Người Chiến Thắng Ở Salamis

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26
Themistocles Đang Suy Tính

❊ ❊ ❊

Leonidas đã ngã xuống. Themistocles ở lại — ở lại để oằn mình gánh vác một trọng trách nặng nề chưa từng có trên vai một con người — để chiến đấu trong hai mặt trận, một với người Ba Tư, một với những đồng minh hèn nhát của chính mình, và trận chiến sau mới là điều khó khăn hơn cả. Ba trăm bảy mươi chiến thuyền ba tầng chèo của Hy Lạp đang neo đậu ngoài khơi Salamis, một nửa xuất phát từ Athens, nhưng tổng tư lệnh lại là Eurybiades người Sparta, kẻ đại diện cho một xứ sở lười biếng chỉ phái đến vỏn vẹn mười sáu chiến thuyền, thế nhưng lại là thế lực duy nhất mà đám người Peloponnesus đầy ích kỷ chịu tuân phục. Đó chính là cội nguồn những nhức nhối trong lòng Themistocles.

Khác hẳn với con người có vầng trán phẳng phiu, điềm tĩnh từng ngự trị trên bục diễn tụng, vị tướng quân đang sải bước trong phòng chỉ huy của chiếc Nausicaä chỉ ít đêm sau cuộc triệt thoái trông mới tiêu tụy làm sao. Bởi ít ra ông thừa hiểu rằng ánh bình minh ngày mai sẽ mang đến phán quyết tử vong cho cả xứ Hellas. Một phiên họp hội đồng u ám đã diễn ra vào chiều hôm ấy. Họ từng tận mắt chứng kiến thành Acropolis bốc cháy ngọn lửa hờn căm hai ngày trước đó. Hạm đội hùng hậu của Xerxes đang quần thảo ngoài các hải khẩu xứ Attica. Trong buổi tụ họp của các thủ lĩnh Hy Lạp tại phòng của Eurybiades, Themistocles chỉ lặp đi lặp lại đúng một từ — “Đánh!”

Đáp lại lời hiệu triệu ấy, Adeimantus, viên đô đốc hèn nhát của Corinth, cùng nhiều kẻ khác đã gầm lên:

“Hãy trì hoãn! Trở về eo đất Isthmus! Đừng mạo hiểm điều gì hết!”

Bấy giờ, người con trai của Neocles mới dập tắt tiếng la ó của bọn họ, không bằng những lý lẽ mà bằng chính lời đe dọa. “Hoặc chúng ta chiến đấu với đại vương ngay tại eo biển hẹp này, hoặc không bao giờ nữa. Ở ngoài khơi xa, biển cả mênh mông với số lượng tàu thuyền áp đảo của hắn sẽ nghiền nát chúng ta thành tro bụi. Hoặc các người hãy bỏ phiếu quyết chiến tại đây, hoặc chúng ta — những người Athens — sẽ giương buồm đến Ý và để mặc các người tự chống đỡ với Xerxes theo cách của mình.”

Một sự im lặng nặng nề bao trùm sau đó, khi các viên đô đốc tỏ vẻ bất bình trước nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán Themistocles. Rồi Eurybiades cũng ngập ngừng ban hành mệnh lệnh chiến đấu.

Mệnh lệnh đã được tuyên bố là vậy, thế nhưng khi vị tướng quân người Athens bước xuống chiếc xuồng nhỏ để rời khỏi kỳ hạm Sparta, ông lại nghe thấy Globryas, viên đô đốc xứ Sicyon, lầm bầm rằng: “Tên ngốc cứng đầu — hắn sẽ chẳng thể kéo tụi ta chết chung đâu!”, đồng thời chứng kiến Adeimantus quay đầu lại để thì thầm điều gì đó vào tai Eurybiades. Vị tướng Sparta đã lắc đầu từ chối, nhưng Themistocles chẳng hề ảo tưởng. Trong trận chiến vào lúc bình minh, một nửa số người Hellenes sẽ xung trận với câu hỏi “làm thế nào để trốn chạy?” hiện lên trong đầu nhiều hơn là “làm thế nào để chiến thắng?”, mà đó tuyệt đối không phải là tâm thế cần có trước một giờ phút khải hoàn.

Căn phòng giờ đây vắng lặng, chỉ còn lại một mình viên đô đốc. Trên boong tàu phía trên, những tiếng hô hào sảng khoái của Ameinias — vị chỉ huy tam tài thuyền — cùng khúc ca vang dội của các thủy thủ cho thấy rằng ít nhất trên chiến thuyền Nausicaä, tinh thần chiến đấu vẫn không hề suyuyển. Con tàu đang được khẩn trương chuẩn bị cho trận chiến, những cột buồm và buồm không cần thiết được gửi lên bờ, các tầng chèo dự phòng được bố trí sẵn sàng, cùng những móc sắt giáp lá cà đã được đặt vào vị trí. “Chiến đấu” là điều mà mọi người Athens thành kính cầu nguyện, nhưng Themistocles thừa biết rằng trong lòng các đồng minh, mọi chuyện lại hoàn toàn trái ngược. Giờ phút quyết định của cuộc đời đẩy ông vào trạng thái căng thẳng, u sầu và lặng câm. Ông lạnh lùng xua đuổi những sĩ quan cấp dưới nhiệt tình đến để xin chỉ thị.

“Mệnh lệnh của ta đã được ban ra. Hãy thi hành chúng. Aristeides đã đến chưa?” Câu hỏi sau cùng hướng về phía Simonides, người vẫn luôn đóng vai trò nửa là bạn đồng hành, nửa là quân sư trong suốt những ngày giông bão vừa qua.

“Cậu ấy vẫn chưa từ Ægina trở về.”

“Vậy thì hãy rời đi.”

Vẻ đăm chiêu trên mặt Themistocles càng hằn sâu thêm. Những người khác lặng lẽ lui ra.

Phòng chỉ huy trông khá tao nhã nếu xét đến bối cảnh chiến trận. Themistocles đã bài trí nó theo sở thích xa hoa của mình — những cột trụ bọc đồng gò thủ công, những tấm thảm dày dặn đến từ Carthage, cùng những ngọn đèn lung linh treo lủng lẳng trên chuỗi xích bằng đồng Corinth quý giá. Phía sau một chiếc kiềng ba chân là bức tượng Aphrodite - Nữ thần của những Lời khuyên Sáng suốt, vị thần bảo hộ được viên đô đốc sùng kính nhất. Theo thói quen, ông bước qua căn phòng, cầm lấy chiếc hộp vàng và rắc vài hạt trầm hương lên chiếc kiềng ba chân.

“Xin hãy chứng giám, hỡi nữ thần,” ông lẩm bẩm một cách máy móc, “và hãy ban phước cho mọi lời nguyện cầu của con.”

Ông hiểu rõ những lời đó chẳng mang ý nghĩa gì. Luồng gió đêm thổi qua khung cửa mạn tàu cuốn theo hương thơm bay đi khắp gian phòng. Bức tượng vẫn giữ nguyên nụ cười vô cảm, bất biến, và Themistocles cũng mỉm cười, dẫu nụ cười ấy đắng ngắt.

“Thế là hết. Một trận chiến thất bại, sự hèn nhát, kiếp nô lệ — không, ta sẽ không sống để chứng kiến cái kết cục tồi tệ ấy đâu.”

Ông nhìn ra ngoài khung cửa mạn tàu. Ông có thể nhìn rõ ánh đèn từ hạm đội của đám người Man rợ. Ông hít một hơi thật sâu bầu không khí mặn mòi, trong lành của biển cả.

“Vậy là bi kịch khép lại — còn thảm hại hơn cả vở kịch dở nhất của Phrynicus, khi mà đoàn đồng ca của ông ta bị khán giả ném hạt chà là vào mặt từ dưới hố dàn nhạc. Thế mà — thế mà—”

Ông chưa bao giờ thốt thành lời những ý nghĩ tiếp theo xuất hiện trong tâm trí mình, dù chỉ là trong suy nghĩ.

“Cha chả!” ông kêu lên, bật ngửa người lại với một chút sự nhanh nhẹn thuở trước, “Ta đã luôn ngẩng cao đầu đối mặt với tất cả. Ta đã dám nhìn thẳng vào mắt quái vật một mắt Cyclops, ngay cả khi ánh mắt hắn gườm gườm hung dữ nhất. Nhưng rồi mọi thứ cũng sẽ qua đi. Ta cho rằng Thersytes hèn nhát và Agamemnon vương giả cuối cùng cũng sẽ có một giấc ngủ và những giấc mơ giống hệt nhau ở chốn âm ty Orchus. Sớm hay muộn hơn vài năm trong cuộc đời một con người chẳng có mấy ý nghĩa. Dẫu vậy, ra đi với suy nghĩ ‘ta đã khải hoàn’ vẫn ngọt ngào hơn biết bao so với ‘ta đã thất bại, và mọi thứ ta yêu thương đều sụp đổ theo ta’. Riêng Athens—“

Ông lại khựng lại. Khi tiếp tục độc thoại, giọng điệu của ông đã đổi khác.

“Có rất nhiều điều ta không tài nào hiểu nổi. Người ta không thể giải mã những ẩn ngữ tại Delphi, chẳng vị đạo sĩ nào đọc được chúng qua điềm báo từ cánh chim. Tại sao Glaucon lại bị tàn sát? Phải chăng hắn là kẻ phản bội? Sự thật đằng sau tội phản quốc của hắn là gì? Kể từ khi hắn ra đi, niềm tin của ta vào cõi người đã vơi đi một nửa.”

Một lần nữa, tâm trí ông lại lang thang trôi dạt.

“Họ đặt trọn niềm tin vào ta biết bao, những thần dân trung thành của Athens! Chẳng phải việc trở thành thủ lĩnh của một thành bang tự do còn tuyệt vời hơn làm một kẻ như Xerxes, chúa tể của hàng trăm triệu tên nô lệ hay sao? Họ đã tung hô ta nồng nhiệt nhường nào, tựa như ta là vị thần ánh sáng Apollo Đấng Cứu Thế, khi ta đặt chân trở về Peiræus! Và rồi các sử gia sau này sẽ phải ghi chép lại rằng: ‘Vào thời điểm ấy, Themistocles, con trai của Neocles, đã xúi giục người Athens dấn thân vào một cuộc kháng chiến vô vọng để rồi tự chuốc lấy sự hủy diệt hoàn toàn’ ư? Hỡi Cha Zeus, loài người nhất định phải thốt lên những lời ấy sao? Phải chăng ta là một kẻ ngốc hay đã mất trí khi muốn cứu quê hương mình khỏi số phận bi thảm của Media, Lydia, Babylonia, Egypt, hay Ionia? Hay nữ thần định mệnh tăm tối Atropos đã an bài rằng người Ba Tư phải chiến thắng muôn đời? Nếu vậy, hỡi Zeus, hay bất kỳ danh hiệu nào ngài mang, hỡi Đấng Tối Cao của mọi quyền lực, hãy soi xét lại vương triều của ngài đi! Xerxes chẳng phải là một vị vua, mà là một kẻ ngạo mạn tự nhận mình là thần; hắn rồi sẽ vây hãm cả đỉnh Olympus, thậm chí cả ngai vàng của ngài.”

Ông bước đi những bước nặng nề dọc căn phòng.

“Làm sao ta có thể làm được đây?” ông lẩm bẩm trong cổ họng, đưa tay đập vào trán mình. “Làm thế nào để buộc những con người Hellenes này chịu chiến đấu?”

Bàn tay ông siết chặt lấy chuôi gươm.

“Đây là vị trí duy nhất để chúng ta chiến đấu với lợi thế thuộc về mình. Chỉ ở eo biển nằm giữa Salamis và Attica này, chúng ta mới có đủ không gian để triển khai toàn bộ chiến thuyền, trong khi lũ người Man rợ sẽ bị kẹt cứng vì số lượng quá đông đúc. Và nếu chúng ta thoái lui dù chỉ một lần? — Cứ để Adeimantus cùng bọn chúng tha hồ lải nhải về chuyện — ‘Bức tường, bức tường chắn ngang eo đất Isthmus! Đại vương sẽ chẳng bao giờ xuyên thủng nổi nó đâu.’ Hắn sẽ chẳng thèm nhọc công thử sức, trừ khi đám mưu sĩ của hắn đều đã phát điên. Chẳng phải hắn sẽ nắm quyền kiểm soát biển cả hay sao? Chẳng phải hắn có thể đưa quân đổ bộ lên phía sau bức tường bất cứ nơi nào hắn muốn hay sao? Chẳng phải ta đã rót nhồi cái lý lẽ đó vào đôi tai đần độn của đám người Peloponnesus cho đến khi khản cả giọng rồi sao? Hỡi Đất Mẹ và các vị thần! Thà cho ta thuyết phục một bức tượng đá còn hơn là uốn lưỡi trước đám người Dorian. Nhiệm vụ ấy còn nhẹ nhàng chán. Thế mà chúng lại tự xưng là những sinh vật biết suy luận đấy.”

Một tiếng gõ vang lên ngoài cửa cabin. Simonides bước vào.

“Cậu không lên boong tàu sao, Themistocles? Mọi người đang tìm cậu đấy. Đầu bếp của Ameinias đã chuẩn bị một bữa tối thịnh soạn — cá cơm và cá ngừ — cậu không tính nhập tiệc cùng các sĩ quan khác và cạn chén chúc mừng Tychē, Nữ thần May mắn, để ngài ban phuởc cho chúng ta trong buổi sáng mai ư?”

“Ta đang bất hòa với Tychē, hỡi Simonides. Ta không thể cùng đi với các anh em được.”

“Tình hình căng thẳng lắm sao, thưa ngài?”

“Phải, tồi tệ lắm. Nhưng hãy giữ vững tinh thần trước mặt binh lính. Chẳng việc gì phải đem cầm cố cơ hội cuối cùng của chúng ta cả.”

“Mọi chuyện đã đi đến bước đường ấy rồi sao?” vị thi sĩ nhỏ con cất lời, nét mặt đan xen giữa sự tò mò và lo lắng.

“Hãy để ta yên!” Themistocles ra lệnh, phất tay một cái đầy dứt khoát, và Simonides đủ khôn ngoan để tuân lệnh.

Themistocles nhấc một chiếc bút lông trên bàn, nhưng thay vì viết lên tấm giấy cói đang trải rộng, ông cắn ngập chiếc ngòi sậy vào hàm răng và nghiến chặt đầy giận dữ.

“Làm sao ta làm được? Làm sao ta có thể buộc những người Hellenes này chiến đấu? Hãy trả lời đi, Hỡi Vua Zeus, hãy trả lời đi!”

Ngay sau đó, bộ óc nhạy bén của ông lại nhanh chóng xoay vòng qua từngh sách lược.

“Thêm một lời sấm truyền nữa, một điềm báo may mắn nào đó rằng chúng ta sẽ chiến thắng ư? Nhưng ta đã xóc tung những cuốn sách sấm truyền cho đến khi chẳng còn lại gì ngoài vỏ trấu vô dụng. Hay hối lộ Adeimantus và đồng bọn của hắn? Nhưng vàng bạc chỉ mua được linh hồn, chứ không mua được lòng dũng cảm. Hay một bài diễn văn hùng hồn cùng những lý lẽ đập tan mọi nghi ngờ? Dù ta có chiếc lưỡi của Nestor và sự khôn ngoan của Thales đi nữa, thì đám người Dorian đần độn ấy có chịu lắng nghe chăng?”

Tiếng gõ cửa lại vang lên, và một lần nữa lại là Simonides. Gương mặt của vị thi sĩ bảnh bao dài ngoẵng ra.

“Ôi, thật đau đớn khi phải báo tin này! Cimon vừa phái một chiếc thuyền từ chiến thuyền Perseus của cậu ta đến. Cậu ấy bảo rằng chiếc Dikē, chiến thuyền xứ Sicyon đậu cạnh cậu ta, không hề chuẩn bị cho trận chiến, mà đang giương buồm lên cột như thể chuẩn bị tháo chạy.”

Themistocles bình tĩnh hỏi: “Chỉ có vậy thôi sao?”

“Và còn một tin nhắn nữa rằng Adeimantus cùng nhiều vị đô đốc có cùng suy nghĩ với hắn lại kéo đến chỗ Eurybiades để giục ông ấy hủy bỏ lệnh chiến đấu.”

“Ta đã đoán trước được điều đó.”

“Liệu vị tướng Sparta có chịu khuất phục?” Vị thi sĩ nhỏ con tái mặt đi.

“Rất có thể. Eurybiades ắt hẳn là kẻ hèn nhát nếu hắn không quá mức ngu ngốc.”

“Và ngài không định đến gặp ông ta ngay lập tức để đập tan ý chí của những kẻ nhát gan và giục họ hành động xứng danh là những người Hellenes sao?”

“Vẫn chưa phải lúc.”

“Vì con chó của xứ Ai Cập, hỡi ngài,” Simonides vừa kêu lên vừa túm lấy cánh tay người bạn, “ngài không biết rằng nếu cứ ngồi im thế này, tất cả chúng ta ngày mai sẽ ngậm ngùi bước đi giữa cánh đồng hoa thủy tiên tía ở âm phủ sao?”

“Đương nhiên là ta biết. Ta đang làm tất cả những gì có thể.”

“Tất cả ư? Ngài đang đứng khoanh tay đấy thôi!”

“Tất cả — vì ta đang suy tính.”

“Suy tính — ôi, xin hãy biến những suy nghĩ của ngài thành hành động đi!”

“Ta sẽ làm thế.”

“Khi nào?”

“Khi thần linh mở lối. Ngay lúc này, con đường ấy vẫn đang bị phong tỏa.”

“Trời ơi! Thật khốn khổ — thế mà trời đã về khuya lắm rồi, và xứ Hellas sắp tiêu đời đến nơi.”

Themistocles bật cười, nụ cười gần như mang theo sự nhẹ nhõm.

“Không đâu, bạn tôi ơi. Hellas sẽ không sụp đổ cho đến tận sáng mai, và rất nhiều chuyện có thể xảy ra trong một đêm. Giờ thì đi đi, và để ta tiếp tục suy ngẫm.”

Simonides nán lại giây lát. Ông không chắc Themistocles có còn làm chủ được bản thân mình nữa hay không. Thế nhưng vị đô đốc dứt khoát ra hiệu bằng tay, bàn tay của vị thi sĩ vừa chạm tới cửa cabin thì một tiếng gõ đanh thép vang lên từ phía bên kia. Viên prōreus — chỉ huy boong trước và là phó tướng thân tín của Ameinias — bước vào và nhanh chóng giơ tay chào.

Vị đô đốc lạnh lùng hỏi: “Ngươi có việc gì?”

“Bẩm điện hạ, có một kẻ đào ngũ.”

“Kẻ đào ngũ, và làm thế nào cùng lý do gì mà hắn lại có mặt ở đây?”

“Hắn đến chiến thuyền Nausicaä bằng một chiếc xuồng nhỏ. Hắn thề rằng vừa trốn từ chỗ đám người Man rợ ở Phaleron tới đây. Hắn đòi diện kiến viên đô đốc.”

“Hắn là người Man rợ ư?”

“Không, thưa ngài, là một người Hy Lạp. Hắn có vẻ nói một thứ phương ngữ Dorian pha tạp.”

Themistocles lại bật cười, thậm chí còn nhẹ nhõm hơn lúc trước.

“Một kẻ đào ngũ, ngươi nói thế. Vậy thì hà cớ gì, vì đôi mắt cú vọ của nữ thần Athena, hắn lại rời bỏ ‘Miền đất của loài thỏ nướng’ giữa vòng vây người Ba Tư, nơi mà biết bao kẻ đang đổ xô kéo tới? Chúng ta đâu có dư dả những kẻ đào ngũ đến theo phe mình để mà tối nay có thể làm ngơ một kẻ như thế. Dẫn hắn vào đây.”

Simonides suýt quỳ xuống, hoảng hốt nài nỉ: “Nhưng còn cuộc họp với Eurybiades thì sao?”

“Mặc thây lũ quái vật Harpy với cái hội đồng ấy đi! Ta đã khẩn cầu thần Zeus ban cho một điềm báo. Và nó đến rồi đây — một điềm lành. Vẫn còn đủ thời gian để nghe tên đào ngũ này bẩm báo, để vạch mặt Adeimantus, và cứu lấy cả xứ Hellas nữa!”

Themistocles hất cao đầu. Sự do dự và nỗi băn khoăn cau có đã hoàn toàn biến mất. Ông đã tìm lại chính con người mình. Điều mà ông hằng mong mỏi, mưu kế nào đang ẩn giấu trong bộ óc uyên bác vô tận ấy, Simonides không tài nào đoán được. Thế nhưng chỉ riêng hình ảnh người đàn ông kiên định, rạng rỡ nụ cười ấy cũng đủ mang lại lòng dũng cảm. Viên sĩ quan bước trở vào, đi theo sau là một gương mặt trẻ tuổi, một nửa che khuất bởi bộ râu rậm rạp và chiếc mũ chóp kéo sụp xuống tận trán. Kẻ lạ mặt bước thẳng đến chỗ Themistocles, thốt lên vài từ, khiến vị đô đốc ngay lập tức ra lệnh cho viên sĩ quan lui ra khỏi phòng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.