Godfrey Morgan: Bí Ẩn Xứ California

Lượt đọc: 173 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Trong Đó Godfrey Hành Động Như Bất Kỳ Kẻ Đắm Tàu Nào Khác Cũng Sẽ Làm Trong Hoàn Cảnh Ấy.

❊ ❊ ❊

Đêm trôi qua bình yên vô sự. Hai người, hoàn toàn kiệt sức vì xúc động và mệt mỏi, đã ngủ say sưa như thể họ đang ở trong căn phòng thoải mái nhất của dinh thự trên phố Montgomery.

Vào sáng hôm sau, ngày 27 tháng Sáu, ngay từ những tia nắng đầu tiên của bình minh, tiếng gáy của chú gà trống đã đánh thức họ.

Godfrey lập tức nhận ra mình đang ở đâu, nhưng Tartlet phải dụi mắt và vươn vai một hồi lâu mới định thần lại được.

"Bữa sáng nay sẽ giống bữa tối hôm qua chứ?" đó là nhận xét đầu tiên của ông ta.

"Tôi e là vậy," Godfrey đáp. "Nhưng tôi hy vọng chiều nay chúng ta sẽ được ăn ngon hơn."

Vị giáo sư không thể kìm được một cái nhăn mặt đầy ngụ ý. Trà và bánh mì kẹp từng được mang đến cho ông ta khi thức giấc đâu rồi? Làm sao ông ta có thể chờ đợi cho đến giờ ăn sáng – mà tiếng chuông báo hiệu có lẽ chẳng bao giờ vang lên – nếu thiếu đi bữa lót dạ chuẩn bị ấy chứ?

Nhưng họ buộc phải bắt đầu lên đường. Godfrey cảm thấy trách nhiệm đang đè nặng lên vai mình, chỉ một mình anh mà thôi, bởi vì anh chẳng thể trông mong gì ở người bạn đồng hành. Trong cái hộp sọ trống rỗng đóng vai trò là bộ não của vị giáo sư ấy, chẳng thể nảy ra bất kỳ ý tưởng thiết thực nào; Godfrey sẽ phải suy nghĩ, tính toán và quyết định thay cho cả hai.

Ý nghĩ đầu tiên của anh là dành cho Phina, vị hôn mà anh đã ngu ngốc từ chối cưới làm vợ; ý nghĩ thứ hai là dành cho người chú Will, người mà anh đã thiếu thận trọng rời bỏ, và rồi quay sang Tartlet,—

"Để đổi món cho bữa ăn thường ngày," anh nói, "đây là một ít động vật có vỏ và nửa tá trứng."

"Và chẳng có gì để nấu chúng cả!"

"Không có gì cả!" Godfrey nói. "Nhưng nếu ngay cả thức ăn cũng không có, thì lúc đó anh sẽ nói sao, hả Tartlet?"

"Tôi sẽ nói rằng không có gì thì chưa đủ," Tartlet đáp bằng giọng khô khốc.

Dù sao đi nữa, họ cũng đành phải hài lòng với bữa ăn này.

Một ý nghĩ rất tự nhiên nảy ra trong đầu Godfrey là tiếp tục cuộc thám sát đã bắt đầu từ chiều hôm trước. Trên hết, cần phải xác định càng sớm càng tốt xem con tàu Dream đã bị đắm ở phần nào của Thái Bình Dương, để từ đó tìm ra một nơi có người ở trên bờ biển, nơi họ có thể sắp xếp cách trở về nhà hoặc chờ đợi một con tàu qua lại.

Godfrey nhận thấy rằng nếu anh có thể vượt qua dãy đồi thứ hai, với đường nét đẹp như tranh vẽ hiện ra mờ ảo đằng sau dãy thứ nhất, thì có lẽ anh sẽ làm được điều đó. Anh tính toán rằng họ có thể đến đó trong một hoặc hai giờ, và anh quyết tâm dành những giờ đầu tiên trong ngày cho cuộc thám hiểm khẩn cấp này. Anh nhìn quanh. Đàn gà trống gà mái đang bắt đầu mổ thức ăn giữa đám thực vật rậm rạp. Loài agouti, dê, cừu đi lại tung tăng ở rìa khu rừng.

Godfrey không thích thú gì việc kéo theo cả đàn gia cầm và thú bốn chân này cùng đi với mình. Nhưng để giữ chúng an toàn hơn ở nơi này, cần phải để Tartlet ở lại trông coi chúng.

Tartlet đồng ý ở lại một mình và trong vài giờ sẽ đóng vai người chăn gia súc.

Ông ta chỉ đưa ra một nhận xét duy nhất,—

"Nếu cậu bị lạc thì sao, Godfrey?"

"Đừng lo lắng về điều đó," chàng trai trẻ đáp, "tôi chỉ phải băng qua khu rừng này thôi, và vì anh sẽ không rời khỏi bìa rừng nên tôi chắc chắn sẽ tìm lại được anh."

"Đừng quên bức điện gửi cho chú Will của cậu, và xin ông ấy thật nhiều trăm đô-la nhé."

"Bức điện – hay lá thư! Cũng thế cả thôi!" Godfrey đáp, chừng nào chưa xác định được vị trí của mảnh đất này, anh vẫn sẵn sàng để mặc Tartlet chìm đắm trong những ảo tưởng của ông ta.

Rồi sau khi bắt tay vị giáo sư, anh lao vào dưới tán cây, nơi những cành lá rậm rạp hầu như không cho những tia nắng xuyên qua. Tuy nhiên, chính hướng đi của chúng sẽ dẫn dắt nhà thám hiểm trẻ tuổi của chúng ta hướng về ngọn đồi cao mà bức màn cây cối đang che khuất toàn bộ chân trời phía đông khỏi tầm nhìn của anh.

Chẳng có lấy một lối mòn. Tuy nhiên, mặt đất không phải là không có dấu vết. Ở một số nơi, Godfrey nhận thấy dấu chân của các loài động vật. Hai hoặc ba lần, anh thậm chí còn tin rằng mình nhìn thấy những loài thú nhai lại nhanh nhẹn đang di chuyển khuất đi, có thể là nai sừng tấm, hươu, hoặc nai Wapiti, nhưng anh không hề nhận thấy dấu vết của loài thú dữ nào như hổ hay báo đjagva – sự vắng bóng của chúng dĩ nhiên chẳng có gì phải tiếc nuối.

Tầng đầu tiên của khu rừng, nghĩa là toàn bộ phần cây cối nằm giữa chạc cây thứ nhất và các cành cao, là nơi trú ẩn của rất nhiều loài chim – hàng trăm con bồ câu hoang dưới tán cây, chim ưng cá, gà gô, loài aracaris có chiếc mỏ giống như càng tôm hùm, và cao hơn nữa, lượn lờ bên trên các bãi trống, là hai hoặc ba con kền kền râu có đôi mắt trông giống như một bông hoa vải.

Nhưng không có loài chim nào mang đặc điểm đặc biệt giúp anh có thể xác định được vĩ độ của lục địa này.

Cũng tương tự như vậy đối với những thân cây trong khu rừng này. Hầu như là các loài giống hệt với những loài ở vùng nước Mỹ bao gồm Hạ California, vịnh Monterey và New Mexico.

Cây dâu đất, cây thù du hoa lớn, phong, sồi trắng, sồi đỏ, bốn hoặc năm giống mộc lan và thông biển, giống như những cây được tìm thấy ở Nam Carolina, rồi ở trung tâm của những khoảng rừng quang đảng rộng lớn, cây ô-liu, hạt dẻ và các loài cây bụi nhỏ. Những khóm me rừng, sim và nhũ hương, vốn là sản vật của vùng ôn đới. Nhìn chung, khoảng trống giữa các cây đủ rộng để anh có thể đi qua mà không cần phải nhờ đến rìu hay lửa. Gió biển lưu thông tự do giữa những cành cao, và đây đó những luồng sáng lớn chiếu xuống mặt đất.

Và thế là Godfrey cứ thế tiến bước theo một đường chéo dưới những tán cây lớn này. Anh hoàn toàn không nghĩ đến việc phải cẩn trọng điều gì. Khát khao vươn tới những ngọn đồi viền quanh khu rừng ở phía đông đã chiếm trọn tâm trí anh. Anh tìm kiếm giữa những tán lá hướng đi của các tia nắng mặt trời để tiến thẳng tới mục tiêu của mình. Anh thậm chí còn chẳng chú ý đến những chú chim dẫn đường, được gọi như vậy bởi chúng thường bay trước những bước chân của lữ khách, dừng lại, quay đầu, rồi vút bay lên phía trước như thể đang chỉ đường. Không gì có thể làm anh phân tâm.

Tâm trạng của anh lúc đó thật dễ hiểu. Chưa đầy một tiếng đồng hồ nữa là số phận của anh sẽ được định đoạt! Chưa đầy một tiếng nữa là anh sẽ biết được liệu mình có thể đến được phần nào có người ở của lục địa này hay không.

Từ trước đó, dựa trên những phỏng đoán về lộ trình đã đi và quãng đường mà con tàu Dream đã thực hiện trong suốt mười bảy ngày lênh đênh trên biển, Godfrey đã đi đến kết luận rằng con tàu chỉ có thể chìm ngoài khơi bờ biển Nhật Bản hoặc Trung Quốc.

Bên cạnh đó, vị trí của mặt trời, luôn nằm ở hướng nam, khiến anh hoàn toàn chắc chắn rằng con tàu Dream chưa hề vượt qua đường xích đạo.

Hai giờ sau khi xuất phát, Godfrey ước tính quãng đường mình đã đi được khoảng năm dặm, tính cả những đoạn phải đi vòng do khu rừng quá rậm rạp.

Nhóm đồi thứ hai chắc hẳn không còn cách xa nữa.

Những thân cây đã bắt đầu thưa dần, tạo thành từng cụm riêng lẻ, và những tia sáng xuyên qua các tán cây cao dễ dàng hơn. Mặt đất bắt đầu thoai thoải dốc xuống, rồi đột ngột dốc ngược lên.

Mặc dù đã hơi mệt, Godfrey vẫn đủ ý chí để không làm giảm tốc độ. Chắc chắn anh đã cắm cổ chạy nếu không vì những đoạn dốc đứng ở phía đầu.

Chẳng mấy chốc anh đã lên đến độ cao đủ để phóng tầm mắt bao quát toàn bộ khối vòm xanh rờn trải dài phía sau lưng, nơi có vài ngọn cây nhô lên đây đó.

Nhưng Godfrey không hề nghĩ đến chuyện quay lại. Ánh mắt anh không hề rời khỏi đường viền của dãy sườn núi trụi trần, hiện rõ khoảng bốn hoặc năm trăm thước trước mặt và trên cao hơn anh. Đó chính là bức chắn từ nãy đến giờ vẫn che khuất tầm nhìn của anh về phía chân trời phía đông.

Một ngọn nón nhỏ, bị cắt chéo một góc, vượt lên trên đường sườn núi gồ ghề này và nối liền với độ dốc thoai thoải của nó bằng đỉnh đồi uốn lượn.

"Kia rồi! Kia rồi!" Godfrey lẩm bẩm, "đó chính là điểm ta phải tới! Đỉnh của ngọn nón kia kìa! Và từ đó ta sẽ nhìn thấy gì?—Một thị trấn?—Một ngôi làng?—Hay một vùng hoang mạc?"

Cực kỳ phấn khích, Godfrey leo lên đồi, ép chặt hai khuỷu tay vào ngực để kìm nổinhịp đập của trái tim. Tiếng thở dốc khiến anh mệt mỏi, nhưng anh không đủ kiên nhẫn để dừng lại lấy lại hơi sức. Cho dù có ngã quỵ xuống trong trạng thái gần như bất tỉnh trên đỉnh ngọn nón nhô cao hơn đầu anh khoảng một trăm thước đi nữa, anh cũng chẳng đời nào chịu lãng phí dù chỉ một phút để mau chóng tiến về phía đó.

Chỉ vài phút nữa thôi là anh sẽ đặt chân tới nơi. Con đường lên dốc đối với anh có vẻ khá hiểm trở, với góc nghiêng có lẽ khoảng ba mươi hoặc ba mươi lăm độ. Anh dùng cả tay lẫn chân để leo lên; anh bám lấy những khóm cỏ mảnh mai trên sườn đồi, và vào một số ít cây bụi cằn cỗi, cây nhũ hương và sim mọc lan tràn lên tận đỉnh.

Một nỗ lực cuối cùng đã được tung ra! Đầu anh nhô lên khỏi khoảng bằng phẳng trên đỉnh ngọn nón, và rồi, nằm rạp bụng xuống đất, đôi mắt anh đăm đăm nhìn về phía chân trời phía đông.

Đó là biển khơi bao la tạo nên đường chân trời ấy. Cách đó hai mươi dặm, mặt biển hòa quyện với vòm trời!

Anh quay người lại.

Vẫn là biển – phía tây của anh, phía nam của anh, phía bắc của anh! Đại dương bao la bao quanh anh từ mọi phía!

"Một hòn đảo!"

Vừa thốt lên từ đó, Godfrey cảm thấy tim mình thắt lại. Ý nghĩ rằng mình đang ở trên một hòn đảo chưa từng xuất hiện trong đầu anh. Thế nhưng thực tế lại chính là như vậy! Chuỗi đất liền lẽ ra phải nối liền anh với lục địa đã bị cắt đứt một cách phũ phàng. Anh có cảm giác như mình là một kẻ đang ngủ say trên chiếc thuyền trôi dạt, tỉnh dậy mà chẳng có lấy một mái chèo hay cánh buồm nào để giúp mình quay trở lại bờ.

Nhưng Godfrey nhanh chóng lấy lại được bình tĩnh. Quyết định của anh đã rõ: phải chấp nhận hoàn cảnh. Nếu cơ hội sống sót không đến từ bên ngoài, thì anh phải tự mình tạo ra chúng.

Trước tiên, anh bắt đầu quan sát một cách tường tận nhất có thể địa thế của hòn đảo này mà tầm mắt anh có thể bao quát toàn bộ chiều dài của nó. Anh ước tính nó có chu vi khoảng sáu mươi dặm, theo như những gì anh có thể nhìn thấy, dài khoảng hai mươi dặm từ nam ra bắc và rộng mười hai dặm từ đông sang tây.

Phần trung tâm của đảo bị che khuất bởi màu xanh thẳm của khu rừng trải dài tận sườn núi bị thống trị bởi ngọn nón, nơi có sườn dốc thoai thoải kéo dài ra tận bờ biển.

Tất cả phần còn lại là đồng cỏ rải rác những cụm cây, hoặc bãi biển rải rác đá cuội, với vành đai bên ngoài uốn lượn một cách kỳ lạ thành các mũi đất và doi đất. Một vài lạch nước cắt ngang bờ biển, nhưng chỉ đủ làm nơi trú ẩn cho hai hoặc ba chiếc thuyền đánh cá.

Vịnh nằm ở cuối nơi con tàu Dream mắc cạn là vịnh lớn duy nhất, và nó trải dài khoảng bảy hoặc tám dặm. Đó chỉ là một vũng tàu rộng mở, không một con tàu nào coi đây là nơi trú ẩn an toàn, trừ khi có gió thổi từ hướng đông.

Nhưng hòn đảo này là gì? Nó thuộc quần đảo nào? Nó là một phần của một quần đảo, hay chỉ đứng cô độc ở phần này của Thái Bình Dương?

Dù thế nào đi nữa, không có hòn đảo nào khác, dù lớn hay nhỏ, dù cao hay thấp, xuất hiện trong tầm mắt.

Godfrey đứng dậy và đưa mắt nhìn quanh đường chân trời. Chẳng có gì ngoài một đường tròn liền mạch nơi biển và trời hòa vào làm một. Do đó, nếu có bất kỳ hòn đảo hay dải đất lục địa nào tồn tại ở phía đón gió hay khuất gió, thì khoảng cách chắc chắn phải rất xa.

Godfrey huy động tất cả những kiến thức địa lý trong trí nhớ để tìm xem đây có thể là hòn đảo nào ở Thái Bình Dương. Qua những suy luận, anh đi đến kết luận này.

Con tàu Dream trong suốt mười bảy ngày đã lái hướng khá chuẩn xác về phía tây nam. Giờ đây, với tốc độ từ 150 đến 180 hải lý mỗi mươi tư giờ, lẽ ra nó phải vượt qua gần năm mươi độ. Lúc này, rõ ràng là con tàu chưa hề vượt qua đường xích đạo.

Do đó, vị trí của hòn đảo, hoặc của quần đảo mà nó thuộc về, phải được tìm kiếm ở phần đại dương nằm giữa kinh tuyến 160 và 170 độ tây.

Ở phần này của Thái Bình Dương, Godfrey thấy bản đồ dường như không ghi nhận quần đảo nào khác ngoài quần đảo Sandwich, nhưng ngoài quần đảo này ra, liệu có tồn tại bất kỳ hòn đảo cô lập nào mà tên tuổi anh đã quên mất, nằm rải rác đây đó trên biển cho đến tận bờ biển của Đế quốc Thiên triều hay không?

Điều đó cũng chẳng mấy quan trọng. Anh hoàn toàn không có cách nào để đi tìm một chốn nào khác trên đại dương có vẻ hiếu khách hơn.

"Thôi được," Godfrey tự nhủ, "nếu mình không biết tên của hòn đảo này, mình sẽ gọi nó là đảo Phina, để tưởng nhớ người mà lẽ ra mình không nên rời bỏ để đi lang thang khắp thế giới, và biết đâu cái tên đó sẽ mang lại cho chúng ta chút may mắn."

Sau đó, Godfrey bận tâm tìm hiểu xem liệu hòn đảo có người ở hay không ở phần đất mà anh chưa thể ghé thăm.

Từ đỉnh ngọn nón, anh không nhìn thấy bất cứ thứ gì tố cáo sự hiện diện của thổ dân, không có nhà cửa trên đồng cỏ cũng chẳng có ngôi nhà nào bên bìa rừng, thậm chí không có lấy một túp lều tranh của ngư dân trên bờ biển.

Nhưng nếu hòn đảo này hoang vắng, thì vùng biển bao quanh nó cũng chẳng khá hơn, vì chẳng có bóng dáng con tàu nào xuất hiện trong giới hạn của một tầm nhìn vốn rất bao quát từ đỉnh ngọn nón cao.

Sau khi hoàn tất việc thám sát, Godfrey bây giờ chỉ còn việc đi xuống chân đồi và quay trở lại con đường xuyên qua khu rừng để đoàn tụ với Tartlet. Nhưng trước khi làm điều đó, mắt anh bị thu hút bởi một cụm cây khổng lồ mọc ở ranh giới của đồng cỏ về phía bắc. Đó là một nhóm cây kỳ vĩ, vượt trội hơn hẳn tất cả những cây mà Godfrey từng thấy trước đó.

"Có lẽ," anh tự nhủ, "chúng ta nên dọn đến cắm trại ở đằng kia thì hơn, vả lại nếu tôi không nhầm thì tôi có thể nhìn thấy một con suối bắt nguồn từ dãy núi trung tâm và chảy qua đồng cỏ."

Điều này sẽ phải được khảo sát vào ngày mai.

Về phía nam, diện mạo của hòn đảo có đôi chút khác biệt. Rừng cây và đồng cỏ nhanh chóng nhường chỗ cho thảm cát vàng của bãi biển, và đây đó bờ biển được giới hạn bởi những mỏm đá đẹp như tranh vẽ.

Nhưng Godfrey ngạc nhiên biết bao khi anh tưởng như nhìn thấy một làn khói nhẹ bay lên không trung từ phía bên kia bức tường đá gập ghềnh ấy.

"Có phải những người đồng hành của chúng ta không?" anh thốt lên. "Nhưng không, điều đó không thể nào! Tại sao họ lại có thể đi xa đến thế khỏi vịnh kể từ ngày hôm qua, lại còn phải vòng qua bao nhiêu dặm đá ngầm nữa chứ? Đó là một làng chài, hay là nơi đóng quân của một bộ lạc bản địa nào đó?"

Godfrey chăm chú quan sát. Liệu làn hơi mỏng manh mà cơn gió nhẹ nhàng thổi về phía tây có phải là khói không? Hay anh đã nhầm lẫn? Dù sao đi nữa, nó tan biến rất nhanh, chỉ vài phút sau chẳng còn thấy gì nữa.

Đó chỉ là một tia hy vọng hão huyền.

Godfrey liếc nhìn lần cuối về hướng đó, rồi không thấy gì nữa, anh trượt chân tuột xuống sườn dốc và một lần nữa lao mình vào dưới những tán cây.

Một giờ sau, anh đã băng qua khu rừng và ra đến bìa rừng.

Nơi đó, Tartlet đang đợi anh cùng với đàn gia súc hai chân và bốn chân của mình. Và vị giáo sư bướng bỉnh đang làm gì? Vẫn công việc ấy. Tay phải cầm một mẩu gỗ, tay trái cầm một mẩu khác, ông ta vẫn tiếp tục nỗ lực để nhóm lửa cho chúng. Ông ta cọ xát hết lần này đến lần khác với sự kiên trì xứng đáng dành cho một mục đích cao cả hơn.

"Thế nào," ông ta hét lên khi nhìn thấy Godfrey từ đằng xa – "cục bưu điện đâu rồi?"

"Nó không mở cửa!" Godfrey đáp, người vẫn chưa dám kể cho ông ta nghe bất cứ điều gì về hoàn cảnh hiện tại.

"Còn phòng phát thư?"

"Nó đóng cửa rồi! Nhưng chúng ta hãy kiếm gì đó ăn đi! – Tôi sắp chết đói rồi đây! Chút nữa chúng ta sẽ nói chuyện sau."

Và sáng hôm đó, Godfrey cùng người bạn đồng hành lại một lần nữa phải đành lòng ăn qua loa bữa ăn quá đạm bạc gồm trứng sống và động vật có vỏ.

"Một chế độ ăn uống lành mạnh!" Godfrey lặp lại với Tartlet, người hoàn toàn không có chung quan điểm ấy và đang lựa chọn thức ăn với sự cẩn trọng cao độ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.