Người Chiến Thắng Ở Salamis

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17
Khúc Ca Quyến Rũ Của Roxana

❊ ❊ ❊

Niềm khao khát cuộc sống xưa cũ trong lòng Glaucon lúc dâng trào lúc lại lắng xuống. Có những lúc ký ức quay về giày vò anh đến phát điên. Rốt cuộc kẻ nào đã nhẫn tâm làm điều đó?—kẻ nào đã ngụy tạo bức thư tội lỗi kia rồi giấu nó ở chỗ Seuthes? Themistocles ư? Không thể nào. Democrates chăng?—“người bạn với một trái tim thấu cảm chẳng kém gì ruột thịt,” như lời Homer từng ca ngợi? Lại càng vô lý hơn. Vậy là một kẻ thù vô danh nào đó đã đánh cắp mật lệnh về hạm đội từ tay Themistocles? Nhưng nào có ai căm ghét Glaucon? Chỉ còn lại một lời giải thích duy nhất,—chàng lực sĩ đã vô tình xúc phạm một vị thần nào đó, quên mất một lời thề nguyền, hoặc chính vận may đỏ chói đã khơi dậy lòng đố kỵ của thần linh. Poseidon từng không nguôi giận Odysseus, Athena căm ghét Hector, Artemis bất hòa với Niobe,—Glaucon giờ đây chỉ biết cầu nguyện rằng sự đón tiếp anh nhận được từ người Ba Tư sẽ không châm ngòi cho một cơn thịnh nộ khác từ bầu trời.

Trên hết thảy, niềm nhung nhớ Hermione mới là thứ bóp nghẹt tâm can anh. Anh thấy nàng trong những giấc mơ đêm. Giữa muôn vàn giông bão của cuộc chiến đang thành hình, mọi nỗ lực tìm kiếm một sứ giả để gửi tin về Athens của anh đều hoài công vô ích. Trong chuyện này, anh tuyệt nhiên không dám nhờ cậy Mardonius. Thế rồi, từ một khoảng trời tưởng chừng quang tảng, một tia chớp giáng xuống khiến anh chỉ muốn bứt phăng hình bóng Hermione ra khỏi trái tim mình.

Một nô lệ người Carian, từng là quản gia đáng tin cậy tại mỏ bạc Laurium của Athens, vì khao khát tự do nên đã trốn chạy sang Sardis. Người Ba Tư liền gặng hỏi hắn đủ điều, bởi hắn nắm rõ mọi chuyện tầm phào chốn Athens. Glaucon tình cờ gặp kẻ đào tẩu ấy; lúc bấy giờ, vì có quá nhiều người tị nạn Hy Lạp vây quanh triều đình đại đế, nên tên nô lệ hoàn toàn không nhận ra anh là ai. Hắn huyên thuyên kể về một vinh dự mới dành cho Democrates.

“Hắn vừa được bầu làm tướng quân cho năm tới nhờ lòng yêu nước đáng tự hào. Ngoài ra, người ta còn đồn về một tin vui mang tính riêng tư hơn nữa.”

“Tin gì thế?”

“Rằng hắn đã cầu hôn thành công ái nữ của Hermippus xứ Eleusis,—chính là người vợ góa của Glaucon, kẻ tử tù đã chết. Người ta bảo đám cưới sẽ diễn ra ngay sau khi mãn tang—Thưa ngài, ngài không được khỏe à!”

“Ta xưa nay vẫn khỏe.” Nhưng mặt Glaucon đã tái mét. Anh đột ngột quay lưng bỏ đi, giam mình trong phòng riêng. Thật may là anh không mang theo kiếm bên người, bằng không anh đã tự kết liễu đời mình rồi.

Thế nhưng, tự đáy lòng, anh lại tự nhủ: chẳng phải thế là tốt nhất sao? Chẳng phải anh đã chết đối với Athens rồi hay sao? Lẽ nào Hermione phải chịu tang anh cho đến tận tuổi già? Và nàng có thể tìm được ai tốt hơn Democrates, một kẻ sẵn sàng hy sinh cả tình bạn vì tình yêu Tổ quốc?

Đêm đó, tể tướng Artabanus mở một bữa tiệc lớn. Họ cùng nâng chén chúc tụng: “Chiến thắng thuộc về nhà vua, diệt vong cho kẻ thù.” Các bậc quý tộc đều đổ dồn ánh mắt về phía Glaucon để xem anh có chạm môi vào chén rượu hay không. Anh ngửa cổ uống cạn. Họ liền vỗ tay tán thưởng. Anh ngồi lại bên bàn tiệc đến tận khuya, cho đến khi bị chuốc say mèm và được lũ nô lệ khiêng về phòng. Sáng hôm sau, Mardonius thông báo rằng Xerxes đã lệnh cho anh gia nhập lực lượng kỵ binh cận vệ, một vị trí đầy vinh quang và rộng mở cơ hội thăng tiến. Glaucon không hề kháng cự. Mardonius sai người mang đến cho anh một bộ giáp ngực bằng bạc cùng một con tuấn mã sắc đen đến từ thảo nguyên Bactria—nhanh nhẹn tựa gió bấc. Trong bộ giáp mới tinh, anh bước vào các gian phòng của Artazostra và Roxana. Họ chưa từng thấy anh mặc giáp trụ bao giờ. Bộ giáp láng bóng tôn lên vẻ đẹp xuất chúng của anh. Các nàng vô cùng thích thú.

“Ngài ngày càng giống người Ba Tư lắm rồi đấy, thưa lãnh chúa Prexaspes,”—Roxana giờ đây luôn gọi anh bằng cái tên mới,—“chẳng mấy chốc nữa chúng tôi sẽ phải tung hô ngài là ‘Điện hạ’—vị tổng đốc của Parthia, xứ Châu Á, hay một vùng đất vương giả nào khác ở phương Đông.”

“Ta làm vậy là phải phép khi hóa thành người Ba Tư,” anh cay đắng đáp lời, hoàn toàn dửng dưng trước những lời tán dương, “bởi vì ngày hôm qua, ta vừa nghe được một tin càng chứng minh rõ ràng hơn rằng Glaucon người Athens đã chết. Còn liệu anh ta có bao giờ trỗi dậy để sống lại nữa hay không, chỉ có Zeus mới thấu tỏ; nhưng với ta, đó là điều mù mịt.”

Artazostra không tiến lại gần, nhưng Roxana bước tới, như thể muốn giúp anh thắt chiếc khóa của dải đai lưng bằng vàng—món quà từ chính tay Xerxes. Anh thoáng thấy viên ngọc bích lấp lánh trên chiếc băng trán ôm lấy mái tóc đen tuyền của nàng, đường nét khuôn mặt thanh tú ngăm đen, cánh mũi thon gọn, cùng đường lượn mềm mại của lớp áo phấp phới vô tình hé lộ vóc dáng đầy uyển chuyển. Liệu ẩn sau giọng nói nàng cất lên với anh có phải chỉ là một thứ tình bạn thoáng qua?

“Ngài vừa nhận được tin tức từ Athens sao?”

“Đúng vậy.”

“Và đó là tin dữ.”

“Sao lại gọi là tin dữ, thưa công chúa? Bạn bè đều đinh ninh rằng tôi đã chết. Lẽ nào họ cứ mãi chìm đắm trong tang tóc vì tôi? À thì, họ có thể quên tôi... còn dễ dàng hơn là tôi, giữa chốn cô đơn này, có thể quên được họ.”

“Ngài cô đơn lắm sao?”—bàn tay đang siết chiếc khóa khẽ khàng chuyển động. Bàn tay ấy mới mềm mại làm sao, ánh nắng sông Nile đã nhuộm lên đó một sắc màu thật tinh tế biết bao!

“Ngài bảo mình không có bạn bè ư? Không một ai sao? Chẳng lẽ không có ai ở Sardis này? Không ai trong số những người Ba Tư hay sao?”

“Tôi đâu có nói thế, thưa tiểu thư kính mến,—nhưng một con người làm sao có thể có nhiều hơn một quê hương? Mà quê hương tôi là Attica, và Attica thì ở tận phương xa.”

“Và ngài sẽ chẳng bao giờ có nổi một quê hương thứ hai nữa sao? Những tình bạn mới chẳng lẽ không bao giờ có thể thay thế được những mối thâm tình đã vĩnh viễn vùi sâu vào quá khứ hay sao?”

“Tôi không biết nữa.”

“Ồ, hãy tin tôi đi, một mái nhà mới, những người bạn mới, một tình yêu mới... tất cả những điều ấy hoàn toàn có thể trở thành hiện thực, miễn là ngài chịu mở rộng trái tim mình để đón nhận chúng.”

Giọng nói nàng vừa run rẩy đầy xao xuyến rồi bất chợt lặng thinh. Gò má Roxana bỗng ửng hồng. Glaucon cúi đầu và đặt nụ hôn lên tay nàng. Bàn tay ấy dường như rất đỗi sẵn lòng dâng lên đôi môi anh.

“Cảm ơn những hy vọng tốt đẹp mà tiểu thư dành cho tôi. Vĩnh biệt.” Đó là tất cả những gì anh thốt ra, thế nhưng khi bước ra khỏi không gian của Roxana, nỗi đau đớn từ tin tức mà tên người Carian mang lại dường như đã vơi bớt phần nào.

* * * * * * *

Đại quân tụ hội mỗi ngày. Xerxes dành phần lớn thời gian để chơi súc sắc, săn bắn, chè chén, hoặc tự khuây khỏa với trò tiêu khiển ưa thích là chạm trổ gỗ. Nhà vua thỉnh thoảng triệu tập vài hội đồng triều chính trang nghiêm, nơi ngài ra vẻ như tự mình quyết định mọi bề nhưng thực chất đều do Artabanus và Mardonius giật dây. Giờ đây, cuối cùng thì cỗ máy khổng lồ nhằm nghiền nát Hellas cũng bắt đầu chuyển động. Glaucon thấu hiểu niềm hy vọng cứu viện cho Athens từ người Hy Lạp ở Sicilia mong manh nhường nào, bởi vì—nhờ tài ngoại giao bền bỉ không mệt mỏi của Mardonius—mọi chuyện đã được sắp xếp ổn thỏa: người Phân-ni-ki ở Carthage sẽ tung ra một hạm đội hùng mạnh giáng vào người Sicilia đúng thời điểm Xerxes tiến đánh Sparta và Athens. Với sự mãn nguyện điềm tĩnh, Mardonius dõi theo những nỗ lực của mình đi đến hồi hoàn tất. Mọi thứ đã sẵn sàng—đạo quân hàng trăm ngàn người, một ngàn hai trăm chiến thuyền, những nhịp cầu bắc qua Hellespont, cùng con kênh đào tại núi Athos. Sự ngưỡng mộ của Glaucon dành cho con trai của Gobryas lớn dần theo năm tháng. Xerxes chỉ là cái đầu hữu hình của cuộc tấn công vào Hellas, còn Mardonius mới chính là linh hồn. Hắn là thần tượng của toàn quân—một cung thủ kiêm kỵ sĩ cự phách bậc nhất. Khác với những kẻ cùng tước vị, hắn không duy trì một hậu cung đồ sộ gồm những phi tần đầy ganh ghét và đám hoạn quan mưu mô. Artazostra là người hắn tôn kính, Roxana là người hắn yêu thương. Hắn chẳng có thời gian dành cho những phụ nữ khác. Không một bề tôi nào của Xerxes bề ngoài lại tỏ ra tuân lệnh tuyệt đối hơn hắn. Ngày đêm hắn miệt mài làm việc vì vinh quang của đế quốc Ba Tư. Chính vì thế, Glaucon nhìn hắn với nỗi sợ hãi tột cùng. Đối đầu với hắn, Themistocles và Leonidas sẽ phải chạm trán một kỳ phùng địch thủ thực sự.

Từng ngày trôi qua, Glaucon cảm nhận rõ ảnh hưởng Ba Tư đang ngấm ngầm xâm chiếm tâm trí mình. Anh thậm chí đã quen với việc nghĩ về bản thân dưới cái tên mới. Xung quanh anh toàn là những người Hy Lạp lưu vong: Demaratus, vị “bán vương” bị lưu đày của Sparta, cùng các con trai của Hippias, kẻ từng bạo chúa ởAthens. Anh khinh bỉ bầu bạn với những kẻ phản bội ấy. Thế nhưng, có những lúc anh tự hỏi bản thân mình thì khác gì họ—nếu lời buộc tội của Democrates là sự thật, liệu anh có thể đòi hỏi phần thưởng nào lớn lao hơn từ kẻ ngoại bang? Và vào ngày chiến trận nổ ra, anh sẽ hành động ra sao—đó là điều anh không dám đối chất với chính tâm can mình.

* * * * * * *

Xerxes rời khỏi Sardis cùng đại quân trong cùng một vẻ hào nhoáng tráng lệ như lúc ngài bước chân vào. Glaucon cưỡi ngựa trong lực lượng Cận vệ Hoàng gia, và thường xuyên diện kiến nhà vua, bởi bệ hạ rất thích ngắm nhìn những nam nhân khôi ngô tuấn tú. Có lần chính tay anh đã giữ bàn đạp khi Xerxes xuống ngựa—một vinh dự đã khơi mào cho không ít lời xì xầm ghen tị. Artazostra và Roxana ngồi trong những cỗ kiệu kín kẽ, đi cùng đoàn tùy tùng gồm phụ nữ và hoạn quan vốn luôn theo sát mọi đạo quân Ba Tư. Cứ thế, hàng vạn con người cuồn cuộn tiến qua Lydia và Mysia, đông đúc đến mức uống cạn cả những dòng sông; rồi băng qua những đồng bằng bất tử thành Troy, nơi đoàn quân ấy mang sứ mệnh lập nên những chiến công và gánh chịu những thử thách vĩ đại hơn cả những gì từng diễn ra bên dòng Simois và Scamander được thi ca ca tụng, cho đến khi cuối cùng họ đặt chân đến Hellespont, dòng sông xanh biếc rộng bảy furlong, ranh giới chia cắt châu Á bị chinh phục khỏi một châu Âu đang chờ ngày bị khuất phục.

Nơi đây vắt vẻo hai cây cầu tàu, mỗi cầu gồm hơn ba trăm chiến thuyền, được giữ chặt bằng những sợi cáp khổng lồ, bên trên bồi đắp thành một con đường đất vững chãi, hai bên có lan can cao bảo vệ để ngợ̂c ngựa và lạc đà không bị hoảng sợ khi nhìn xuống mặt nước. Cũng tại chốn này, hạm đội đã hội quân cùng họ—sức mạnh quân sự của phương Đông gồm người Phân-ni-ki, Cilicia, Ai Cập, Síp—với số lượng chiến thuyền ba tầng chèo và tàu vận tải lớn chưa từng có trong lịch sử lướt trên sóng nước. Và khi chứng kiến toàn bộ sức mạnh ấy, tất cả đều quy về một ý chí duy nhất, lòng Glaucon càng thêm chùng xuống. Một Hellas nhỏ bé, rách nát vì chia rẽ làm sao có thể chống đỡ nổi uy quyền này? Chỉ khi nhìn thấy hàng vạn người lính đang lầm lũi tiến qua, và chứng kiến các sĩ quan vung những chiếc roi dài quất phắt lên lưng đám lính giáo chẳng khác nào lùa gia súc, anh mới tìm lại được chút ít an ủi. Bởi anh biết rằng ở Athens và Sparta vẫn âm ỉ một ngọn lửa, ngọn lửa không tồn tại ở Susa hay Babylon, thứ ánh sáng thắp lên trong những tâm hồn tự do và đôi bàn tay tự do sự dũng cảm để dám nghĩ dám làm nên những đại sự. “Liệu vị thần Zeus tối cao sẽ phù hộ cho ai khi những kẻ nô lệ của Xerxes đứng đối mặt với những con người tự do?”

Một suy nghĩ kiêu hãnh biết bao—nhưng nó chẳng thể an ủi anh lâu hơn được nữa, khi suốt buổi chiều hôm ấy, anh đứng gần ngai vàng bằng cẩm thạch của “Chúa tể Thế gian,” nơi Xerxes ngắm nhìn hàng vạn binh sĩ tuần hành qua, theo dõi những cuộc đua chiến thuyền chớp nhoáng, và lắng nghe những lời quả quyết đầy tự mãn từ các tướng lĩnh rằng: “Kể từ thuở hồng hoang cho đến nay, chưa từng có một vị vua nào—dù là Thothmes của Ai Cập, Sennacherib của Assyria, hay Cyrus và Darius—lại bày biện được những đạo quân uy dũng như bệ hạ ngày hôm nay.”

Rồi hoàng hôn buông xuống. Theo lệ thường, Glaucon có mặt trong lều trướng riêng của Mardonius—bản thân nó vốn đã là một cung điện với những bức tường căng lụa thảm đỏ thắm thay cho cẩm thạch. Anh ngồi lặng thim đăm chiêu suốt một hồi lâu, mặc cho những lời trêu ghẹo sắc sảo của các tiểu thư hay viên cận vệ cầm cung hiếm khi nào lay chuyển được anh đáp lời. Và cuối cùng Artazostra không tài nào chịu đựng thêm được nữa.

“Thứ gì đã khâu chặt lưỡi ngài lại thế, Prexaspes? Chắc là trong một phút vui đùa, hoàng huynh của ta không đến nỗi hạ lệnh cắt đứt nó đi chứ? Làn da của ngài quá đỗi mịn màng để có thể được biên chế vào hàng ngũ hoạn quan người Libya của bệ hạ đấy.”

Chàng trai người Hy Lạp đáp lời với một nỗ lực cười trừ đầy tội nghiệp.

“Tôi im lặng ư? Nếu có im lặng, thì đó là vì tôi đang mải mê chiêm ngưỡng sự dí dỏm cao quý của tiểu thư đấy chứ.”

Artazostra lắc đầu.

“Không đời nào. Đôi mắt ngài đờ đẫn y như màu xanh của hạt cườm Ai Cập vậy. Ngài chẳng hề lắng nghe ta nói gì cả. Ngài đang nhìn ngắm những cảnh tượng và lắng nghe những âm thanh ở tận phương xa nào đó.”

“Tiểu thư ép tôi dữ dội quá,” anh thú nhận; “tôi biết đáp lại thế nào đây? Đâu có ai làm chủ được những suy nghĩ lang thang của mình—ít ra là tôi thì không.”

“Ngài đang nhìn về Athens. Ngài say đắm cái xứ sở toàn đá sỏi ấy đến mức đinh ninh rằng chẳng có vùng đất nào khác trên đời có thể sánh được vẻ đẹp của nó sao?”

“Đúng là nó toàn đá sỏi, thưa tiểu thư—chính ngài cũng từng thấy rồi đấy—nhưng chẳng có vầng thái dương nào sánh được với ánh mặt trời soi rọi điện Acropolis; chẳng loài chim nào cất tiếng hót hay như những con hoạ mi ẩn mình trong lùm cây ven sông Cephissus; chẳng cành cây nào thì thầm những âm thanh tựa tiếng róc rách của hàng ô-liu tại Colonus hay trên sườn đồi Eleusis giáp biển. Tôi chỉ có thể dùng lời của Homer, người nghệ sĩ của xứ Hellas, để trả lời ngài thôi, những lời mà ông đặt vào cửa miệng của một kẻ lang thang phiêu bạt y như tôi. ‘Một vùng đất gồ ghề cằn cỗi, nhưng là người mẹ nuôi dưỡng những anh hào, và với bản thân ta, chẳng có gì ngọt ngào hơn quê hương xứ sở của chính mình.’ ”

Lời ca tụng quê hương đã nhuộm hồng đôi má của chàng trai Athens, giọng nói của anh dâng trào niềm nhiệt huyết. Anh thừa nhận rằng Roxana đang chăm chú quan sát mình.

“Nó chắc hẳn phải đẹp lắm, hỡi người Hellas thân mến,” nàng lên tiếng khi đang ngồi trên chiếc đôn thấp dưới chiếc ghế dài của hoàng huynh, “nhưng ngài vẫn chưa nhìn thấy hết thế giới này đâu. Ngài chưa từng thấy dòng sông Nile huyền bí, Memphis, Thebes và Saïs, những thành phố kỳ diệu của chúng tôi; ngài chưa từng chứng kiến ánh mặt trời mọc lên trên sa mạc như thế nào, cách nó biến những cồn cát thành sắc vàng rực rỡ ra sao, hay vào lúc hoàng hôn, những vách đá bừng sáng tựa những bức tường khảm beryl, ngọc mã não và hoàng ngọc.”

“Vậy hãy kể về Ai Cập đi,” Glaucon nói, rõ ràng đang tận hưởng giai điệu từ giọng nói của nàng.

“Không phải tối nay. Ta đã ca ngợi nó trước kia rồi. Thay vào đó, ta sẽ ca ngợi cả những thung lũng hoa hồng của Ba Tư và Bactria, nơi Mardonius đã đưa ta đến sau khi người cha kính yêu của ta qua đời.”

“Chúng cũng đẹp lắm sao?”

“Đẹp tựa Ngôi nhà của những kẻ được chúc phúc trong tín ngưỡng người Ai Cập, dành cho những ai đã vượt qua được cánh cửa đáng sợ của thần Osiris; đẹp như Airyana-Væya, quê cha đất tổ của người Aryan, nơi thần Ahura-Mazda đã phái họ đi khắp chốn. Mùa đông ở đó ngắn ngủi, mùa hè lại tươi sáng và kéo dài. Chẳng hề có mưa dầm dề hay nắng cháy da thịt. Vườn địa đàng ở Sardis chẳng thấm tháp gì so với chúng. Người ta hít thở hương hoa hồng ngào ngạt, và lắng nghe tiếng chim bulbul—những chú họa mi Aryan của chúng tôi—hót ca suốt cả ngày lẫn đêm. Những dòng suối róc rách nguồn nước mát lành. Tại Susa, cung điện còn lộng lẫy vượt ngoài sức tưởng tượng của ngôn từ. Cứ mỗi độ hè sang, triều đình lại dời về đây để trốn tránh vinh quang tẻ nhạt của Babylon. Những cột trụ của cung điện vươn cao tới tận trời xanh, nhưng không có bức tường nào vây quanh chúng, chỉ có những tấm rèm màu xanh lục, trắng và xanh lam buông rủ—trong khi những cơn gió nhẹ ấm áp và ngọt ngào luôn thổi đến từ những đồng cỏ xanh ngút ngàn.”

“Tiểu thư vẽ nên một bức tranh đẹp chẳng kém gì những đồng bằng Elysium, thưa tiểu thư kính mến,” Glaucon cất lời, ánh mắt anh dõi theo thứ ánh sáng đang rực cháy trong đáy mắt nàng, “thế nhưng tôi sẽ chẳng thèm tìm kiếm chốn dung thân dẫu là trong cung điện hoàng gia với tất cả vẻ đẹp lộng lẫy ấy. Có những lúc tôi khao khát được cẩn lạy các vị thần rằng: ‘Hãy ban cho tôi đôi cánh, đôi cánh đại bàng của chính loài chim phụng sự thần Zeus, để tôi có thể bay đến tận cùng của thế giới, và ở đó, trong một thung lũng kỳ diệu nào đó, cuối cùng tôi có thể tìm thấy dòng suối nước Lethe, dòng nước quên lãng mang lại sự bình yên.’ ”

Roxana nhìn anh; niềm trắc ẩn hiện rõ trong đôi mắt nàng, và anh biết rằng mình đang đắm chìm trong niềm vui thích trước sự thương cảm ấy.

“Dòng nước thần kỳ mà ngài tìm kiếm không phải để uống từ những chiếc chén ngọc,” nàng đáp lại anh, “nhưng thung lũng kỳ diệu ấy ẩn mình giữa những thung lũng của xứ Bactria, ‘Nóc nhà của Thế giới,’ nằm vắt vẻo trên cao giữa những dãy núi đội vương miện tuyết vĩnh cửu. Mọi loài cây trái và hoa thơm cỏ lạ đều tề tựu nơi đây, và uốn lượn qua đó là dòng Oxus huyền bí, con sông vĩ đại cuồn cuộn chảy về phương bắc. Và ở chốn ấy, nếu như có bất cứ nơi nào trên mặt đất xanh tươi rộng lớn của thần Mazda, những tâm hồn giông bão mới có thể tìm thấy sự bình yên.”

“Vậy nó đẹp đến thế sao?” chàng trai người Athens hỏi.

“Đẹp tuyệt trần,” Mardonius và Artazostra đồng thanh đáp. Và Roxana, nhận được cái gật đầu tán thưởng từ người huynh trưởng, liền đứng dậy bước qua phía bên kia lều, nơi có treo một cây đàn hạc mộc mạc.

“Liệu lãnh chúa Prexaspes có chịu lắng nghe,” nàng cất tiếng hỏi, “nếu ta gảy tặng ngài một khúc ca bình dị của người Aryan ngợi ca những thung lũng bên dòng Oxus hay không? Tài nghệ của ta còn non kém lắm.”

“Nó đủ sức làm rung động cả trái tim nữ thần Persephone, hệt như những gì Orpheus từng làm,” chàng trai người Athens đáp lời, ánh mắt không hề rời khỏi người thiếu nữ.

Ánh sáng dịu dàng từ những chiếc đèn treo, hương thơm ngào ngạt của trầm hương âm ỉ cháy trên chiếc lò đồng, vẻ đẹp huyền ảo trong đôi mắt của người ca nữ—tất cả giam giữ Glaucon như thể một thứ bùa phép. Roxana khẽ gảy đàn. Giọng hát của nàng ngọt ngào, và ẩn chứa trong từng phím đàn tiếng hát ấy không chỉ là mong muốn làm vừa lòng người nghe.

Từ phương xa dòng Oxus trôi,

Nghe tiếng chim ca ngời ngợi gọi,

Bên dòng Oxus lầu hoa dựng,

Quên đi, quên hết sầu thương cũ,

Ánh sáng, hương thơm, khúc ca đong đầy ý nghĩa ấy, tất cả đã len lỏi và chi phối tâm trí Glaucon xứ Athens. Anh cảm nhận rõ gò má mình đang bừng lên hơi ấm; anh cảm nhận được những bàn tay vô hình đang vươn ra như muốn rút lấy linh hồn anh. Đôi mắt Roxana đang dán chặt vào anh khi khúc ca dứt nhịp. Ánh mắt họ giao nhau. Nàng quá đỗi kiều diễm, cao sang và tinh tế. Nàng đang mời gọi anh rũ bỏ hình bóng Glaucon—kẻ lưu vong khỏi xứ Hellas—để xác thân lẫn tâm hồn hóa thành Prexaspes người Ba Tư, “Ân nhân của Nhà vua,” và là kẻ sẻ chia mọi vinh quang của một giống dân chinh phục. Tất cả quá khứ dường như đang trôi tuột đi trong mơ hồ. Roxana đang đứng trước mặt anh trong vẻ đẹp phương Đông huyền bí; còn Hermione thì đang ở Athens—và người ta đang gả nàng cho Democrates. Có gì là lạ khi anh chẳng thể tài nào làm chủ được bản thân, dẫu cho suốt ngày hôm đó anh đã tuyệt nhiên không chạm đến một giọt rượu nào?

“Một khúc ca giản dị,” Mardonius lên tiếng, tỏ ra vô cùng hài lòng với những gì em gái mình vừa thể hiện, “nhưng không hề thiếu đi sự ngọt ngào. Chúng ta, những người Aryan, vốn không chuộng thứ âm nhạc phô trương phức tạp mà người Hy Lạp và Babylon vẫn hay say đắm.”

“Sự giản dị chính là vẻ đẹp tối cao,” chàng trai người Hy Lạp đáp, hệt như vẫn còn chìm đắm trong cơn mê sảng, “và khi tôi lắng nghe Euphrosyne, đẹp nhất trong các Nữ thần Ân huệ, cất tiếng hát bằng giọng của Erato, Nữ hoàng Ca khúc, tôi lại đâm ra sợ hãi. Bởi vì phàm nhân không thể chịu đựng nổi những âm hưởng quá đỗi thần thánh mà vẫn toàn mạng sống.”

Roxana cất đàn vào chỗ cũ và thực hiện một cái cúi chào mang đậm phong cách cung đình phương Đông đầy tao nhã—vừa là cử chỉ bày tỏ lòng biết ơn, vừa là lời chào tạm biệt cho buổi tối hôm ấy. Glaucon không hề rời mắt khỏi nàng, cho đến khi bóng dáng nàng lướt đi khuất dạng sau tiếng tấm lụa xanh sột soạt quét qua mặt đất. Anh không hề nhận ra những ánh mắt mang đầy ẩn ý được trao đổi giữa Mardonius và Artazostra trước khi nàng rời đi.

Khi chỉ còn lại hai người đàn ông trong lều, viên cận vệ cầm cung cất tiếng hỏi.

“Thưa Prexaspes kính mến, ngài có nghĩ rằng tôi nên tạ ơn mười hai vị tổng lãnh thiên thần vì đã ban cho tôi một người em gái tuyệt trần đến thế hay không?”

“Nàng xinh đẹp đến mức tôi phải tự hỏi sao thần Zeus không mau chóng rời khỏi đỉnh Olympus để đưa nàng lên ngai vị thay cho Hera.”

Viên cận vệ cầm cung cười lớn.

“Không đâu, tôi chỉ mong muốn gả con bé cho một phàm nhân bình thường thôi. Mặc dù ở Ba Tư, ở Media, hay khắp vùng phương Đông rộng lớn này, chẳng có mấy ai mà tôi dám trao phó nó cả.” Bậc quan cận thần bật cười nhẹ nhõm hơn, “Có lẽ... tôi nên hướng ánh mắt về phía tây thì hơn.”

Glaucon không còn gặp lại Roxana vào ngày hôm sau cũng như trong suốt mấy ngày tiếp theo, nhưng trong những ngày tháng ấy, hình bóng Hermione và Athens đã phai nhạt đi rất nhiều trong tâm trí anh.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.