiện, kẻ mà những phán quyết tựa như mệnh lệnh từ Thiên đàng. Và sự kinh hãi của họ chắc chắn đã lan truyền sang cả người Athens.

Vào buổi trưa, đám đông bắt gặp dấu hiệu đầu tiên báo hiệu sự xuất hiện của nhà vua. Đi dọc con đường qua cổng thành là một người đàn ông để đầu trần, đi chân trần, bước đi đơn độc — Artaphernes, bạo chúa của toàn cõi Lydia, đang tiến lên để bày tỏ lòng kính cẩn tuyệt đối. Ngay sau đó, các tư tế hoạn quan của nữ thần Cybele ngự trên cổng thành liền tấu lên những tiếng chòm chêng lanh lảnh và cất cao khúc ca chào mừng. Giữa tiếng trống rền vang, một nghìn kỵ binh tinh nhuệ cùng ngừng ấy bộ binh cận vệ xuất thân từ đội Cận vệ Hoàng gia bước vào, những binh sĩ cao lớn, uy nghi — mũ giáp và chuôi giáo lấp lánh ánh vàng. Theo sau họ là một cỗ xe mạ vàng do tám con ngựa thánh kéo, con nào con nấy trắng nhưết như tuyết sữa, trên xe chở một bệ thờ gìn giữ ngọn lửa vĩnh cửu của thần Mazda. Tiếp đến, mỗi người ngự trên cỗ chiến xa lấp lánh của riêng mình, là “Sáu vị hoàng tử”, những người đứng đầu các thị tộc lớn của triều đại Achæmenian; rồi đến hai trăm con tuấn mã sa mạc dắt theo với bộ yên cương lộng lẫy; và đoạn — sau một khoảng thời gian dài[pg 176] để đoàn đại quân không làm bụi vấy bẩn lên chúa tể của họ — xuất hiện một kỵ sĩ đơn độc cưỡi con tuấn mã đen tuyền, chính là Artabanus — chú ruột kiêm tể tướng của nhà vua. Ông ra hiệu cho đám đông.

“Hãy kính sợ, hỡi những người Lydia, đấng ban phát sự sống cho toàn thế giới giờ đây đang bước qua cổng thành của các ngươi!”

Các hàng binh sĩ đồng loạt quăng giáo xuống đất và quỳ rạp xuống. Đám đông xung quanh cũng làm theo. Một cỗ chiến xa lao tới phía sau bốn con tuấn mã thánh xứ Nisæa — bộ lông của chúng trắng tinh như tuyết mới rơi, bờm được tết những sợi chỉ vàng, dây cương, hàm thiếc, trục xe và bệ xe đều tỏa sáng ánh ngọc quý và kim loại hoàng gia. Bánh xe lấp lánh tựa vầng thái dương. Một thiếu niên trông tựa thiếu nữ cầm dây cương màu đỏ thắm, người thứ hai giương cao chiếc ô lụa màu xanh lá. Bóng rải từ chiếc ô không che khuất được vóc dáng uy nghi trên cỗ xe. Glaucon nheo mắt nhìn chăm chú. Không thể nhầm lẫn được — Xerxes đây rồi, sinh thể có thể cất lời thốt lên với hàng triệu người rằng “Hãy chết đi!” và họ sẽ ngã xuống như những con giun dế; quả thực là một “Vị thần hiển hiện”.

Bởi vì về diện mạo, Xerxes, con trai của Darius, đích thực là Đại Đế. Một vóc dáng cao lớn uy nghi được tôn lên gấp bội bởi chiếc áo choàng dài màu tía thướt tha và chiếc mũ tía đội trên mái tóc đen quăn tự nhiên. Sự giàu có của các tổng trấn tụ hội hết trên những viên hồng ngọc và hoàng ngọc đính ở vỏ kiếm cùng đai nịt. Đầu ngài ngẩng cao. Gương mặt dẫu không hoàn toàn cân đối nhưng mang vẻ đẹp kiêu hãnh của loài chim ưng. Làn da ngăm bánh mật, đôi mắt tối màu và phảng phất nét ưu tư. Nếu quanh miệng phảng phất những đường nét yếu đuối thì bộ râu quăn đã che đi mất. Nhà vua nhìn thẳng về phía trước, dường như chẳng màng đến hàng vạn người đang quỳ rạp, nhưng khi vừa đi ngang qua ban công, sự tình cờ đã khiến ngài ngước mắt lên. Có lẽ hình ảnh của người Hy Lạp xinh đẹp đã khiến Xerxes nở một nụ cười quyến rũ. Nụ cười của một vị thần có sức mạnh làm say đắm lòng người. Quên mất cả bản thân, Glaucon dòng Alcmæonid đã cất tiếng hòa vào tràng pháo tay hò reo vang dội.

“Vạn tuế Xerxes! Nguyện xin vua của muôn loài vua trị vì muôn năm!”

Cỗ chiến xa vừa đi khuất ngay sau đó, theo sau là một đoàn tùy tùng khổng lồ —[pg 177] nào đầu bếp, hoạn quan, người dắt ngựa, thợ săn và rất nhiều kiệu che kín chở các phi tần hoàng gia — nhưng tất cả những thứ ấy lướt qua trước mắt mà Glaucon vẫn chưa thoát khỏi thứ bùa mê mà cảnh tượng hoàng gia vừa rồi trùm lên người chàng.

Đêm hôm đó, tại cung điện, Xerxes mở tiệc khoản đãi để ăn mừng chiến dịch mới. Sự lộng lẫy của một bữa yến tiệc hoàng gia nơi phương Đông thì chẳng cần phải kể lại nhiều. Đèn bạc, thảm Kerman hay những cánh hoa hồng tươi trải kín sàn, hàng ngàn cây đàn lu-líp và đàn tam thập lục, thứ rượu quý Helbon chảy tràn như nước, những chiếc chén bằng pha lê Phênica, bàn tiệc trĩu nặng những con lợn rừng quay nguyên con, những vũ nữ uốn éo chẳng lấy gì làm đoan trang — đó chỉ là những chi tiết phụ họa cho một sự xa hoa lộng lẫy đến choáng ngợp. Đối với Glaucon, khi mà vẻ đẹp thanh tao của lễ hội Panathenæa vẫn còn vương vấn trong tâm trí, cảnh tượng này mang lại sự kinh ngạc tột cùng nhưng khó lòng gọi là niềm vui. Người Ba Tư không bao giờ làm điều gì nửa vời. Trên chiến trường là một anh hùng, nhưng bên ly rượu họ lại hóa thành những gã thần rừng cuồng dại. Rất nhiều khung cảnh diễn ra trước khi các vị khách cạn sạch những chiếc vò bạc cao vút ấy là những thứ không thể thốt lên lời.

Ngự trên chiếc bệ cao đặt phía trên gian đại sảnh ồn ào là nhà vua Xerxes — được tôn sùng, bị đố kỵ và thật đáng thương hại.

Khi Spitames, viên quản gia, dâng ly rượu lên, người dâng cúi gằm mặt, không dám nhìn vào đôi mắt đầy uy quyền của chúa tể.

Khi Artabanus, vị tể tướng, tiến đến với một thông điệp, ông ta cúi xuống hôn tấm thảm trải dưới chân bệ cao trước tiên.

Khi Hydarnes, chỉ huy đội Cận vệ Hoàng gia, đến gần để nhận khẩu lệnh cho ban đêm, ông ta phải lấy vạt áo che miệng lại, sợ rằng hơi thở của mình sẽ làm vấy bẩn đấng quân vương của thế giới.

Thế nhưng, trong số mọi hình thức thịnh vượng giả tạo mà Định mệnh có thể dùng để nguyền rủa một con người, tệ hại nhất chính là lời nguyền dành cho Xerxes. Được gọi là “thần” khi bản thân chỉ là một sinh linh hữu hạn và phàm trần; không có lấy một người bạn mà chỉ có một trăm triệu nô lệ; bị tước đoạt những niềm vui của ước muốn và khát vọng chân chính bởi chẳng còn ước nguyện nào chưa được thỏa mãn; mọi lời nói buột miệng vội vã nhất đều được tuyên bố như thánh chỉ của thần linh; chưa bao giờ được phép thừa nhận một sai lầm dù cái giá của sự lơ đễnh ấy có đắt đến đâu, cốt để “vua của muôn loài vua” luôn xuất hiện cao ngạo vượt lên trên mọi lỗi lầm của nhân thế; tóm lại, trở thành kẻ nô lệ cho chính sự thần thánh hóa của bản thân — đó chính là xiềng xích nghiệt ngã của chúa tể hai mươi tổng trấn.

Bởi vì vua Xerxes cũng chỉ là một con người — với những bản năng, năng lực, sự thiện và ác tầm thường như bao kẻ khác. Một vị thần hoặc một thiên tài có thể đã vươn lên vượt qua sự cô lập đáng sợ ấy. Nhưng Xerxes không phải là cả hai. Nghi thức thiết triều cứng nhắc của hoàng cung Ba Tư đã tước đi của ngài hầu như toàn bộ những niềm vui đích thực. Bất cứ điều gì mới mẻ, một cảm giác hiếm hoi, một cơ hội để phá vỡ sự đơn điệu tẻ nhạt của chốn lầu son lác vàng bằng một hành động hào phóng kinh ngạc hay một tội ác rợn người — dù là gì đi nữa — đều được nhà vua chộp lấy với sự háo hức tựa trẻ thơ. Và đêm nay, Xerxes đang ở trong tâm trạng khoan dung lạ thường. Ngồi bên khuỷu tay ngài trên chiếc ngai vàng khảm ngọc lưu ly và đá mã não là người duy nhất gần gũi với ngài như một người bạn chứ không phải kẻ nô lệ — Mardonius, con trai của Gobryas, quan mang cung — và do đó có tư cách hơn bất kỳ vương hầu nào khác của Ba Tư được đứng ở vị trí thân cận với chúa tể của mình.

Trong lúc Spitames chuyền rượu, nhà vua vừa mỉm cười gật đầu tán thưởng với vẻ bề trên, vừa lắng nghe bản báo cáo của vị hoàng tử về cuộc phiêu lưu điên rồ của hắn tại xứ Hellas. Xerxes thậm chí còn nhẹ nhàng quở trách cậu em rể vì đã liều mạng sống của chính mình và của người vợ giữa những bộ tộc cứng đầu sắp sửa phải nếm trải sức mạnh của người Aryan.

“Tất cả là vì phục vụ Ngài, hỡi Đấng Toàn Năng,” vị hoàng tử đáp lại một cách nhã nhặn; “thì có há chi, nếu không chỉ riêng thần, mà cả một ngàn người cao quý khác của Ba Tư và Media có phải bỏ mạng, miễn là vinh quang của nhà vua được rạng ngời?”

“Nói hay lắm; ngươi là một bề tôi trung thành, Mardonius. Ta sẽ nhớ đến ngươi khi ta đã thiêu rụi Athens.”

Ngài thậm chí còn vươn tay vuốt ve bàn tay của vị quan mang cung, một sự ân chuẩn khiến cho quan mang ghế dựa, quan mang ô, quan mang ống tên và cả tá đại thần khác phải cắn môi vì ganh tị. Hydarnes, vị viên chỉ huy vẫn luôn chờ đợi một thời cơ thuận lợi, giờ đây cho rằng đã đến lúc an toàn để quỳ xuống bậc thềm thấp nhất của ngai vàng.

“Hỡi Đấng Toàn Năng, thần buộc lòng phải bẩm báo rằng một vài kẻ Hy Lạp khốn khổ đã bị tóm gọn tronganh trại đêm nay — chúng là gián điệu phái đến để dò la sức mạnh của ngài. Xin ngài rủ lòng thương cho đem chúng đóng cọc, đóng đinh câu rút, hay ném vào chuồng rắn lục?”

Nhà vua mỉm cười đầy hào hiệp.

“Chúng sẽ không phải chết. Hãy cho chúng thấy đại quân và toàn bộ sức mạnh của ta. Rồi tống cổ chúng về với những đồng bọn phiến loạn để chúng kể lại sự điên rồ của việc dám mơ tưởng chống lại uy quyền của ta.”

Nụ cười của Xerxes lan tỏa, tựa gợn sóng từ một viên sỏi ném xuống hồ nước, trên gương mặt của mọi quý tộc có mặt trong tầm nghe. Giờ đây những lời ca tụng cất lên thành một khúc tráng ca.

“Hỡi Đại dương của lòng nhân từ và trí tuệ! Thật hạnh phúc cho xứ Eran khi có được một vị vua vừa anh minh vừa nhân đức!”

Xerxes không màng tới, quay sang nói với Mardonius.

“À! Phải rồi — ngươi vừa kể chuyện đã mua chuộc một trong những quý tộc hàng đầu của Athens, rồi phải bỏ trốn. Trên đường hải hành các ngươi đã đắm tàu phải không?”

“Thần đã dâng sớ tâu về Babylon, gửi lên sự vĩnh cửu của ngài.”

“Và một kẻ lưu vong người Athens nào đó đã cứu mạng các ngươi? Rồi ngươi đưa hắn về Sardis?”

“Chính thần đã làm vậy, hỡi Đấng Toàn Năng.”

“Dĩ nhiên là hắn có mặt trong bữa yến tiệc này chứ.”

“Nhà vua nói đúng như được thần Mazda xui khiến. Thần đã xếp cho hắn ở cùng một số bạn bè và dặn dò họ chăm sóc để hắn không thiếu thốn thứ gì.”

“Hãy cho gọi — ta muốn nói chuyện với hắn.”

“Xin bệ hạ lượng thứ cho thần được can ngăn,” Mardonius ngập ngừng, “hắn là người Athens và luôn tự hào vì thuộc dòng dõi cứng đầu, căm ghét người Ba Tư. Thần e rằng hắn sẽ không chịu cúi đầu kính cẩn trước Đại Đế đâu.”

“Ta có thể chịu đựng được sự thô lỗ của hắn,” Xerxes cất lời, hiếm hoi lắm mới có tâm trạng tuyệt vời như vậy; “hãy bảo ‘quan tổng dẫn lễ’ áp giải hắn tới đây thật nhanh.”

Viên chức nhận lệnh cúi rạp người sát đất rồi vội vã đi làm nhiệm vụ.

Nhưng quả thực Mardonius đã có lý khi phải lo ngại cơn thịnh nộ của nhà vua. Glaucon bước vào với cái đầu ngẩng cao, thái độ gần như kiêu ngạo. Chính cái ý nghĩ rằng sự táo tợn này có thể đánh đổi bằng cả mạng sống lại càng khiến chàng ít chịu cúi mình hơn bao giờ hết. Chàng bước đi vững chãi dẫm lên ô thảm vàng riêng biệt dưới chân bệ ngai vàng — nơi ngoại trừ nhà vua, tể tướng và “Sáu vị hoàng tử”, không ai có quyền được bước lên theo luật định. Chàng buông thõng hai tay áp sát sườn, kiên quyết từ chối giấu chúng trong áo choàng như phép tắc cung đình đòi hỏi. Khi đứng trên những bậc thềm của ngai vàng, chàng ném về phía vị quân vương lấp lánh một cái gật đầu quen thuộc giống như khi gặp một người bạn trên quảng trường Agora. Mardonius cảm thấy lo lắng. Quan tổng dẫn lễ thì hoảng hốt tột độ. Viên quan xử phạt, luôn túc trực gần chủ nhân, háo hức dán mắt chờ xem liệu Xerxes có chạm tay vào chiếc đai lưng của kẻ xứ Hellas ngạo mạn ấy không — đó là tín hiệu để đem đi chặt đầu lập tức. Chỉ có bản tính dễ dãi của nhà vua mới ngăn chặn được một thảm họa, và Xerxes bị chi phối bởi hai động lực: sự thích thú khi gặp một đồng loại dám nhìn thẳng vào mắt mình mà không hề xu nịnh hay sợ hãi, và sự mê mẩn trước những đường nét cùng vóc dáng đẹp đẽ của chàng trai Athens. Chỉ trong khoảnh khắc, nhà vua và kẻ lưu vong đối mặt nhau, rồi Xerxes vươn ra, không phải bàn tay, mà là phần đầu bọc vàng của chiếc gậy ngà voi. Glaucon thừa khôn ngoan để chạm tay vào đó — dấu hiệu cho thấy chàng được phép yết kiến nhà vua.

“Ngươi đến từ Athens, hỡi kẻ xứ Hellas xinh đẹp,” Xerxes cất lời, vẫn không ngớt ngắm nhìn người lạ. “Ta sẽ hỏi ngươi. Hãy để Mardonius thông dịch.”

“Thần đã học tiếng Ba Tư, thưa đại nhân,” Glaucon xen vào, không màng đợi quan mang cung.

“Ngươi làm tốt lắm,” nhà vua mỉm cười đáp lại; “nhưng sẽ tốt hơn nếu ngươi học cả phép lịch sự mang phong cách Aryan của chúng ta. Không sao cả — rồi ngươi cũng sẽ học được chúng vào thời điểm thích hợp. Bây giờ hãy nói cho ta biết tên tuổi và dòng dõi của ngươi.”

“Thần là Glaucon, con trai của Conon, thuộc dòng dõi Alcmæonidæ.”

“Những bậc quyền quý lớn, thưa Đấng Toàn Năng,” Mardonius xen vào, “nếu như có thể tính đến sự quý tộc ở cái xứ Hy Lạp ấy.”

“Ta vẫn chưa tường tận về gia phả của bọn chúng,” Xerxes nhận xét một cách khô khan; rồi ngài quay lại nhìn Glaucon. “Và cha mẹ ngươi còn sống không, ngươi có anh em nào không?” Đó là câu hỏi rất tự nhiên đối với một người phương Đông. Câu trả lời của Glaucon vang lên với niềm tự hào ngút ngàn.

“Thần là đứa con lúc tuổi già của cha mẹ. Mẫu thân thần đã qua đời. Phụ thân thần nay tuổi cao sức yếu. Thần không có anh em. Thần từng có hai người anh lớn. Một người đã ngã xuống ngay tại Sardis này, khi chúng thần là những người Athens tấn công cướp phá thành phố. Một người ngã xuống khi đang chiến thắng tại trận Marathon, trong lúc thiêu rụi một chiếc chiến thuyền Ba Tư. Bởi thế, thần không hề hổ thẹn về số phận của họ.”

“Cái lưỡi của ngươi thật xấc láo, hỡi người xứ Hellas,” vị nhà vua khoan dung nói; “ngươi quả là một kẻ bề tôi tồi tệ nơi cung đình. Không sao. Dù vậy, hãy nói cho ta nghe lý do tại sao ngươi lại bướng bỉnh từ chối bày tỏ sự tôn kính với ta. Ngươi tự cho mình đứng trên tất cả những vương hầu người Ba Tư đang cúi rạp trước mặt ta sao?”

“Không phải vậy, thưa đại nhân. Nhưng thần sinh ra ở Athens, chứ không phải ở Susa. Chúng tôi những người xứ Hellas cầu nguyện ngay cả với thần Zeus trong tư thế đứng thẳng, vươn hai tay và ngước mắt nhìn lên. Chẳng lẽ thần lại có thể tôn vinh chúa tể của mọi tổng trấn vượt lên trên cả vị thần tối cao hay sao?”

“Ngươi có cái lưỡi thật lanh lợi, hỡi người Athens, dẫu cho cái cổ thì chẳng chịu cúi đầu.” Xerxes ngồi chống cằm vuốt râu, tỏ vẻ thích thú trước câu trả lời thẳng thừng ấy. “Mardonius đã kể lại cách ngươi cứu mạng hắn và em gái ta, và rằng ngươi là một kẻ bị lưu vong khỏi Athens.”

“Điều sau hoàn toàn là sự thật, thưa đại nhân.”

“Nghĩa là ngươi sẽ không cầu xin các vị thần của ngươi nguyền rủa ta thất bại quá cay đắng chứ? Hả?”

Glaucon đỏ mặt, đoạn ngẩng đầu lên đầy kiêu hãnh.

“Thần biết một vị vua Ba Tư rất trọng lời thật lòng. Thần vẫn yêu và cầu nguyện cho Athens, dẫu cho những kẻ thù vô danh có âm mưu hãm hại thần đi nữa.”

“Hừm! Ngươi có thể học những đức tính khác của chúng ta sau. Ngươi có mù quáng trước sức mạnh của ta không? Nếu có, ta chỉ thấy thương hại hơn là trách cứ ngươi.”

“Nhà vua thật nhân từ,” Glaucon đáp, vơi bớt phần nào vẻ kiêu kỳ. “Thần không muốn làm ngài nổi giận. Thần chỉ biết rằng ngài hẳn muốn người ta nói ‘Xerxes đã chinh phục một quốc gia kiêu hãnh, khó khuất phục,’ hơn là câu ‘Ngài đã chinh phục một giống loài yếu đuối chỉ biết van xin khóc lóc.’”

“Tuyệt vời! Ngoại trừ sự tự tin thái quá vào chiến thắng, ngươi tỏ ra khôn ngoan hơn tuổi thật của mình. Ngươi khôi ngô. Ngươi cao quý—”

“Vô cùng cao quý,” Mardonius xen vào.

“Và ngươi đã cứu mạng Mardonius cùng Artazostra. Ngươi có biết thân phận cao quý của họ khi cứu họ không?”

“Không hề. Thần chỉ không muốn để họ chết đuối như những con cừu.”

“Lại càng tuyệt vời hơn. Ngươi hành động không vụ lợi vì phần thưởng thấp hèn. Dù vậy, chớ để ngày nào đó Xerxes bị gọi là kẻ ‘vô ơn’ trước những ân huệ làm cho bề tôi của mình. Ngươi rồi sẽ học cách yêu mến ta qua việc chứng kiến lòng hào hiệp của ta. Ta sẽ biến ngươi thành một người Ba Tư, bất chấp ý muốn của ngươi. Ngươi đã từng ra trận chưa?”

“Thần còn quá trẻ để cầm giáo tại trận Marathon,” câu trả lời vang lên không chút nao núng.

“Vậy hãy học cách sử dụng nó trong một đội quân khác. Đại thư ký đâu rồi?”

Viên chức ấy có mặt ngay lập tức. Mardonius, tiếp nhận những lời thì thầm của nhà vua, liền đọc một mệnh lệnh mà vị thư ký khắc nhanh lên tấm bảng đất sét ướt bằng một cây trâm nhọn.

“Đến lượt đại sứ giả,” đó là lệnh của nhà vua, khiến một người đàn ông cao lớn mặc chiếc áo choàng đỏ rực rỡ bước đến cúi rạp người chào bệ ngai.

Ông ta nhận tấm bảng từ tay viên thư ký và giáng một cú đanh thép vào chiếc chiêng đồng đang treoủng lủng lẳng ở khuỷu tay. Tiếng chén rượu khua lảng bỗng ngưng bặt. Các thực khách im phăng phắc dưới nguy cơ bị trừng phạt bằng cái chết. Viên sứ giả cất tiếng hô dõng dạc vang vọng khắp đại sảnh:—

“Nhân danh Xerxes dòng dõi Achæmenian, vua của muôn loài vua, vua xứ Ba Tư, Media, Babylon và Lydia; kẻ đánh tan người Scythia, đấng thống trị người Ấn Độ, nỗi kinh hoàng của xứ Hellas; gửi tới muôn dân thiên hạ, những kẻ nô lệ của ngài — hãy lắng nghe!

“Vua Xerxes phán rằng, lời của ngài là tối thượng không bao giờ thay đổi. Vì Glaucon người Athens đã cứu mạng bầy tôi và em gái của ta là Mardonius cùng Artazostra, ta chính thức ghi tên hắn vào hàng ngũ ‘Những Ân nhân của Nhà Vua’, người được hưởng ơn huệ của ta đến muôn đời. Từ nay tên hắn không còn là Glaucon, mà là Prexaspes. Hãy đội chiếc mũ tía của ta lên đầu hắn. Hãy ban cho hắn chiếc áo choàng danh dự và chiếc đai lưng danh dự. Hãy lệnh cho viên thủ khố ban thưởng cho hắn một nén vàng. Hãy để các bề tôi của ta kính trọng hắn. Kẻ nào dám chế giễu hắn sẽ bị đóng cọc. Điều này ta tuyên bố như chiếu chỉ của mình.”

Những gì diễn ra sau đó khiến Glaucon quá hoang mang để có thể nhớ lại cho rõ ràng. Chàng biết rằng đại thị vệ đã nhấc chiếc mũ nạm ngọc lộng lẫy trên đầu nhà vua đội lên đầu mình trong chốc lát, rằng họ mang đến cho chàng một chiếc áo choàng màu tía thướt tha, và thắt quanh eo chàng một chiếc đai lưng bằng vàng, mỗi mắt xích đều nạm một viên đá quý đắt tiền. Cả đại sảnh đồng loạt đứng dậy để nâng ly chúc tụng người mà nhà vua hằng sủng ái.

“Hoan hô! Ba lần hoan hô Lãnh chúa Prexaspes! Phần thưởng xứng đáng từ vị vua nhân từ của chúng ta!”

Không một ai từ chối cất tiếng tung hô, và Glaucon chẳng bao giờ biết được có bao nhiêu gã triều thần ganh tị ngoài miệng thì hô vang nhưng trong lòng lại nguyền rủa những lời đen tối về “cách mà bệ hạ thích đóng vai thần thánh để cất nhắc tên người Hy Lạp vô danh này lên trên đầu biết bao bề tôi trung thành.”

Glaucon đành tìm cách thốt lên vài lời từ chối khéo léo và biết ơn gửi đến nhà vua; cúi chào sâu hơn khi quan tổng dẫn lễ dẫn chàng rời khỏi ngai vàng so với lúc tiến tới. Khi chàng bước ra khỏi phòng yến tiệc, hàng chục nhà quý tộc, các vạn phu trưởng, đại hoạn quan và nhiều kẻ khác lẽo đẽo theo sau, cúi rạp, nịnh hót, chúc mừng và dâng hiến đủ mọi thứ dịch vụ. Ngay cả trong những ngày sau chiến thắng ở Isthmia, đầu óc chàng cũng chưa từng quay cuồng đến thế. Chàng hầu như chẳng nghe thấy lời cảnh báo đầy thiện ý mà Artabanus, vị tể tướng già khôn ngoan, thốt lên khi họ bước qua cánh cửa của đại sảnh lớn.

“Hãy chơi ván bài này cho khéo, tân Lãnh chúa Prexaspes của ta. Nhà vua có thể phong ngươi làm tổng trấn hoặc cũng có thể đóng đinh câu rút ngươi đấy. Hãy chơi cho khéo, mức cược lớn lắm đấy.”

Chàng cũng chẳng màng nghe đoạn hội thoại giữa Xerxes và quan mang cung trong lúc mình đang được tống tiễn đi nơi khác.

“Ta làm vậy có phải đã ban ơn đúng người không, hỡi Mardonius?”

“Sự vĩnh cửu của ngài chưa bao giờ anh minh đến thế. Xin hãy tạm dung thứ cho sự thiếu phép tắc cung đình của hắn lúc này, bởi hắn là kẻ trung thực, ngay thẳng và cao thượng trong tâm hồn — những phẩm chất hiếm có ở một kẻ xứ Hellas. Xin hãy cho thần thời gian. Thần sẽ biến hắn thực sự thành một người Ba Tư xứng đáng.”

“Đừng để ta thất vọng,” nhà vua ra lệnh, “bởi vì cậu thanh niên ấy sở hữu vẻ đẹp cả về thể xác lẫn tâm hồn, khiến ta thấy tiếc nuối vì hắn lại sinh ra ở Athens. Dù vậy, có một cách ngắn nhất để cai sữa cho hắn khỏi cái đất nước khốn khổ và đã bị phán quyết diệt vong kia.”

“Đấng Toàn Năng xin hãy chỉ giáo?”

“Hãy tìm cho hắn một người vợ Ba Tư, không, ba hoặc bốn người vợ — mặc dù ta nghe nói phong tục của mấy kẻ Hy Lạp ngốc nghếch ấy là chỉ bằng lòng với một vợ. Không có cách nào chắc chắn hơn để xoay chuyển trái tim hắn ngoài cách đó.”

Mardonius cúi rạp người. Xerxes gọi thêm rượu. Bữa yến tiệc kéo dài đến tận khuya và kết thúc trong một trận cuồng hoan trụy lạc.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.