Vào một buổi sáng trời yên biển lặng, một ông cụ có vẻ ngoài vui vẻ lái chiếc xe ngựa hai bánh thong thả rời khỏi thành phố xưởng máy Marion, đi dọc theo con đường quê. Ông ngồi thẳng người, cao hơn mức trung bình của đàn ông, và rất gọn gàng trong trang phục của mình.
“Tôi ước gì,” ông thầm nghĩ, “những kẻ thực sự biết trân trọng một bộ trang phục đẹp và biết cách sử dụng nó cho đàng hoàng lại không quá mức nhạy cảm một cách khó chịu như vậy. Đã vậy, bản tính dở hơi của con người lại đẩy tôi vào một chuyến đi thế này — và tôi e rằng mình cũng dở hơi chẳng kém gì bọn họ, nếu không thì tôi đã chẳng làm thế này!”
Ông cụ khẽ ngân nga một câu hát và quất nhẹ dây cương vào mông con ngựa đang lầm lũi bước để giữ nhịp. Ông đi vào một khu rừng nhỏ. Ông dường như có hứng thú tươi vui và mới mẻ với nơi này. Ông ló gương mặt đỏ hồng ra khỏi bóng râm của chiếc mui xe, đảo mắt nhìn sang phải rồi sang trái. Trong đôi mắt nheo nheo của ông có một nụ cười. Khi xung quanh trước sau đều là cây cối rợp bóng, ông kéo cương dừng hẳn cỗ xe lại.
Ông lắng nghe, nheo mắt đầy vẻ dò xét qua tấm kính ở màn che phía sau xe, rồi trèo xuống. Từ chiếc hộp ở đuôi xe, ông lấy ra đủ thứ quần áo và vắt lên tay mình. Nào là một chiếc áo khoác dài, trông chưa đến nỗi mòn rách, một chiếc quần dài còn tốt, áo ghi-lê và một chiếc áo sơ mi. Ông cũng lấy ra từ chiếc hộp một đôi giày và một chiếc mũ. Với đống đồ trên tay, ông tiến ra vệ đường và bắt đầu trang hoàng cho một cột rào. Khi những bộ quần áo đã được treo lên và chiếc mũ phớt rộng vành màu đen được đội một cách nghênh ngang lên đầu cột, bất cứ ai cũng có thể thấy rằng ông cụ đang tống khứ một phần số quần áo dư thừa của chính mình. Bản thân ông cũng đang đội một chiếc mũ tương tự và mặc áo khoác dài, và cái cột được trang trí trông kỳ dị và có nét lôi thôi y hệt như người đã trang điểm cho nó.
Ông quay lại chiếc xe và tìm thấy một chiếc đồng hồ báo thức chạy bằng cót trong hộp. Ông cẩn thận lên dây cót cho nó rồi chống vào một thanh rào gần chỗ quần áo.
Trước khi ông kịp rời khỏi khu vực trưng bày để lên xe, một cỗ xe ngựa kẽo kẹt chạy tới từ khúc cua đường. Phía sau xe chở đầy những chum lọ và thùng gỗ, và người đánh xe rõ là một lão nông dân.
Lão kéo phắt cương dừng lại, rồi chào ông cụ bằng cách chạm hờ ngón tay lên vành mũ.
“Có rắc rối gì thế, thưa quan tòa?” lão niềm nở hỏi.
“Không có gì đâu,” ông cụ đáp, bước lùi ra xa chiếc cột rào đang mặc đầy quần áo.
“Đem ra phơi hả?” Lão hất ngón tay về phía đống quần áo.
“Không, để lại đây cho người ta.”
Đột nhiên ông cụ có vẻ nhớ ra điều gì khác. Ông cởI mũ ra và rút ra một tấm biển. Ông nắn lại cho phẳng rồi cắm nó vào một khe nứt trên thanh rào. Dòng chữ trên đó là: “Hãy tự nhiên lấy dùng.”
“Ông đem cho quần áo đấy à, thưa quan tòa Peterson?”
“Tôi để lại đây cho bất cứ ai muốn lấy. Anh có muốn chọn trước không, Jolson?”
“Tôi á? Không đời nào! Tôi không nhận đồ từ thiện mặc lại của bất cứ ai đâu, thưa quan tòa. Nếu hỏi mà không sợ thất lễ, thì sao ông lại đem cho quần áo của mình theo cách này?”
“Tôi nghĩ anh vừa trả lời câu hỏi đó rồi đấy, Jolson. Tôi vừa mời anh nhận những bộ quần áo này. Và cái mũi của anh liềnếch lên trời. Những người khác cũng hành xử y như vậy trong quá khứ khi tôi đề nghị tặng ai đó một bộ đồ đẹp. Tôi không muốn làm tổn thương tình cảm của người khác. Tôi cũng chẳng muốn tình cảm của chính mình bị tổn thương. Thế nên, cứ để ai nấy tự lấy khi không có ai nhìn thấy.”
“Tôi sẽ lấy chiếc đồng hồ báo thức, nếu ông đồng ý,” Jolson lên tiếng. “Nó sẽ giúp tôi mò đầu dậy khỏi giường vào giờ vắt sữa.”
“Không, anh không thể lấy chiếc đồng hồ đó đâu, Jolson. Tôi đã táy máy sửa nó để cứ nửa tiếng nó lại kêu rừ rừ một lần. Nó sẽ thu hút sự chú ý vào đống quần áo. Anh thấy đấy, khá nhiều người vội vã qua đời mà chẳng thèm ngó ngàng sang phải hay sang trái, và thế là họ bỏ lỡ biết bao cơ hội.”
Jolson tặc lưỡi thúc ngựa, đánh xe lục cục bỏ đi dọc con đường, miệng lầm bầm những lời khó chịu.
Ông cụ, với vẻ điệu bộ của một kẻ đã thỏa mãn hoài bão từ thiện của mình, trèo lên xe và đi theo sau người nông dân.
Cơn gió lốc đùa nghịch với tà áo khoác dài, và ống quần cũng lắc lư nhún nhảy theo một điệu nhảy nhỏ nhặt nhạnh như thể một chút tinh quái của ông cụ vẫn còn vương vấn lại trên những món đồ ông đã vứt đi.
Có vài người qua lại nữa trước khi nửa tiếng đồng hồ tiếp theo trôi qua.
Chiếc quần dài bỗng đá thốc lên đầy hào hứng khi một đôi trẻ lái xe ngựa đi ngang qua. Cô gái rất xinh đẹp, và sự đồng hành của cô có lẽ rất xứng đáng với cả trang phục của một vị quan tòa. Nhưng chàng trai và cô gái lại mải mê với đối phương đến mức quên hết xung quanh, khiến chiếc quần cứ đá đẩu đá đít còn chiếc áo khoác dài thì đong đưa vô ích.
Chiếc xe đẩy của một người bán hàng rong đi qua rất chậm, nhưng người đánh xe chẳng thèm ngẩng đầu lên khỏi tờ giấy đầy những con số.
Vẫn có những người khác mà trang phục của quan tòa lặng lẽ ngỏ lời mời gọi, nhưng chẳng một ai thèm liếc nhìn về phía đó và chiếc đồng hồ thì kín đáo im lìm. Gió lặng dần, chiếc quần và chiếc áo treo lủng lẳng với một vẻ bơ vơ, nhớ nhà và đầy khao khát. Người ta có thể tưởng chừng như chúng đang cố giấu mình đi khi có người tiếp theo xuất hiện, vì chúng đứng im lặng quá. Đó không phải là một kẻ hấp dẫn cho lắm — không phải là một ông chủ mới huy hoàng như người ta có thể mong đợi được bộ đồ của quan tòa chào đón.
Hắn ta béo phì mập mạp và chiếc quần của chính hắn được buộc túm quanh cái bụng phệ bằng một sợi dây nịt tơi tả; chiếc áo khoác bạc màu vì nắng, một chiếc mũ len phong cách Scotland bám đầy dầu mỡ bị kéo lệch sang một bên đầu với phần vành sụp xuống tận tai, và hắn lê lết trên đôi giày tồi tàn đến thảm hại. Quả thực, một nhân vật thật khó coi và kém lành mạnh làm sao khi được khoác lên mình y phục của một vị quan tòa! Nhưng đúng lúc đó, với cái vẻ trớ trêu chết tiệt của những vật vô tri vô giác, chiếc đồng hồ bỗng reo vang báo thức.
Tên lang thang — không thể nhầm lẫn được cái dáng đi và cái vẻ ngoài đậm chất kẻ dọc đường ấy — giật nảy người quay phắt lại, xác định nguồn gốc tiếng động, trừng mắt nhìn cái cột, rồi hớt hải chạy sầm tới đó. Hắn ngoái nhìn chắc chắn không có ai xung quanh. Hắn vơ sạch mọi thứ vào lòng, trèo qua hàng rào và ba chân bốn cẳng chạy tót vào rừng. Hắn cứ liên tục ngoái cổ nhìn lại phía sau như thể sợ bị đuổi theo. Nhìn cái vẻ mặt hốt hoảng của hắn, rõ ràng là hắn đang rất lúng túng và bị ám ảnh bởi nỗi sợ bứt rứt rằng mình đang ăn cắp số tài sản này. Vì quá chú ý đến đằng sau nên hắn chẳng màng để ý đến đằng trước, và thế là hắn lao bổ xuống một cái thung lũng nhỏ trũng sâu giữa những tán cây rồi khựng lại chết sững, bởi hắn vừa đụng độ một người đàn ông.
Đó là kẻ tự gọi mình là Walker Farr.
Người đàn ông đang quỳ bên một đống lửa nhỏ, nướng bánh mì trên đầu một cành cây sồi. Tay hắn cầm cành cây còn tay kia cầm một cuốn sách mở rộng. Hắn ngẩng lên mà không đổi tư thế khi tên lang thang lao sầm từ sườn đồi xuống.
Gã đàn ông dưới hố sâu này có đôi mắt nâu mở lớn. Đôi mắt ấy không chỉ mở to vì ngạc nhiên trước cuộc xâm nhập bất thình lình này — ai cũng có thể thấy bản chất chúng đã vốn như thế rồi — một đôi mắt vô cùng tinh tường và quan sát sắc bén. Tóc hắn nâu y như màu mắt; chiếc mũ của hắn nằm lăn lóc trên mặt đất bên cạnh.
Nhưng tên lang thang nào có bận tâm đến sức hút của kẻ lạ mặt này; hắn còn bận hơn trong việc săm soi tìm kiếm những sơ hở.
Hắn đã sợ hãi khi thoáng thấy gã đàn ông — bởi tên lang thang mang sẵn sự rụt rè của giống loài hắn; giờ thì hắn bắt đầu thấy phấn chấn trở lại. Kẻ lạ mặt dưới hố sâu này lâu ngày chưa cạo râu, quần áo lôi thôi lếch thếch, giày dép hằn rõ dấu vết của một cuộc hành trình dài ngày. Hắn đang nấu nướng ngoài trời — dấu hiệu rõ mồn một của một kẻ rày đây mai đó.
“Này bạn hiền, chào nhé,” tên lang thang buông lời cợt nhả, chuyển từ nỗi sợ hãi sang phấn khích tột độ với cơn hưng cảm của những kẻ có bản chất yếu đuối. “Tôi thực sự rất vui khi được gặp lại một người quen cũ thuộc hàng cốt cán. Lúc ngã nhào xuống cái đồi kia, tôi cứ tưởng mình rơi vào cái xó xỉnh quái quỷ nào cơ chứ. Nhưng mà ổn cả chứ, hở? Tôi cũng đang trên đường lang thang đây. Tên tôi là Boston Fat, và biệt hiệu của tôi là cái nồi đậu.”
Đôi mắt nâu chậm rãi chuyển từ khuôn mặt đang nhe nhởn cười sang đống quần áo chất đống trong ngực gã kia. Đó là một ánh nhìn lạnh lùng, phán xét và hoàn toàn không có chút hài hước nào.
“Tôi không làm ăn trong giờ nghỉ trưa của mình, anh bạn ạ. Tôi chưa có nhu cầu đổi thợ may vào lúc này và tôi cũng không mua tài sản trộm cắp.”
Sự lạnh lùng của hắn chẳng hề làm giảm đi bản tính xởi lờ của đối phương.
“Ồ, thế thì có sao đâu, lão bạn già. Tôi có phải kẻ trộm đâu. Mấy bộ quần áo này được treo trên một cái cột rào ngay khúc trên đường kia kìa. Chắc chúng chỉ đang đợi kẻ đến trước thôi mà.”
Hắn quăng đôi giày xuống, đội ngược chiếc mũ lên đầu và bắt đầu mân mê đống quần áo. Tấm biển rơi ra từ các nếp gấp của chiếc áo khoác, và người đàn ông bên đống lửa rướn cổ lên đọc to: “Hãy tự nhiên lấy dùng.”
“Ồ, tờ giấy ghi thế hả? Tôi chưa từng học đọc bất kỳ ngôn ngữ hiện đại nào cả,” Boston Fat tâm sự. “Tôi đã quá bận tâm với những thứ ngôn ngữ chết ngắc ở Harvard rồi. Thôi nào chiến hữu, giờ thì chính mắt anh có thể thấy rằng tôi không hề ăn cắp đống mồi ngon cho mọt ăn này nhé. Có tấm biển sờ sờ ngay trên đó ghi là: ‘Hãy tự nhiên lấy dùng.’ Nó ở đó đấy, cho dù tôi có đọc được quái đâu. Bản năng mách bảo tôi rằng mấy món đồ đó là dành cho tôi. Thế là tôi vơ lấy và chui vào đây.”
Hắn rũ từng món quần áo ra rồi treo lên một bụi cây, miệng lải nhải đưa ra những lời bình phẩm. Hắn đặt chiếc đồng hồ đang tích tắc lên một khúc gỗ.
Gã đàn ông bên đống lửa nhét một miếng thịt vào giữa hai lát bánh mì nướng rồi bắt đầu ăn. Tay hắn vẫn cầm cuốn sách mở nhưng đôi mắt thì dán chặt vào tên lang thang.
Tên lang thang đang lớn tiếng định giá món hời của mình, trưng ra cái khôn lỏi của kẻ từng đi xin ăn khắp các cửa sau để đem bán lại cho các cửa hàng đồ cũ.
“Một kẻ ăn mày,” gã bên đống lửa nhận xét. Hắn nói tiếp bằng giọng lớn tiếng, rõ ràng là đang mỉa mai khoe mẽ vốn từ vựng của mình, rõ là đang tận hưởng sự kinh ngạc mà lối dùng từ của hắn gây ra. “Cái hồn của một con mèo hoang lúc nửa đêm, cái khẩu vị của một con linh cẩu sục sạo! Tên trộm béo mập mà ta thấy đang cắm cổ chạy thục mạng vào rừng! Khi những kẻ như thế này bắt đầu đổ ra đường cái quan, thì phong vị hiệp sĩ giang hồ đã vĩnh viễn biến khỏi mặt đất này. Bọn ti tiện mượn cái ý tưởng lớn lao về đời sống lang thang vô lo vô nghĩ rồi bôi nhọ nó, cũng giống như bọn hầu bàn mượn bộ đồ dạ hội của quý tộc làm đồng phục tôi tớ, hay mấy tên đánh xe say xỉn lại đội cái mũ mà một vị công tước dùng để đi dự đám cưới! Cần gì phải chứng minh thuyết tiến hóa bằng cách đi tìm một kẻ có đuôi cơ chứ? Mọi hành vi của bản tính con người chắc chắn sẽ thuyết phục bất kỳ ai biết suy nghĩ rằng chúng ta thực sự xuất loài từ loài vượn!”
Tên lang thang ngơ ngác trân trân nhìn gã người dùng thứ ngôn ngữ kỳ cục này một lúc — rồi lầm bầm chửi thề và lắc đầu.
Hắn bắt đầu ướm thử chiếc áo khoác dài, chẳng thèm đếm xỉa gì đến bài độc thoại của kẻ kia. Chiếc áo chật đến mức nực cười; vạt áo chẳng thể chạm vào nhau qua cái bụng phệ; tà áo lê thết chạm cả gót chân gã béo.
“Nếu tôi mà đứng sẵn ở đó khi một cơn lốc xoáy ở Kansas thổi bay tung tóe một cửa hàng quần áo thì chắc chỉ có mấy cỡ đồ trẻ con là rơi trúng chỗ tôi đứng thôi,” tên lang thang lầm bầm, vừa cố rút tay ra khỏi ống áo.
“Chiếc áo rõ ràng được may cho một quý ômg,” gã bên đống lửa tuyên bố. “Cho nên nó chẳng có giá trị gì với anh cả.”
Boston Fat liếc nhìn kẻ lạ mặt với một tia nhìn hung ác trong đôi mắt híp tịt, y như cách một con heo nhìn kẻ vừa nện một gậy vào mõm nó.
“Chào buổi chiều nhé, giáo sư,” hắn mỉa mai.
“Lại thế nữa rồi — tự lòi cái đuôi qua chính cái miệng của anh đấy à, hỡi gã Falstaff xơ xác và lếch thếch kia?”
“Lại bắt đầu rồi đấy — toàn dùng từ dài cả thước — những từ đủ sức làm gãy răng một người tử tế! Anh chính là một trong đám công tử bột đại học rảnh rỗi lang thang ra đường để thu thập chất liệu viết sách chứ gì. Tôi lạ gì cái giống các anh nữa. Và cái lũ các anh đang ngày càng mọc lên nhan nhản, bôi tro trát trấu vào cái nghề giang hồ chân chính của tụi tôi. Dừng lại đi và quay về trường đại học mà học đi. Đừng có lấy tôi ra làm chất liệu cho cuốn sách của anh.”
Đúng là một màn ăn miếng trả miếng những lời lăng mạ đầy cay độc!
Gã đàn ông bên đống lửa ngả người chống tay ra sau. Hắn nhai nốt miếng ăn trong miệng, thản nhiên nhìn tên lang thang bằng ánh mắt lờ đờ quét từ đỉnh đầu xuống mũi giày rách rưới của hắn.
“Thứ duy nhất ở một cuốn sách mà anh có thể đáng giá,” hắn nói, “chính là làm vật liệu để đóng bìa cho một tập sách loại này.” Hắn vỗ nhẹ cuốn sách trên lòng bàn tay. “Bộ xương của anh có thể dùng làm lớp bìa đấy. Nó được đóng bằng da lợn mà.”
Tên lang thang ré lên một tiếng chửi thề bằng giọng giả thanh đặc trưng của những kẻ yếu đuối và nhão nhoét, rồi bước lên một bước. Gã bên đống lửa liền vùng đứng dậy, đứng thẳng người. Hắn cao lớn, và đôi mắt nâu của hắn đủ sức thay lời muốn nói, uy hiếp kẻ khác còn hơn mọi lời đe dọa hay gân cổ quát tháo. Tên lang thang dời ánh mắt khỏi đôi mắt ấy và lùi lại.
“Nếu như tôi không bị tống giam trong cái nhà tù ngập bánh ngọt suốt cả mùa đông ở miền Bắc, và mọi sức lực bị vắt kiệt đi,” hắn rên rỉ, “thì đố anh dám gọi tôi là con lợn mà bình an vô sự bước đi thế đấy.”
“Kẻ nào xông vào lãnh địa của một quý ông đang dùng bữa thì đừng có mong nhận được lời khen,” vị khách lạ tuyên bố.
“Anh không phải là kẻ lang thang — không phải thứ thật hiệu,” Boston Fat gầm gừ.
Đôi mắt Farr ánh lên; hắn mỉm cười; hắn tiếp tục giở trò cợt nhả châm biếm, dùng thứ ngôn ngữ đánh đố để trêu ngươi gã vô học này:
“Lại thêm một minh chứng cho sự kém cỏi của anh nữa đấy, bạn béo ạ. Chỉ vì tôi không nói thứ tiếng lóng giang hồ với anh, mà anh tưởng lầm tôi là một vị giáo sư đại học cải trang à. Anh chẳng phải kẻ lang thang đích thực nào sất. Anh chỉ là một tên ăn bám, một kẻ lêu lổng, một tên trộm vặt vãnh. Anh chưa từng đi quá hai trăm dặm khỏi Hoboken — cái thủ phủ của đám lang thang vô gia cư đâu. Anh đã bao giờ dấn thân vào con đường mòn cỏ dại, lội bộ trên tuyến đường sữa-và-mật từ Ogden băng qua xứ sở Mormon, bám theo tàu tốc hành Xuyên lục địa, hay nhảy tàu chui trên chuyến tàu tốc hành của giới triệu phú chưa? Hả?”
Tên lang thang gầm ghè chớp mắt đờ đẫn.
“Hay là anh từng phiêu lưu trên những thanh xà gầm xe tải hàng Wagner, ném đá vào đội ngũ nhân viên tàu lửa Fox, hay tẩn cho một trận tơi bời khói lửa khi tên áp tải toa xe cố đẩy anh khỏi một cồng-đô-la?”
“Tôi cóc hiểu anh đang sủa cái quái gì,” gã béo mập mỉa mai.
“Chắc chắn là vậy rồi, bởi anh đâu phải là một con người thực thụ của những cung đường. Anh đang làm ô uế cái tên du mục, anh đang bôi nhọ một nghề nghiệp cổ xưa. Tôi dám cá là anh còn chẳng biết Ishmael là ai.”
“Ai bảo là tôi không biết?”
“Đâu phải tôi, vì tôi không phải kẻ nịnh bợ. Tôi sẽ làm theo gương kẻ từng đem ngọc trai quăng cho bầy lợn — tôi sẽ quăng cho anh một viên ngọc trai trích từ chính những vần thơ của tôi đây. Anh cứ việc nghe. Nó lọt qua tai anh, thế là hết. Anh chẳng thể làm vấy bẩn nó bằng việc nuốt lấy nó đâu, thế nên tôi cứ đọc lại để tự giải trí, để làm tươi mới trí nhớ của mình vậy:
Chẳng màng ngày mai, chẳng bận âu lo muộn phiền ngày tháng;
Miếng ăn xin được, chuyến tàu nhảy vọt, bám lấy thanh sắt và lên đường!
Trò đời tranh đoạt vàng son, ta nào thèm nghĩ suy bận lòng.
Cùng anh, ta sở hữu vòm trời xanh thẳm — phần không khí trong lành Chúa ban.
Một đồng lẻ lót tay qua mặt luật pháp, một đoạn ống cao su,
Để làm dịu vết xước do khung sắt tàu hỏa, chút quần áo rách ta nhận phần,
Và cả thế giới rộng lớn thuộc về ta — danh xưng được định đoạt bởi lẽ phải —
Bằng văn tự của nhân loại trao cho dòng giống du mục mang vết nhơ dòng dõi Ishmael.
Kẻ từ chốn hoang vu bụi cây gai, kẻ từ miền đất cam quýt,
Kẻ từ xứ sở của Chúa, bám đầy bụi đất, rách rưới và rám nắng.
Chúng ta là ai? Thật vô ích khi kể cho anh nghe — anh sẽ chẳng tài nào hiểu nổi.
Đến rồi đi,
Xuôi ngược muôn nơi,
Đội quân của lão phụ thân Ishmael.”
Hắn ngả người ra đằng sau cười lớn vào cái mặt đang nghệt ra của tên lang thang.
“Nào, câu trả lời là gì thế hả?” Boston Fat khinh khỉnh.
Gã kia vẫn tiếp tục nói, ý cười lấp lánh trong mắt, rõ ràng là đang vô cùng tận hưởng trò đùa cợt ngôn từ này.
“Tôi e rằng mình không thể phí phạm thời gian và hơi sức với anh để cố gắng giải đáp câu đố của muôn đời, để giải thích cái cơn khát dịch chuyển đã thúc đẩy các bộ tộc rời khỏi cái nôi Aryan từ thuở khai sinh các giống loài, hỡi cái nồi đậu mập mạp của tôi ơi. Cặp mắt vô hồn và cái hộp sọ dẹt lép của anh gợi lên một sự bất tài đáng sợ trong việc tiếp thu tri thức đấy.”
“Tôi chả hiểu anh đang ba hoa cái quái gì. Nhưng có một điều tôi thừa biết. Tôi sẽ mách nước cho cái nhà thương điên gần nhất trên đường tới đây rằng tôi vừa gặp một thằng đang hâm dở đi ngược về hướng Bắc.” Tên lang thang thu gom mống quần áo từ mấy bụi cây, quỳ sụp xuống và bắt đầu gấp chúng lại.
Gã mắt nâu bước tới, đặt cuốn sách nhỏ xuống, cầm lấy chiếc áo khoác dài và khoác lên người, mặc cho gã béo đang ré lên phản đối. Bất chấp sự phản đối ấy với thái độ thản nhiên, Farr cài khuyu áo lại, vuốt phẳng phiu, rồi ưỡn ngực thẳng người.
“Anh có thể thấy rằng nó được may cho một quý ông và nó vừa vặn với một quý ông, bạn thùng phuy mỡ của tôi ạ.”
“Cởi cái áo đó ra và đưa đây mau, anh tưởng anh làm trò gì đấy,” tên lang thang hét tướng lên. “Đó là áo của tôi cơ mà.”
“Rõ như ban ngày là nó không phải áo của anh khi anh xỏ tay vào thử.”
“Tôi bảo là tôi tìm thấy nó treo trên một cái cột rào ngay khúc trên kia kìa.”
“Đó chỉ là tình cờ thôi, và đáng lẽ anh nên đi lướt qua, để lại những món đồ cho người có vóc dáng xứng đáng mặc chúng. Anh đang minh họa cho lời nguyền của xã hội hiện đại đấy. Con người ta bị sự tham lam vơ vét che mờ lý trí đến mức cứ vớ lấy cả những thứ chẳng vừa vặn chỉ vì thèm thuồng sở hữu.”
“Tôi đã nhịn nhục mấy lời lăng mạ của anh từ lúc tôi bước chân đến đây rồi đấy, nhưng có chết tôi cũng đéo chịu để anh cướp đoạt tài sản của tôi đâu.”
Gã mắt nâu mỉm cười. Toàn bộ điệu bộ của hắn cho thấy hắn càng lúc càng vô cùng đắc ý với cái thói dài dòng của mình — thứ ngôn ngữ hoa mỹ vừa làm tên lang thang phát điên vừa làm hắn thấy hoang mang tột độ.
“Bằng chứng bổ sung cho bản tính bủn xỉn của anh: một người quý ông phẫn nộ trước một lời lăng mạ tước đoạt danh tiết của mình còn nhanh hơn nhiều so với việc phẫn nộ trước hành vi chỉ đánh cắp tài sản trần trụi. Trong cuốn sách nhỏ mà tôi vừa đặt xuống kia, Shakespeare đã bàn rất sắc bén về vấn đề đó: ‘Kẻ nào cướp túi tiền của tôi là cướp đi rác rưởi . . . nhưng kẻ nào giật khỏi tay tôi danh dự tốt đẹp mới là kẻ cướp đi của tôi . . . và thực sự biến tôi thành kẻ trắng tay’.”
Tên lang thang dừng việc gấp đồ lại, luống cuống và nặng nhọc đứng phắt dậy.
“Cởi cái áo đó ra và đưa đây mau. Nó là của tôi — tôi tìm thấy nó. Tôi có thể chịu đựng được cái thói ba hoa của một thằng điên, nhưng khi có đứa nào dám giật đoạt thứ thuộc về mình thì tôi khô máu với nó.”
“Cho phép tôi hỏi anh định làm gì với những y phục của một quý ông vô tình lọt vào tay anh thế?”
“Tôi đem bán tiệm đồ cũ gần nhất chứ làm gì, hỏi hay thật.”
“Hệt như cách anh bán bộ đồ Chủ nhật mà anh ăn cắp từ một người nghèo! Bạn tôi ơi, tôi đã từng bị sỉ nhục vào ngày hôm đó cũng chỉ vì anh đấy. Anh còn nợ tôi một món nợ đấy!”
Đúng lúc đó, chiếc đồng hồ báo thức lại reo lên một tiếng ngắn ngủi.
Cho đến khoảnh khắc đó, phong thái của gã mắt nâu vẫn chỉ là sự trêu chọc, là cái ý thích tinh quái muốn hành hạ và làm rối trí bằng thứ ngôn ngữ cách điệu đối với kẻ lạ mặt vô học vừa xông vào phá bĩnh hắn.
Hắn trừng trừng nhìn chiếc đồng hồ, cúi xuống nhìn chiếc áo khoác dài, rồi đảo mắt đánh giá những món quần áo còn lại. Hắn cau mày như thể vừa chìm vào suy tư. Sự nghiêm túc bùng cháy trong đôi mắt nâu. Tiếng kim loại va chạm leng keng ấy dường như đã thay đổi tâm trạng hắn một cách đến kinh ngạc.
“Hả, có lẽ lại là buổi sáng rồi, ôi tâm hồn ta!” hắn thốt lên với một cảm xúc dồn nén mãnh liệt trong giọng nói khiến tên lang thang há hốc miệng trợn tròn mắt nhìn hắn, y như cách người ta nhìn một kẻ bỗng dưng phát điên.
“Ta sẽ nói chuyện với ngươi dù ngươi có hiểu nổi hay không! Thuở xửa thuở xưa, thế giới này được cai trị bởi những con người bị dẫn lối bởi điềm gở điềm lành. Khi ấy con người không tự cao tự đại đến thế. Tâm hồn họ gần gũi hơn với bản chất vạn vật. Họ không phải là một khối kiêu căng ngạo mạn được bọc trong cái lớp vỏ tự phụ chắc nịch. Họ sẵn sàng lắng nghe sự thật. Họ tìm kiếm những điềm báo từ thiên nhiên chân chính — họ để số phận dẫn đường. Họ không phải là con lợn lao đầu vào cây gậy thúc của hoàn cảnh, phớt lờ những cánh tay giơ cao của Nữ thần May mắn đang vẫy gọi họ về con đường đúng đắn. Họ giản dị hơn — họ chân thật hơn. Họ cảm thấy mình là một phần của tự nhiên thay vì làm chủ tự nhiên. Chà, ta đã trở nên gần gũi hơn với tự nhiên đích thực kể từ khi sống giữa trời mây này. Ta đã hòa nhịp với linh hồn của vạn vật. Ta không còn bị cách ly nữa. Ta không phải là kẻ cải hóa, ta đơn giản là đã sẵn sàng một lần nữa để nắm bắt Cơ hội. Thế nên ngươi nghĩ ta điên rồi chứ gì?”
“Bọn chúng nhốt một thằng hâm trong cái phòng lót đệm ở nhà tù nơi tôi ở mùa đông năm ngoái và nó cũng chẳng có biểu hiện quái nào tệ hơn anh đâu,” tên lang thang buông lời.
“Xét dưới góc độ một kẻ quan sát vô tích sự thì có lẽ ngươi nói đúng đấy. Ta có lẽ là một kẻ cuồng loạn. Ta đang cảm thấy y hệt như thế vào lúc này đây. Đúng là điên rồ khi cứ muốn trèo ngược trở lại cái nấc thang xã hội mà ta từng bị đá văng xuống. Nhưng khi ta quỳ gối ở đống lửa nhỏ kia, trước khi ngươi đến, ngọn lửa khao khát lại bùng lên trong ta — và ta cứ ngỡ mọi khát khao kiểu đó đã chết ngóm trong mình rồi. Chỉ một khoảnh khắc sau, y phục của một quý ông xuất hiện, được mang trong vòng tay của một kẻ khốn nạn chẳng thể nào mặc vừa chúng. Cơ hội đã đến. Rồi tiếng chuông reo của chiếc đồng hồ kia phát tín hiệu báo Cơ hội — và lồng ngực ta nhói lên một nhịp như thể tâm hồn đang ngủ mê của ta vừa trở mình chớp mắt trước ánh nắng hy vọng và thì thầm rằng, ‘Lại là buổi nghi rồi đấy.’ Điềm báo là thế đấy, khi người ta sẵn sàng lắng nghe.”
Hắn nghiến chặt hàm, nắm chặt hai tay thành quyền, và qua nét mặt lẫn tư thế, hắn cho thấy mình đã đưa ra một quyết định hệ trọng. Hắn tiến sát lại chỗ tên lang thang. “Ta thừa nhận, hỡi gã Đầu-đậu ạ, rằng ngươi đã bắt gặp Cơ hội trước ta vào ngày hôm nay. Nhưng hãy trả lời ta một lần nữa xem, ngươi còn định dùng Cơ hội nói trên vào việc gì khác ngoài việc chạy thầm đến tiệm đồ cũ để đổi lấy vài xu lẻ thứ có thể giúp làm nên một con người thực thụ nữa không?”
“Chúng là của tôi và tôi cứ bán đấy,” gã lang thang bướng bỉnh đáp lại.
“Ta lấy làm tiếc vì ngươi chẳng có chút khôn ngoan nào — chẳng có năng lực để thấu hiểu. Bằng không, ngươi đã sẵn sàng dâng những món y phục này vào tay ta và chúc ta thượng lộ bình an rồi. Ngươi chẳng hiểu gì sảng sảng hết, phải không?”
“Này nghe đây, anh đang cố giật cướp mấy món đồ này của tôi đấy phỏng?”
“Thật quá ư phí hoài hơi sức khi phải giải thích cho ngươi hiểu rằng Chúa trời định đoạt những món đồ này là dành cho ta. Ngươi không đủ tinh tế để thấu hiểu những lý lẽ sâu xa. Ta không thể cho ngươi thấy rằng, chỉ vì dăm ba đồng xu lẻ, thứ chỉ mang lại cho ngươi thứ tác hại rẻ tiền từ những chai rượu whisky hay bia bọt, ngươi có thể đang phá hủy tương lai của một tâm hồn đang thức tỉnh. Ta chỉ nói ngắn gọn rằng ta sẽ giữ lại số quần áo này cho chính mình. Có lẽ ngươi hiểu được tuyên bố rõ ràng đó đấy!” Đôi mắt nâu trở nên quả quyết và sắc bén. “Ngay cả khi có tiền trong tay thì ta cũng chẳng đời nào trả tiền cho ngươi vì những món đồ này. Tiền bạc đối với thể loại như ngươi chẳng đem lại điều gì tốt đẹp; nó chỉ rước họa vào thân thôi. Hỡi Boston Fat thân mến của ta ơi, ta không thể cho phép ngươi làm tổn hại đến tương lai của ta — thứ mà linh hồn ta mách bảo rằng nó đang được gói gọn trong những món đồ bằng len vải rách rưới kia.” Hắn búng tay một cái rồi chìa tay ra. “Đưa ta chiếc mũ đó rồi xéo đi lo việc của ngươi đi.”
Tên lang thang lùi lại. Đôi mắt híp lại của hắn bộc lộ cả nỗi sợ hãi lẫn sự nổi loạn. Hơn bao giờ hết, trông hắn giống hệt một con lợn đang bị dồn vào chân tường. Chiếc mũ đen trùm lên chiếc mũ len bám đầy dầu mỡ, với vẻ đứng đắn của nó càng làm cho bộ dạng tồi tàn tổng thể của hắn trở nên kỳ quái, tạo thêm một nét lố bịch cho khung cảnh giữa hai người đàn ông.
“Giờ thì ngươi nghĩ mình là kẻ bị hại chứ gì,” gã mắt nâu bình thản tiếp lời. “Ngươi chẳng có đủ thông minh để tính toán cho hoàn cảnh của chính ta. Ngươi ấm ức vì ngươi mất đi vài đồng xu lẻ — nhưng ta có thể mất đi tất cả những gì làm nên hương vị cuộc sống nếu ta không nắm bắt cơ hội này.” Cả giọng điệu cợt nhả lẫn vẻ nghiêm túc đều biến mất khỏi giọng nói của hắn. Hắn trở nên vô cùng thực tế. “Ta nói cho rõ ràng nhé. Cút đi lo việc của ngươi đi, gã béo, bằng không ta sẽ tiến hành nện cho ngươi nhừ tử rồi đá văng ngươi đi vài thước trên con đường hạnh phúc của ngươi đấy. Ngươi hoàn toàn xứng đáng bị thế vì tội trộm cắp — ta đã phải làm thợ hồ suốt hai tuần chỉ vì cái thấu kính của ngươi đấy. Ngươi hiểu ý ta chứ?”
Để đáp lại, tên lang thang tức giận lao vào đá thốc một cú.
Chỉ bằng một tay, kẻ lạ mặt giật phăng chiếc mũ khỏi đầu tên lang thang và ném nó đến một góc an toàn. Tay kia hắn chộp lấy cổ chân kẻ tấn công trước khi bàn chân kịp chạm tới người mình, và chỉ với một cú giật, hắn vật ngửa tên lang thang nằm rạp xuống đất.
Nạn nhân ngã xuống bất lực đến mức cú va đập khiến hắn hộc cả hơi lẫn một tiếng rên rỉ.
Gã mắt nâu cho đến lúc đó vẫn di chuyển và nói năng với vẻ lờ đờ thong thả. Thế nhưng khi tóm lấy bàn chân kia, hắn hành động với tốc độ và sự chuẩn xác như một cái bẫy sắt. Hắn lập tức chồm lên người nạn nhân, ngồi phịch lên cái bụng đang phơi ra, và bắt đầu giáng đấm vào mặt hắn. Hắn nện tơi bời vào cặp má nhão nhoét và giã những cú đấm đầy uy lực vào chiếc cổ mềm nhũn. Hắn dũi đầu gối vào cặp sườn mập mạp và nhân đôi những cú đòn khi tên lang thang vùng vẫy. Sau khi tiếng rên rỉ giả thanh khẩn nài vang lên hồi lâu, kẻ tấn công cuối cùng cũng chịu buông tha.
“Đã khuất phục chưa hả?” hắn hỏi.
“Rồi,” tên lang thang rên rỉ.
“Ngươi đã ăn cắp — theo cái cách bẩn thỉu nhất. Ta đã cho ngươi một trận vì tội đó. Giờ thì ngươi sẽ ngoan ngoãn chịu trận một thời gian chứ hả?”
“Rồi.”
“Ngươi sẽ cút đi lo việc của mình chứ, không lải nhải mấy câu nhảm nhí về đống quần áo đó nữa chứ?”
“Rồi.”
“Ngươi có hối hận vì đã ăn cắp của người phụ nữ tốt bụng đã cho ngươi ăn không?”
“Rồi.”
Gã mắt nâu lật người đứng dậy khỏi nạn nhân đang nằm rạp dưới đất, hệt như một kỵ sĩ vừa xuống ngựa, còn tên lang thang thì lồm cồm ngồi dậy, vừa rên rỉ vừa xoa xoa cái mặt tím bầm.
“Tôi chưa bao giờ gặp may mắn cả, chưa bao giờ,” hắn sụt sùi. “Tôi bị đá đỗng ra khỏi nhà tù trước khi thời tiết kịp ấm lên, tôi bị tống vào đó vào mùa thu ngoái ngay khi mùa thu Ấn Độ vừa bắt đầu. Khi mấy thằng khác xin được bánh ngọt thì tôi chỉ nhận được khoai tây lạnh và bánh mì ngô. Tôi phải đi bộ trong khi mấy đứa khác được ngồi xe. Tôi quá béo để mà leo lên mấy chiếc xe tải và thế là bọn chúng lúc nào cũng tóm được tôi khi đang bám toa chui. Tôi cứ tiếp tục đi bộ thôi. Cả đời tôi chưa từng gặp may lần nào.”
Hắn lật người chống tay chân xuống đất rồi đứng thẳng dậy. Hắn bắt đầu lê bước bỏ đi, hoàn toàn suy sụp, rên rỉ như một con nhím gai, than khóc cho vận hạn của mình.
“Vận hạn á!” gã mắt nâu hét với theo bóng hắn bằng giọng vừa phẫn nộ vừa tiếc nuối. “Ngươi biết cái quái gì về vận hạn hả, cái thùng mỡ di động kia? Một thứ như ngươi gặp may là khi được tống vào nhà tù mà ở đó chẳng có xưởng làm việc nào cả. Gặp may hơn thế còn là quá xa xỉ đối với ngươi đấy. Đứng lại một phút! Quay đầu lại nhìn ta mau.”
Tên lang thang tuân lệnh. Kẻ lạ mặt nện một cú đấm bằng bàn tay cứng ngắc lên ngực chính mình.
“Ta bảo nhìn ta cơ mà! Dù tao từng là cái thối tha gì đi nữa! Nhưng ngày hôm nay ngươi lại bắt gặp ta đang nấu thịt hun khói trên ba khúc củi và sẵn sàng chiến đấu vì bộ quần áo rách của kẻ khác. Và trong khoảng thời gian giữa những lúc đó, ta đã lội bộ qua mọi con đường mà bọn lang thang biết đến giữa hai đại dương. Giờ thì cút đi mà ngẫm nghĩ về điều đó đi và ngậm chặt cái mõm lại khi nói về vận may! Ta bảo cút đi! Đừng có ngoái đầu lại. Quên chuyện từng gặp ta đi.”
Hắn vung tay giận dữ và bước tới hai bước như thể muốn dùng nắm đấm để củng cố cho mệnh lệnh của mình.
Tên lang thang cắm cổ rảo bước với tốc độ nhanh. Hắn hớt hải chạy ra đường cái và bắt đầu cuộc hành hương lê lết của mình, vừa xoa cái mặt đang đau buốt vừa lầm bầm một mình.