[TIÊU DỀ]: Chương 7
Chương thứ bảy
Chùa Giang Ưng tĩnh lặng
Trương Văn Hoa từng đến chùa Giang Ưng bên sông Sở Mã Nhĩ, lạt ma in kinh Vân Đan Đa Cát của chùa Giang Ưng đã trở thành bạn tốt của anh.
Vân Đan Đa Cát cả đời đều in kinh, in trên vải, in trên giấy, in trên da cừu da cây. Ngoài in ra anh ấy còn điêu khắc. Có một lần anh khắc kinh văn lên ống kinh bằng gỗ, chiếc ống kinh ấy rất lớn, cao khoảng mười mét, đường kính gần năm mét. Sau khi sơn dầu, anh cùng các tăng chúng khiêng ống kinh xuống sông, lắp đặt lơ lửng trong nước. Thế là dòng nước xiết đập vào ống kinh, ống kinh không ngừng quay, hết ngày này sang ngày khác. Ống kinh quay một vòng, tương đương với niệm một biến kinh. Sức mạnh vĩ đại của tự nhiên thay thế cho sức mạnh của con người, cũng thay thế cho lòng thành kính và sự chấp nhất của con người, sự dung hợp này là nơi khác không có được. Sau đó ống kinh bị nước cuốn trôi đi, Vân Đan Đa Cát cho rằng đây là do người dân hạ lưu cần được cầu nguyện, liền mơ tưởng có thể khắc kinh văn lên mặt nước, như vậy nước chảy đến đâu thì kinh văn có thể truyền đi đến đó. Anh hỏi Trương Văn Hoa: "Cậu đã từng nghe nói về nghệ thuật khắc nước chưa?" Trương Văn Hoa nói: "Chưa từng nghe qua, nhưng tôi có thể đi dò la, dò la được sẽ đến nói cho anh biết."
Bây giờ, Trương Văn Hoa lại một lần nữa đến chùa Giang Ưng, dọc đường anh vẫn đang suy nghĩ, nếu Vân Đan Đa Cát hỏi về chuyện nghệ thuật khắc nước, bản thân nên trả lời thế nào đây?
Chùa Giang Ưng trong buổi hoàng hôn trên vùng nguyên đỉnh núi Côn Lôn biến thành một mảnh nước. Một mảnh nước phẳng lặng bên sông Sở Mã Nhĩ trong buổi hoàng hôn của vùng nguyên đỉnh núi Côn Lôn lại càng tỏ ra yên tĩnh đặc biệt. Quá yên tĩnh, giống như hơi thở của sự sống đã không còn tồn tại trong cõi Phật siêu phàm nữa. Kiến trúc kiểu Tạng hình chữ nhật được sơn màu đỏ, những con đường hẻm bằng đá quanh co kéo dài xuống tận mép bờ sông. Cửa của thánh giả sừng sững dựng bên bờ sông với dáng vẻ không nguy nga cũng chẳng nghèo nàn, bên trong cửa là điện Hộ Pháp, trên Quảng trường trước điện là cột kinh bằng cượng năm màu, tượng trưng cho trời đất nhật nguyệt tinh tú. Phía sau cột kinh có một tháp kiểu Thú Đổ Ba Ấn Độ màu sắc u tối, bên trái và bên phải bảo vệ cho hai đài Đốt Tang cầu nguyện. Lại còn có đống Mani, được chất đắp thành hình dáng đỉnh núi chính Côn Lôn; lại còn có ống Mani, giống như một trăm năm không có ai xoay chuyển, vậy mà lại tự xoay tự chuyển không nhờ vào ngoại lực. Những lá cờ kinh màu trắng vẽ các họa tiết Bát Bảo cát tường cứ cô độc đứng đó, thổi gió, tạo mây trên bầu trời trống trải. Bầu trời cũng cô độc, mặc cho sự cô tịch lan rộng ra phía xa.
Phật đâu? Phật ở đây đâu? Vân Đan Đa Cát, tôi đến đây.
Không có Phật, chỉ có trống — lại là một chiếc trống hoang vắng, từ dưới chân của Đại Hắc Thiên đi vào tầm mắt của Trương Văn Hoa. Trương Văn Hoa ngẩn người: Trống đầu người? Hòn đá Vô Địch Pháp Vương? Một hòn, hai hòn... thế mà lại có bảy hòn. Tang trống làm bằng xương, mặt trống làm bằng da, không nhìn ra đó là da gì, cũng không nhìn ra đó là xương gì.
Trương Văn Hoa nhìn kỹ lại, cầm lên, rồi lại nhìn kỹ lần nữa. Không sai, là văn vật, hơn nữa còn là văn vật khai quật. Nhưng sao nó lại ở đây? Thứ được khảm trên đó thực sự là bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương cổ xưa nhất sao? Nó thực sự là chiếc trống đầu người mất tích của quần mộ Thổ Phồn ở Đô Lan sao? Nó thực sự là trống đầu người chân ngôn dùng làm pháp khí của Vu thánh Đại Hắc Thiên nước Thổ Cốc Hồn sao?
Không thể nào chứ? Khả năng duy nhất chính là Liên Hoa Kim Cương đã lấy được nó. Liên Hoa Kim Cương đã đến đây như ý nguyện của anh ta. Liên Hoa Kim Cương cúng dường trống đầu người trước mặt chủ nhân của nó là Ma Hô Ca Lạt Đại Hắc Thiên để nhận được sự gia trì của lão vu thánh. Nhưng Liên Hoa Kim Cương đang ở đâu? Sư huynh của Liên Hoa Kim Cương là lạt ma in kinh Vân Đan Đa Cát đang ở đâu?
Trương Văn Hoa ôm trống đầu người, đi vòng quanh đại kinh đường hết vòng này đến vòng khác: Liên Hoa Kim Cương, Vân Đan Đa Cát, hai người đang ở đâu? Tôi đến rồi đây. Những bức tượng Phật xung quanh nhìn anh, anh thầm nghĩ sao đến một vị lạt ma cũng không có vậy? Cho dù Liên Hoa Kim Cương đã về nhà, Vân Đan Đa Cát đã thăng thiên, vậy còn những tăng nhân khác thì sao? Một ngôi chùa lớn như vậy, Phật Pháp Tăng Tam Bảo lại khuyết mất một bảo, đây rốt cuộc là thế nào?
Anh quay cuồng, vừa la lớn vừa đi vòng, giống như cách xoay kinh luân vậy, quay đủ ba bảy hìn một vòng, đột nhiên không quay nữa. Anh đi ra ngoài cửa, nhìn bầu trời, trời cao mây nhạt; nhìn mặt đất, đất rộng người thưa. Không ai nhìn thấy anh, không có chút cản trở nào, chuồn thôi, sao lại không chuồn chứ? Mình đến để tìm trống đầu người, bây giờ đã tìm thấy rồi, sao lại không đi nữa? Trương Văn Hoa cậu là đồ ngốc à, cậu còn ở đây quay cái gì nữa? Liên Hoa Kim Cương, Vân Đan Đa Cát, tất cả các tăng nhân, họ không đến thì tốt quá, ông trời thành toàn cho mình, Phật tổ thành toàn cho mình, mình đã tìm thấy trống đầu người chân ngôn bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương của Vu thánh Đại Hắc Thiên rồi.
Trương Văn Hoa thầm nghĩ, lập tức trở nên lén lút như kẻ trộm, khom lưng xuống, nhìn trước ngó sau, chạy trốn như bay ra khỏi chùa Giang Ưng.
Vừa chạy anh vừa nghĩ, tiêu rồi, mình đã thành một tên trộm rồi, nhưng vì lợi ích của quốc gia, danh tiếng cá nhân thì tính là cái gì chứ.
Anh lại nghĩ, tên Chu Ninh này từ sớm đã nói, chữ Nghĩa trong chữ phồn thể là phía trên chữ Ngã có một con cừu, cừu là của tôi, đây gọi là nghĩa, trống đầu người là của tôi, đây cũng gọi là nghĩa, nói cách khác, hành động chính nghĩa thuộc về tôi, cử chỉ đại nghĩa thuộc về tôi, khí phách hiên ngang lẫm liệt cũng thuộc về tôi.
Nghĩ như vậy, cái lưng đang khom bỗng nhiên thẳng trở lại, bước chân chạy trốn vững chãi hơn rất nhiều, trên mặt cũng không còn vẻ hoảng loạn nữa.
Cưỡi trống bay lượn
Chu Ninh, tôi và cả Lưu Quốc Ninh đều đã ướt sũng từ đầu đến chân. Cứ như thể chúng ta đang ở trên thuyền, cứ như thể xung quanh là biển cả, cứ như thể chúng ta gặp phải gió bão cấp tám, cứ như thể chúng ta không bao giờ có thể trở về bờ được nữa, sắp bị sóng nước nhấn chìm rồi.
Nhưng dẫu sao thì "cứ như thể" vẫn chỉ là "cứ như thể", chiếc máy xúc to lớn cao như tòa nhà đang chuyển động, đại diện cho sức mạnh công nghiệp hóa tiên tiến ở trong nước, đẩy những con sóng nước đang ập tới tạt ngược về hai bên. Ầm ầm ầm, đó là tiếng nước, cũng là tiếng của máy xúc, đinh tai nhức óc. Chiếc Isuzu do máy xúc kéo theo đã bị nước nhấn chìm, chiếc Cherokee của chúng tôi cũng đã bị nước nhấn chìm. Chúng tôi bám chặt lấy cái thang sắt của máy xúc, nương theo lòng sông nhấp nhô, lắc lư dữ dội. Chu Ninh nôn thốc nôn tháo. Học sinh của anh ta là đội trưởng đội làm đường Vương Hữu Điền đỡ anh ta nói: "Đến rồi đến rồi, sắp đến rồi, các anh coi như là thuận lợi nhất đấy."
Từ lúc vượt sông đến khi lên bờ, đi rốt cuộc bốn tiếng đồng hồ, cuối cùng cũng an toàn qua sông.
Chúng tôi cởi bộ quần áo ướt sũng ra, vắt khô rồi mặc vào, sau đó ngồi liệt trên bãi cát ven sông, mệt mỏi nhìn vầng thái dương sắp lặn.
Một lúc sau, Vương Hữu Điền nói: "Đi thôi, các anh mau đi đi, thêm một tiếng nữa là trời tối rồi. Chúng tôi cũng phải quay về thôi, hôm nay trời nắng, băng sơn lại sắp tan rồi, ngày mai nước chắc chắn sẽ còn dâng lên nữa."
Bắt tay, từ biệt, khi lên đường lần nữa, tất cả chúng tôi đều nói, lần sau nhất quyết không qua con sông này nữa.
Trời sáng rồi. Lưu Quốc Ninh kêu lên một tiếng "hỏng bét", rồi chỉ ra ngoài cửa sổ. Ngoài cửa sổ xe là một khung cảnh hoàn toàn không hòa hợp với tâm trạng lúc này của chúng tôi: Một con lạc đạc gục chết trên hoang nguyên, mấy con kền kền nhảy nhót mổ ăn nó. Nó là ai? Nó là lạc đạc của hai người dẫn lạc đạc, hay là một con lạc đạc lạc bầy, hay là một con lạc đạc hoang dã?
Chu Ninh nói: "Tôi đoán nó chính là con lạc đạc đẹp đẽ vẫn đuổi theo hai con lạc đạc cái kia, nó vì tình yêu mà bôn ba mệt nhọc, cuối cùng đã gục xuống."
Tôi nói: "Nó không nhanh chóng tự ngã xuống như vậy đâu chứ? Chắc chắn nó đã gặp phải nguy hiểm gì rồi."
Chu Ninh nói: "Nó chắc chắn là phát điên rồi, không biết ăn uống, cũng không biết nghỉ ngơi, cho đến khi vắt kiệt sức mà chết."
Lưu Quốc Ninh nói: "Hoang nguyên lớn thế này, sao nó lại cứ chết ngay ở nơi chúng ta đi qua thế điềm báo này có vẻ không mấy tốt đẹp lắm, sẽ không xảy ra chuyện gì chứ? Các cậu hát hò cho đàng hoàng vào để xốc lại tinh thần cho tôi, tôi phải tập trung lái xe đây."
Chu Ninh nói: "Không sao đâu, chúng ta đã có trống đầu người rồi, mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi."
Tình yêu giữa thần và người
Tại nhà Lưu Kim Châu, Tôn Học Minh và Vương Tiêu Tiêu đã nhìn thấy một chiếc trống đầu người chân ngôn bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương.
Lưu Kim Châu nói với họ, đây là do một nhóm người Cam Nam đi hành hương đến Lhasa để lại đây. Người Cam Nam đã nói, nếu có người của cơ quan đến tìm nó, thì cứ để họ mang đi, đây là thứ cơ quan xin từ chỗ Long thần, thì hãy trả lại cho cơ quan đi.
Cũng may là có Lưu Kim Châu ở đó, Tôn Học Minh không dám làm càn, nếu không thì anh ta đã phạm quy rồi. Hai người vô cùng phấn khích, dẫu biết rõ ở đây điện thoại không có sóng, nhưng vẫn không kìm được lấy ra, gọi cho Trương Văn Hoa, lại gọi cho Chu Ninh, sau đó hỏi Lưu Kim Châu: "Sao họ lại giao cho ông thế đúng là khéo thật."
Lưu Kim Châu nói: "Nói khéo thì cũng không phải khéo, tôi là chồng của Ưng Chân Lạp Mao, tôi là người đàn ông của Nữ thần Núi Tuyết, tôi đã từng nhìn thấy trống đầu người, họ tin tưởng tôi nên mới để lại cho tôi."
Tôn Học Minh gật đầu: "Ưng Chân Lạp Mao, vợ của ông là Ưng Chân Lạp Mao, tôi nhớ ra rồi, ông đã từng kể với tôi mà, sao tôi lại quên mất nhỉ? Tiếc là cô ấy bây giờ đã qua đời rồi, cô ấy là nữ thần, sao cô ấy có thể mất trước ông được chứ?"
Lưu Kim Châu cười: "Thần mà, muốn sớm một chút quay về thiên thượng. Nhưng cô ấy vẫn đến, thỉnh thoảng, vào ban đêm, cô ấy sẽ đến thăm tôi. Cô ấy có hương thơm, tôi ngửi một cái là biết cô ấy đến rồi. Tôi bảo cô đi đi, đừng vướng bận tôi nữa, tôi sống vẫn rất tốt, thọ nguyên dài thế này, đến tôi cũng tự gọi mình là kẻ sống dai không chết rồi."
Tôn Học Minh ôm trống đầu người trong ngực, ra chiều suy ngẫm nói: "Ưng Chân Lạp Mao, tuyệt thật, cô ấy là người từng sở hữu trống đầu người đấy."
Lưu Kim Châu gật đầu nói: "Không giống đâu, không giống với cái này, trên đó không có đá quý, trên đó là những hạt đậu vàng, những tua vàng trên đó là bờm của sư tử vàng trên núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp, trên đó có hương thơm của Ưng Chân Lạp Mao, thơm đến mức có thể sinh ra ong mật từ hư không."
Lão ông Tôn Lương - nhầm, Lưu Kim Châu 82 tuổi chìm đắm trong nỗi niệm nhớ người vợ, dường như quên mất sự tồn tại của hai vị khách, lẩm bẩm nói: "Ưng Chân Lạp Mao, Ưng Chân Lạp Mao."
Ưng Chân Lạp Mao chính là thể xác trần tục của Đạt Cát Ma Mễ - nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp.
Đạt Cát Ma Mễ là một vị sơn thần cổ xưa của Tôn giáo Bôn, vào thế kỷ thứ 8 khi Đại sư Mật tông Ấn Độ Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng, vị nữ thần phẫn nộ đã đứng ra, cố gắng ngăn cản vị thánh nhân Tây Thiên nổi tiếng này, kết quả bị Liên Hoa Sinh giáng phục làm minh phi, và nâng đỡ bà trở thành một trong số rất nhiều nữ hộ pháp của Tây Tạng. Từ đó, nữ thần Đạt Cát Ma Mễ liền mang danh nghĩa núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp, đầy ân cần quan tâm đến vùng đất Tây Tạng rộng lớn.
Bà đã làm hai việc khiến người đời mãi mãi khắc ghi tưởng nhớ:
Thứ nhất là bà từng hóa thân thành một thiếu nữ dân gian xinh đẹp, cưỡi sư tử vàng, đến trước mặt vị Rinpoche đang tịnh tu nói: "Đại sư trần thế, ta là nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp, ta mang đến cho ngài sữa của sư tử núi tuyết, ngài uống vào có thể sống đến chín mươi chín tuổi, có thể viên tịch ở ngôi chùa Hương Ba mà ngài yêu thích nhất, còn có thể làm tăng tiến Phật pháp, rộng lợi chúng sinh, siêu độ tất cả chúng sinh. Rinpoche nghe xong, lập tức sinh lòng tôn kính vô thượng, nhận lấy chiếc vò gốm đầy sữa sư tử tuyết, bái tế Thiên thần, Địa thần và Long thần, tự mình uống ba ngụm, sau đó đem phần còn lại đổ vào cái nồi đồng lớn dùng để nấu trà cho bảy nghìn bảy trăm tăng nhân của chùa Hương Ba. Ngài ấy nói tất cả tăng chúng đều đến uống đi, món quà ban thưởng của nữ thần núi tuyết, sữa của sư tử Ba Nhan Khách Lạp. Giọng nói của ngài ấy vang dội cỡ đó, giống như tiếng gầm của mười vạn con sư tử.
Thứ hai là trong lúc Đại sư Karma Pakshi truyền pháp ở Hậu Tạng, nữ thần Đạt Cát Ma Mễ đã gá vào thể xác của một người phụ nữ ở Amdo, đến Hậu Tạng, truyền bá tiên tri của bà về nhân thế. Người phụ nữ này chính là Ưng Chân Lạp Mao, các hoạt động pháp sự của cô đã thu hút sự chú ý của Đại sư Karma Pakshi, mời cô đến ngôi tu viện được hộ trì bởi nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp, cắt cử lượng lớn tài bảo, ruộng đất và nông nô, hết lòng cúng dường. Từ đó một đời nữ vu giáng thần ngự trị Hậu Tạng, nhanh chóng trở thành một nữ hộ pháp vô cùng hùng mạnh và được tôn sùng ngang ngửa với các vị Phật sống. Đạt Cát Ma Mễ — Ưng Chân Lạp Mao, thần đã biến thành người, người đã biến thành thần.
Ưng Chân Lạp Mao là người phụ nữ duy nhất trong số các tăng lữ cấp cao ở Hậu Tạng, cô bắt buộc phải kết hôn, bắt buộc phải sinh nở ít nhất một đứa con gái, nói cách khác, địa vị nữ thần của Ưng Chân Lạp Mao là thế tập, là chỉ truyền cho con gái không truyền cho con trai.
Không ai rõ vợ của Lưu Kim Châu là đời Ưng Chân Lạp Mao thứ mấy, cũng không biết cô có phải là đời cuối cùng hay không. Trước khi trở thành vợ của Lưu Kim Châu năm mươi chín tuổi - nhầm, mười chín tuổi, cô đã tiếp nhận thần chức nữ vu được ba năm rồi. Khi đó những người xung quanh cô cảm thấy Lhasa đã không còn yên tĩnh, liền để cô lặng lẽ rời khỏi chùa Sera, trốn đến thảo nguyên Na Khúc xa xôi. Na Khúc có một ngôi chùa phụ thuộc của chùa Sera tên là chùa Doba, lạt ma của chùa Doba có một ngày đã nói với cô: "Người Hán bắt đầu làm đường rồi." Cô nói: "Làm đường để làm gì?" Lạt ma nói: "Làm đường để ô tô chạy." Cô lại hỏi: "Ô tô là gì?" Lạt ma nói: "Ô tô chính là ngựa sắt trâu sắt lạc đạc sắt." Dẫu là một người phụ nữ mang tính thần thánh, dẫu là người phát ngôn của nữ thần Đạt Cát Ma Mễ, nhưng cô rốt cuộc vẫn là một thiếu nữ, cô tràn đầy tò mò đối với thế giới, đặc biệt là thế giới của người Hán, cô muốn đi xem con đường, đi xem ngựa sắt trâu sắt lạc đạc sắt. Hơn nữa cô là nữ vu giáng thần, cô có linh tính: Hình như ở đó có một người, một người quen, người quen quen biết từ kiếp trước, đang đợi cô. Ai cơ? Rốt cuộc là ai? Càng nghĩ thế thì lại càng muốn đi.
Ưng Chân Lạp Mao khi đó thân hình mảnh mai, khuôn mặt tuấn tú; Ưng Chân Lạp Mao khi đó thực sự là thiên nữ hạ phàm, ánh mắt liếc qua liếc lại toàn là phong cảnh, hơn nữa còn là phong cảnh Shambhala; Ưng Chân Lạp Mao khi đó nếu không phải là một nữ vu cao quý và thần bí, thì nhất định sẽ có vô số người theo đuổi. Thế nhưng khi đó cô vẫn chưa có người theo đuổi nào, cô hoàn toàn không nghĩ tới chuyện mình nên có, mặc dù cô biết mình nhất định sẽ kết hôn, nhất định sẽ sinh ra một người thừa kế sự nghiệp nữ vu Ưng Chân Lạp Mao, nhưng lại không biết người đàn ông này nên là một người như thế nào.
Cô đã đi, đi cùng với một vị lạt ma, đến bên vệ đường, đến bên nhóm người đang làm đường. Ơ? Lại có một cô gái Tạng xinh đẹp thế này sao? Ngay cả những hòn đá bên vệ đường cũng nói như vậy. Người làm đường là Giải phóng quân, trong Giải phóng quân có một vị đại đội trưởng - nhầm, đại đội trưởng - lạt ma - đại liên trưởng, liên trưởng dẫn dắt cả đại đội nhìn cô. Cô không xấu hổ, cô không biết tại sao mình phải xấu hổ, người ta nhìn cô, cô cũng nhìn người ta, cứ thế nhìn suốt hai tiếng đồng hồ. Người làm đường sắp ăn cơm rồi, liên trưởng cầm mấy chiếc bánh bao không nở được do thiếu oxy, bước tới đưa cho cô và lạt ma. Đây là bố thí, tự nhiên là phải nhận lấy, nhận lấy rồi thì ăn, ăn xong liền hỏi lạt ma: "Sao không nhìn thấy ngựa sắt trâu sắt lạc đạc sắt đâu cả thế?" Lạt ma nói: "Tôi cũng không biết nữa, tôi đi hỏi Giải phóng quân đây."
Lạt ma quay về nói: "Đại liên trưởng của Giải phóng quân nói rồi, đợi đường làm xong, ô tô sẽ tới." Cô hỏi: "Bao giờ thì làm xong?" Lạt ma nói: "Liên trưởng nói nhanh thôi."
Những ngày tháng sau đó, cứ cách ba năm ngày là cô lại đến xem làm đường. Lúc đầu lạt ma còn đi cùng cô, sau đó thì không đi cùng nữa. Cô một mình đến, đến là ăn bánh bao bố thí mà liên trưởng cho cô. Họ giao lưu với nhau, cô không biết tiếng Hán, anh không hiểu tiếng Tạng, chẳng ai nghe hiểu ai, thế là đành dùng cử chỉ để khoa tay múa chân. Anh nói: "Em tên là gì? Em làm nghề gì?" Cô nói: "Tôi là hóa thân của nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp Đạt Cát Ma Mễ, tôi là người giáng thần, thần đã nói với tôi, ngựa sắt trâu sắt lạc đạc sắt sắp đến rồi. Còn anh? Anh tên là gì?" Anh nói: "Tôi tên là Lưu Kim Châu Mami."
Sau đó đã nảy sinh tình yêu.
Tiền đề của việc nảy sinh tình yêu là Lưu Kim Châu đã chuyển bộ chỉ huy đại đội vào trong chùa Doba. Khi đó lều trại trong đại đội không đủ, hai tiểu đội ở chung một chiếc lều thực sự là quá chật chội. Lưu Kim Châu nhường chiếc lều của bộ chỉ huy đại đội cho các chiến sĩ, sau khi thương lượng với lạt ma của chùa Doba, liền chuyển bộ chỉ huy đại đội vào trong chùa, chẳng qua là cách công trường xa hơn một chút, phải dậy sớm về muộn đi bộ nhiều hơn một chút mà thôi.
Mấy ngày sau Lưu Kim Châu liền phát hiện ra họ đã nhận được sự quan tâm chăm sóc của nữ tăng Ưng Chân Lạp Mao: Ngày nào cũng đến đưa trà, trà xanh, trà sữa, trà bơ, thích uống gì thì đưa nấy, còn có Tsamba, thịt cừu, còn có nụ cười mỉm xinh đẹp của cô, ánh mắt tinh nghịch của cô, hương thơm bí mật tỏa ra từ khắp cơ thể cô. Quan trọng nhất là, cô đã dùng cử chỉ để bày tỏ mong muốn được học tiếng Hán của mình. Lưu Kim Châu dùng cử chỉ nói: "Việc này dễ thôi, tôi dạy cho em là được, nhưng em cũng phải dạy tôi nói tiếng Tạng." Cô cũng dùng cử chỉ nói: "Việc này dễ thôi, tôi nói gì anh nói nấy là được."
Quá trình học nói chính là quá trình thấu hiểu lẫn nhau, gia tăng tình cảm, quá trình này vô cùng mê hoặc, khiến cho cả người và thần đều tràn ngập ảo tưởng. Yên ắng rồi, yên ắng rồi, cuối cùng cũng có một ngày, anh và cô đều không nói năng gì nữa; đến gần rồi, đến gần rồi, cuối cùng cũng có một ngày, anh và cô đến gần, đến gần đến mức giữa hai người không còn khoảng cách nào nữa.
Ấy chà. Một vị lạt ma nhìn thấy cảnh tượng đến gần đó, chỉ kêu lên một tiếng "ấy chà", rồi không còn thấy kinh ngạc nữa. Ông ấy cho rằng thể xác trần tục của nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp Đạt Cát Ma Mễ có quyền lựa chọn chồng, bởi vì cô phải sinh nở thế hệ tiếp theo của Ưng Chân Lạp Mao, phải truyền bá không dứt tiếng nói của nữ thần Đạt Cát Ma Mễ. Thế nhưng, lạt ma cũng có sự hoài nghi, Lưu Kim Châu là một người Hán, anh ta lại không hề theo đạo Phật cơ mà.
Lưu Kim Châu sợ hãi — một nữ vu tuổi thanh xuân trong trẻo như nước, một người thừa kế quý tộc thế tập của Tây Tạng, lại đem lòng yêu một đại liên trưởng Giải phóng quân làm đường, đây là điều không được phép. Anh nói: "Tôi e là mình sắp gặp họa rồi." Ưng Chân Lạp Mao hiểu ý anh, bèn mang chiếc trống đầu người khảm những hạt đậu vàng, tua rua bằng bờm sư tử vàng đến, làm một màn biểu diễn giáng thần cho anh xem, nói cho anh biết: "Nữ thần Đạt Cát Ma Mễ nói rồi, anh mà kết hôn với em, anh có thể sống lâu trăm tuổi."
Tối hôm đó, nữ vu Ưng Chân Lạp Mao dẫn anh đến tăng xá của mình, nói với anh: "Lưu Kim Châu, em muốn kết hôn với anh." Lưu Kim Châu làm sao có thể ngờ đó lại là một tình yêu táo bạo và nồng nhiệt đến thế, anh căng thẳng tột độ, nhưng anh không có khả năng từ chối, hoặc giả anh cũng đã nói những lời đại loại như anh muốn kết hôn với em. Rất nhanh chóng, sự đến gần của họ từ lượng biến đã bước sang chất biến. Sự lựa chọn kề cận trước mắt đã xuất hiện: Hoặc là Lưu Kim Châu trở thành chồng của người phát ngôn nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp Đạt Cát Ma Mễ, nối dõi tông đường cho vị nữ vu thần thánh; hoặc là Ưng Chân Lạp Mao rời khỏi tu viện, thoát khỏi sự truyền thừa nữ vu, trở thành người vợ thế tục của người Hán Lưu Kim Châu. Hai người bàn bạc với nhau, tức là bàn bạc về vấn đề nên làm thần hay làm người. Cuối cùng kết thúc bằng hành động thần quy thuận theo người phù hợp với trào lưu thời đại.
Bây giờ, Ưng Chân Lạp Mao đã rời khỏi chùa Doba, đánh dấu việc cô muốn thoát khỏi truyền thừa vu sư thế tập Ưng Chân Lạp Mao, cô không còn làm nghĩa vụ cho nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp nữa, cô đã vứt bỏ chiếc trống đầu người từ thuở nhỏ là đồ chơi, lớn lên là pháp khí, thấm đẫm hương thơm của cô, trọn vẹn và dũng cảm bước vào vùng hoang dã. Ai mà biết được trong gia tộc Ưng Chân Lạp Mao liệu có ai sẽ kế thừa đại pháp giáng thần nữa hay không? Hoặc là có, hoặc là không, mặc kệ nó đi. Tình yêu mà.
Bây giờ, liên trưởng đội làm đường Lưu Kim Châu đang phải đối mặt với nguy cơ bị tước bỏ quân tịch, cấp trên đã tìm anh nói chuyện: "Người phụ nữ đó là kẻ ký sinh trong tu viện, là một thành viên của giai cấp bóc lột, sao cậu có thể thiết lập quan hệ kiểu này với cô ta chứ? Nghe lời tôi khuyên một câu, mau chóng cắt đứt lại qua đi." Lưu Kim Châu nghĩ đi nghĩ lại, ở sâu thẳm trong nội tâm đã lắc đầu. Tình yêu mà.
Họ đến thảo nguyên, ở nhờ trong nhà một hộ mục dân. Mục dân tôn họ như thần linh, khắp trong lều toàn là ánh sáng vàng từ phương Tây tới.
Chẳng bao lâu sau họ nhìn thấy con đường đã làm xong, nhìn thấy trâu sắt ngựa sắt lạc đạc sắt từng con từng con tới, rồi lại nhanh như chớp rời đi. Chẳng bao lâu sau chính là cải cách dân chủ, tăng nhân không còn được chuộng nữa. Các mục dân chợt vỡ lẽ: Thảo nào Ưng Chân Lạp Mao lại hoàn tục từ sớm, cô ấy là hóa thân của nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp Đạt Cát Ma Mễ, cô ấy đã nhận được sự khải thị của thần, từ sớm đã biết sẽ có ngày này. Quả nhiên là thần, không giống người thường, mặc dù đã rời khỏi tu viện, nhưng cô ấy vẫn là thần cơ mà.
Họ có bầy cừu, bầy bò, có hai đứa con trai, một đứa con gái. Con bé này nếu đặt ở quá khứ, thì nhất định sẽ là người kế thừa của nữ vu Ưng Chân Lạp Mao rồi, mà bây giờ thì không phải nữa, bây giờ nó là Lạp Mộ Văn Tĩnh, chính là có ý nghĩa tiên nữ Văn Tĩnh, một nửa là người Hán, một nửa là người Tạng, sự lai giống vĩ đại này, khiến nó vừa có sự cường tráng của người Tạng, vừa có sự mưu trí của người Hán. Nó sau này đã trở thành một Tiểu binh hồng phản có lý nổi loạn trên thảo nguyên, dẫn theo hai người anh trai và những Hồng vệ binh, Tiểu binh hồng khác, bắt Apa Ama của mình lại để phê đấu mỗi ngày. Apa Ama trốn thoát được, trốn vào núi Đường Cổ Lạp, cảm thấy không an toàn, lại trốn vào núi Côn Lôn, cuối cùng cắm rễ an gia ở Ngũ Đạo Lương nơi điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt.
Ở lại đó rồi không bao giờ dịch chuyển đi đâu nữa. Vài năm sau, đứa con gái hối hận cùng hai người con trai đã tìm đến đây, bắt họ quay về Na Khúc. Họ không đi. Ưng Chân Lạp Mao nói: "Ở đây cách núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp gần hơn Na Khúc rất nhiều, đằng nào tôi cũng phải quay về đỉnh núi tuyết, thuận tiện hơn." Lưu Kim Châu cũng nói: "Đã quen rồi, gió lớn trời lạnh, tốt lắm, không chết là được rồi. Mà ở Na Khúc, tôi cứ nghĩ đến cái chết." Các con nói: "Nếu gió lớn trời lạnh anh mới không chết, Na Khúc chẳng lẽ không phải là gió lớn trời lạnh sao?" Lưu Kim Châu nói: "Cái đó không giống nhau."
Nơi này là bình nguyên đỉnh núi Ngũ Đạo Lương, nơi này có nữ thần núi tuyết Ba Nhan Khách Lạp tị nạn, nơi này có cung điện bằng bùn do Lưu Kim Châu làm ra, nơi này có sự yên tĩnh, có thức ăn và y phục mà mục dân từ xa đến cúng dường cho nữ thần.
Ngày 28 tháng 1 năm 1989, đời nữ vu hoàn tục Ưng Chân Lạp Mao bệnh mất tại Ngũ Đạo Lương. Lịch sử đã ghi nhớ ngày này, bởi vì ngày này cũng là ngày Ban Thiền đời thứ 10 sau khi chủ trì đại lễ khai quang của tháp Đông lăng Ban Thiền Trách Thập Nam Ti Tiệp lúc 8 giờ 35 phút cưỡi hạc quy tây. Ưng Chân Lạp Mao trước khi chết đã nói với chồng: "Em đi đây, anh còn sống, anh phải sống cho thật tốt, muốn sống bao lâu cũng được. Em là nữ thần hạ phàm, em phải quay về thiên thượng đây. Còn anh, sống chán rồi hễ đi, kiếp sau anh không còn là người nữa, mà là thần rồi, là một con sư tử núi tuyết cát tường."
23 Hội sư Ngũ Đạo Lương
Trương Văn Hoa chạy trốn như bay rời khỏi chùa Giang Ưng, đến trước tiệm ven đường bên sông Sở Mã Nhĩ, thầm nghĩ trời sắp tối rồi, mình không thể ở đây đợi Chu Ninh bọn họ nữa, ở đây đã rất nguy hiểm, Liên Hoa Kim Cương, hoặc Vân Đan Đa Cát, sắp đuổi đến nơi rồi. Anh bỏ trống đầu người vào trong túi du lịch của mình, bước nhanh về phía nhà hàng Hồi giáo lúc chiều ăn cơm, nói với ông chủ đứng sau quầy: "Tôi họ Trương, tên Trương Văn Hoa, phía sau chúng tôi vẫn còn một chiếc xe nữa sắp tới, trong số người trên xe có hai người đeo kính, phiền anh nói với họ rằng, chúng tôi đang đợi họ ở Ngũ Đạo Lương."
Trương Văn Hoa nhảy lên chiếc xe khách đường dài sắp khởi động.
Tại nhà Lưu Kim Châu, Vương Tiêu Tiêu nằm trên chiếc kang, trằn trọc mãi không ngủ được, đầu lại bắt đầu đau, hơn nữa còn kêu vo vo hòa nhịp với nhịp đập của mạch đập, đau đến mức có tiếng có màu. Cách lão ông Lưu Kim Châu và Trương Trường Thọ, Tôn Học Minh nằm ở đầu kia của chiếc kang, anh ta cũng không ngủ được, anh ta đang nghĩ,Ký nhiên đã có được trống đầu người rồi, liệu còn có cần thiết phải đi tiếp nữa không?
Có người đập cửa "thịch thịch thịch": Có phải nhà Lưu Kim Châu không?
Tôn Học Minh nghe thấy là Trương Văn Hoa, bèn vùng dậy nhảy khỏi kang, bật sáng đèn điện, mở cửa ra.
Trương Văn Hoa một bước bước vào, phớt lờ Tôn Học Minh, ánh mắt bay đi như đom đóm, tìm kiếm Vương Tiêu Tiêu trong phòng, tìm thấy liền nói: "Ha ha, các cậu tuyệt đối không thể ngờ được đâu, tôi đã biến thành Vu thánh Đại Hắc Thiên rồi đấy. Mang giày da đi khắp nơi, có được chẳng tốn chút sức lực nào, dậy đi dậy đi, quay đầu trở về thôi, chuyến du lịch của chúng ta đến đây là kết thúc. Lúc tổ chức hội nghị mừng công, xin đồng chí Vương Tiêu Tiêu đừng quên phần thưởng mà Tôn Học Minh đã đặt ra nhé."
Tôn Học Minh nói: "Nói mau rốt cuộc cậu bị làm sao thế? Chu Ninh bọn họ đâu?"
Trương Văn Hoa nói: "Còn cần họ làm gì nữa? Họ chỉ biết chạy lung tung thôi. Các cậu nhìn đồ của tôi này." Nói rồi anh ta phắt một cái mở túi du lịch ra.
Trương đầu người xuất hiện. Vương Tiêu Tiêu đang ngồi dậy từ trên kang kêu lên một tiếng "ơ". Mọi người kinh ngạc ngẩn người.
Lưu Kim Châu nói: "Giống nhau cả, giống nhau cả, trống đầu người bây giờ đều giống nhau cả."
Trương Trường Thọ cười "hà hà hà": "Xem ra là sản phẩm ra lò từ dây chuyền lắp ráp rồi."
Cái gì? Trương Văn Hoa có chút nổi giận, các cậu đừng có phục, mở to mắt ra mà nhìn xem, bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương cổ xưa nhất, còn cả hộp sọ này nữa, hộp sọ của người cổ đại đấy.
Tôn Học Minh nói: "Đừng có chăm chăm khoe khoang nữa, bây giờ cậu xem đồ của bọn tôi đi." Nói rồi chỉ vào chiếc trống đầu người mà Lưu Kim Châu giao cho anh ta trên bàn.
Lần này đến lượt Trương Văn Hoa kinh ngạc: "Ơ? Thực sự giống nhau á?"
Chán nản. Bọn họ đều có cảm giác mềm nhũn toàn thân.
Tức chết đi được, Tôn Học Minh nói, nhìn thế này thì chắc chắn là đồ giả rồi. Tôi nghĩ đây không thể nào là chuyện ngẫu nhiên được, sao chúng ta lại cùng đụng phải đồ giả thế này nhỉ?
Trương Văn Hoa nói: "Nhưng tôi vẫn không tin, bao vất vả mới có được sao lại là đồ giả chứ?"
Vương Tiêu Tiêu nói: "Cậu không phải là không tin, mà là không cam tâm."
Mọi người thở dài hắt ra, ai nấy đều bối rối đến chết đi được.
Tôn Học Minh nói: "Liệu có phải có ai đó đã giăng bẫy, lấy đồ giả để lừa chúng ta không?"
Trương Văn Hoa nói: "Không đâu nhỉ?"
Trương Trường Thọ nói: "Chắc chắn là bẫy rồi."
Vương Tiêu Tiêu nói: "Tôi cũng cảm thấy là có người cố ý để chúng ta có được hai chiếc trống đầu người này."
Tôn Học Minh gật đầu nói: "Tôi tin vào trực giác của Tiêu Tiêu, cô ấy tuy đau đầu, nhưng từ đầu đến cuối vẫn luôn tỉnh táo." Anh ta đột nhiên vỗ đùi một cái rồi nói: "Các cậu có nhớ còn có một người nữa muốn đến Ngũ Đạo Lương tìm chúng ta không? Nhưng cho đến tận bây giờ vẫn chưa tới."
Trương Văn Hoa nói: "Ý cậu là cảnh sát Tashi ấy hả?"
Tôn Học Minh nói: "Chỉ có cậu ta nắm được toàn bộ manh mối của chúng ta, biết chúng ta muốn đi đâu. Cậu ta nói cậu ta không dám một mình đến sông Đát Đát để chặn bắt những kẻ trộm văn vật, muốn đến Ngũ Đạo Lương tìm chúng ta, một cảnh sát mà lại thẳng thắn bày tỏ sự nhát gan của mình như thế, chắc chắn có vấn đề."
Tôn Học Minh suy ngẫm rồi lại nói: "Chúng ta đợi cảnh sát Tashi thêm lúc nữa, nếu mai đến trưa mà vẫn không đợi được thì thôi. Ngày mai trước khi trời tối chúng ta nhất định phải đến sông Đát Đát. Tôi có một linh cảm, giả như trống đầu người chúng ta lấy được đều là giả, giả như thực sự là bẫy do cảnh sát Tashi giăng ra, người này nhất định đã đi thẳng đến sông Đát Đát rồi, mà chiếc trống đầu người chân ngôn bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương thật sự nhất định sẽ xuất hiện ở sông Đát Đát."
Trương Văn Hoa nói: "Đã không muốn chúng ta có được trống đầu người, tại sao cậu ta còn nói cho chúng ta biết cậu ta muốn đến sông Đát Đát chặn bắt bọn buôn lậu văn vật chứ?"
Tôn Học Minh nói: "Cậu ta muốn mượn cách này để lấy được sự tín nhiệm của chúng ta, moi lời từ chúng ta, nếu không thì sao cậu ta lại biết toàn bộ manh mối mà chúng ta nắm giữ chứ?"
Vương Tiêu Tiêu nói: "Hơn nữa, sông Đát Đát là con đường bắt buộc phải đi qua, cậu ta không nói thì chúng ta cũng vẫn phải đi."
Tôn Học Minh nói: "Rất có thể cảnh sát Tashi vẫn luôn bám theo điều tra chúng ta, khi cậu ta biết được mục đích và manh mối điều tra của chúng ta, liền lập tức nghĩ cách thông báo cho Liên Hoa Kim Cương đang đi vào núi Côn Lôn, thông báo cho một nhóm người Cam Nam đi hành hương đến Lhasa, có lẽ còn thông báo cho hai vị khách dẫn lạc đạc đi về phía tây đến chùa Na Lăng Cách Lặc, thông báo cho ba vị lạt ma đến từ Tứ Xuyên và người thợ mỏ mãi không lộ diện ở Shigatse. Liên Hoa Kim Cương sau khi biết được tung tích của chúng ta, đoán chừng chúng ta có khả năng dưới sự dẫn dắt của bạn anh ta là Trương Văn Hoa, đến chỗ Vân Đan Đa Cát ở chùa Giang Ưng tìm anh ta, bèn đến đó đặt sẵn một chiếc trống đầu người giả, anh ta tưởng rằng chúng ta lấy được trống đầu người là sẽ quay về, chiếc trống đầu người chân ngôn bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương thật sự sẽ thuộc về anh ta."
Trương Văn Hoa nói: "Thế chiếc trống đầu người này mà các cậu tìm thấy thì giải thích thế nào?"
Tôn Học Minh nói: "Họ chỉ đoán chừng chúng ta có khả năng sẽ đến chùa Giang Ưng, lỡ như chúng ta không đi thì sao? Cảnh sát Tashi cảm thấy chặn chúng ta ở bờ sông Sở Mã Nhĩ không được, thì nhất định sẽ chặn chúng ta ở Ngũ Đạo Lương, bởi vì tôi đã bảo cậu ta đến nhà Lưu Kim Châu tìm chúng ta mà. Lưu Kim Châu là một nhân vật rất nổi tiếng, cảnh sát Tashi thường xuyên chạy tuyến Thanh-Tạng, chắc chắn cũng biết, bèn ngầm ra hiệu cho những người hành hương Cam Nam làm một cái giả để lừa chúng ta. Nhưng họ không ngờ chúng ta lại chia nhau ra hành động, cả hai chiếc trống đầu người giả đều bị chúng ta lấy được, thế là đã để lộ sơ hở."
Trương Văn Hoa gật đầu nói: "Phân tích nghe rất có lý, thế nhưng, tại sao cảnh sát Tashi phải làm như vậy chứ?"
Tôn Học Minh nói: "Có hai khả năng, một là cậu ta là kẻ phản bội của đội cảnh khuyển Tây Tạng - nhầm, chi đội Ngao Tạng, là nội tặc buôn bán trái phép văn vật; hai là bởi vì cậu ta là người Tạng, có tình cảm tôn giáo mãnh liệt của riêng mình, chiếc trống đầu người chân ngôn bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương là báu vật tôn giáo chí tôn chí quý, cậu ta rất hy vọng tu viện, các lạt ma, đặc biệt là Liên Hoa Kim Cương ở chùa Quảng Huệ quê nhà có được nó, chứ không muốn chúng ta những kẻ phàm phu tục tử này mang đi. Tôi nghiêng về khả năng thứ hai hơn."
Trương Văn Hoa nói: "Tốc độ của chúng ta cũng không chậm đâu, họ liên lạc bằng cách nào mà bố trí nhanh thế chứ."
Tôn Học Minh nói: "Xem ra công cụ thông tin của họ tiên tiến hơn chúng ta rất nhiều, lúc điện thoại của chúng ta không có sóng, họ vẫn cứ liên lạc được như thường. Hoặc là cảnh sát Tashi quen thuộc mọi đường tắt trên hoang nguyên, lái chiếc xe việt dã đầu trâu có hiệu năng cực tốt, phóng như bay suốt dọc đường, vượt lên trước chúng ta."
Lúc chúng tôi đuổi đến bờ sông Sở Mã Nhĩ rồi lại đuổi đến nhà Lưu Kim Châu ở Ngũ Đạo Lương, đã là trưa ngày hôm sau, Tôn Học Minh bọn họ đang chuẩn bị xuất phát.
Trương Văn Hoa vừa nhìn thấy chiếc trống đầu người mà chúng tôi ôm về từ chùa Na Lăng Cách Lặc, liền kêu lên: "Ây da da, ba chiếc trống đầu người cơ á? Lợi hại thật đấy, chúng ta một mạch tìm được tận ba chiếc trống đầu người." Sau đó lấy từ trên xe xuống hai chiếc trống đầu người mà anh ta và Tôn Học Minh tìm được cho chúng tôi xem. Trong chớp mắt, Chu Ninh và tôi suýt thì ngất xỉu.
Tôn Học Minh lại lặp lại phân tích của mình cho chúng tôi nghe một lần, cuối cùng nói: "Đạo cao một thước, ma cao một trượng mà."
Chu Ninh nói: "Chúng ta bị lừa rồi, hèn chi chúng ta đụng phải con lạc đạc chết, rất có thể chính là do cảnh sát Tashi giở trò quỷ." Anh ta dùng lòng bàn tay vỗ vào trống đầu người, tỏ ý đồng tình với phân tích của Tôn Học Minh. Nhưng anh ta không đồng ý với phỏng đoán về động cơ của cảnh sát Tashi, anh ta cho rằng, chỉ có một khả năng duy nhất, đó chính là cảnh sát Tashi muốn tự mình tìm được trống đầu người, đối với một người như cậu ta mà nói, điều mong mỏi nhất chính là lập công nhận thưởng, thăng quan tiến chức. Trống đầu người đã là quốc bảo, ai tìm được thì sẽ tuyên dương người đó đề bạt người đó, điểm này cậu ta rõ hơn bất kỳ ai hết.
Trương Văn Hoa nói: "Nếu là như vậy, thế thì chúng ta nhường cho cậu ta là được chứ gì."
Tôn Học Minh nói: "Không thể thế được, cậu ta mà có được trống đầu người, sao chúng ta biết được cậu ta có giao cho Hứa Tân Quốc hay không? Cậu ta mà nộp lại một cái giả thì tính sao? Cho nên chiếc trống đầu người chân ngôn bảy hòn đá Vô Địch Pháp Vương thật sự, nhất định phải do chúng ta tìm thấy, điều này không thể thay đổi được, nếu cuối cùng chúng ta phát hiện ra là cảnh sát Tashi có được nó, chúng ta nhất định phải nghĩ cách cướp lại từ tay cậu ta."
Mọi người đều nói được.
Vương Tiêu Tiêu dùng móng vuốt gãi cái đầu vẫn đang đau âm ỉ nói: "Đúng là thu hoạch không nhỏ, ba ngả nhân mã tìm được ba chiếc trống đầu người, cho dù đều là đồ giả, thì cũng không tồi đâu."
Trương Văn Hoa nói: "Biết đâu không phải đồ giả, chẳng qua không phải là khai quật từ quần mộ Thổ Phồn ở Đô Lan mà thôi."
Chu Ninh nói: "Chúng ta cứ coi như nó là thật không phải là được rồi sao? Bảo vật này đâu phải không thể lăng xê, lăng xê nó thành thiên hạ đệ nhất xem ai còn dám so bì với chúng ta nữa? Vu thánh Đại Hắc Thiên cũng không được, người phát ngôn của Đại Hắc Thiên là Liên Hoa Kim Cương lại càng không, chúng ta lăng xê trống chẳng khác nào lăng xê bọn họ."
Lưu Quốc Ninh đường đường chính chính nói: "Thế thì không được, tôi là người của viện nghiên cứu khảo cổ học, tôi không thể trơ mắt nhìn các anh chế tạo văn vật giả được."
Trương Trường Thọ cười "hà hà hà" nói: "Thật hay giả ai mà biết được? Chỉ có tương lai lúc người ta biến đầu của chúng ta thành trống mà gõ lên, thì khi đó chúng ta mới biết là thật."
Vương Tiêu Tiêu nói: "Đầu của mình mà bị người ta gõ á? Thế chẳng phải còn đau hơn sao?"
Tôn Học Minh nói: "Tôi không sợ đau, tôi hiến dâng, nếu đầu của tôi mà có thể làm thành trống đầu người, để các đại pháp sư gõ lên, phù hộ cho quốc gia thái bình, phù hộ cho vạn dân sung túc, tôi tuyệt đối hiến dâng cái đầu của mình."
Chu Ninh nói: "Thế thì chúng ta mau viết di chúc đi, nay có bảy tráng sĩ ở Ngũ Đạo Lương vùng nguyên đỉnh núi Côn Lôn, nhìn ngắm đại thiên thế giới, bỗng sinh lòng thương xót vô hạn, bèn đương gió lập di chúc: Hiến đầu bảy cái, đục xương bọc da làm trống, cầu nguyện đời sau nghe trống truyền âm, sinh tín ngưỡng mà uống cam lộ vậy."
Trương Văn Hoa chịu ảnh hưởng sâu sắc, lớn tiếng nói: "Quá bi tráng, quá cao cả, chém đầu chỉ coi như gió thổi bay mũ, khiến người đời không dám ngước nhìn. Các anh hùng đều dũng cảm hy sinh thân mình, còn chúng ta là dũng cảm hiến đầu, quá vĩ đại, quá lưu danh muôn thuở rồi."
Lúc này tôi nói một câu cụt hứng nhất: "Ăn cơm ở đâu? Tôi đói rồi."
Tôn Học Minh nói: "Mua tạm chiếc bánh lớn lót dạ trước đi, đến sông Đát Đát chúng ta ăn một bữa thật ngon." Dứt lời "ực" một tiếng, một ngụm nước bọt trôi thẳng vào trong ruột.
Đột nhiên, Tôn Học Minh hét lên: "Dừng lại dừng lại." Lúc chiếc xe lướt qua trong chớp mắt, anh ta nhìn thấy ba người phụ nữ Tạng hành hương đang bái trường đầu tương đương thân thể bên vệ đường.
Chúng tôi xuống xe, bước qua đó, phát hiện ra họ người ngập bụi đất, mặt đầy vết tím bầm do sương gió, tay đeo găng tay gỗ, đối mặt với ánh nắng, nhìn về phía chúng tôi. Trong đó có một người còn đang kéo theo một chiếc xe kéo tay, trên xe là hành lý chất đống.
Tôn Học Minh hỏi: "Các chị là người ở đâu?"
Người phụ nữ kéo xe kéo tay nói: "Hạ Hà, Cam Nam."
Họ bắt đầu trò chuyện.
Ba người phụ nữ Tạng hành hương đã ra ngoài được hai năm rồi, cứ thế ba bước một lạy bái từ Hạ Hà đến đây. Dọc đường đều do Cống Kỳ Trác Ma năm mươi sáu tuổi kéo xe kéo tay, đi theo ở phía sau. Còn hai người trẻ tuổi thì chỉ việc bái trường đầu một cách tỉ mỉ. Hai người trẻ tuổi một người tên là Khâm Trân Tố Ma, hai mươi tám tuổi, một người tên là Nhân Thanh Trác Ma, mười sáu tuổi. Nhân Thanh Trác Ma mười sáu tuổi rất xinh đẹp, là kiểu xinh đẹp khiến ai nhìn thấy cũng yêu thích. Con bé cười, cười rạng rỡ. Cả ba người họ đều cười rạng rỡ. Trán của họ dính đầy bùn đất ven đường, quần áo đã rách bươm, hơn nữa còn đang chịu đói, vậy mà lại cười rạng rỡ.
Tôn Học Minh nói: "Lợi hại thật đấy."
Nhân Thanh Trác Ma nói: "Có đồ ăn không?"
Vương Tiêu Tiêu nói: "Có."
Vội vàng chạy ra xe lấy hai chiếc bánh mì duy nhất và một gói kẹo đưa cho họ. Họ mỗi người ăn một chút, rồi lại chuẩn bị bắt đầu tranh thủ thời gian bái lạy. Chúng tôi từ biệt, bịn rịn lưu luyến quay trở lại xe.
Tôn Học Minh trầm mặc một lát rồi nói: "Không chỉ nằm ở việc họ dùng cơ thể kiên trì bền bỉ đo lường trái đất, mà còn nằm ở việc họ tràn ngập cảm giác hạnh phúc, nằm ở việc họ hoàn toàn không có vẻ mặt chịu khổ, nằm ở việc họ trải qua bao trắc trở mà vẫn cười rạng rỡ như thế."
Tôn Học Minh nói: "Đây chính là sức mạnh của tôn giáo, là sức mạnh của tình cảm, là sức mạnh của cao nguyên Thanh-Tạng, kiên cường như Kim Cương, bền bỉ như nước sông, ai có thể đánh gục họ chứ?"
Tôn Học Minh nói: "Tôi nhất định sẽ viết một bài hát cho họ, đặc biệt là Nhân Thanh Trác Ma, đôi mắt của con bé trong veo như nước, biểu cảm ngây thơ vô số tội, nếu đổi sang một bộ quần áo đẹp, con bé đơn giản chính là tiên nữ."
Vương Tiêu Tiêu nói: "Nhân Thanh Trác Ma, cái tên này nghe hay thật, có lẽ tôi phải đổi tên rồi."
Tôi nói: "Họ cứ bái lạy thế này suốt ngày để làm gì? Có đáng không?"
Tôn Học Minh nói: "Cậu là một kẻ vô thần, cậu không có tư cách bàn về vấn đề này, giống như một sa mạc nhìn thấy nước rồi nói: "Sao anh không khô hạn giống như tôi đi cho rồi?" Giống như một con sói đối mặt với một quả núi rồi nói: "Sao anh không đi ăn cừu giống như tôi đi?" Giống như một cái cây nhìn thấy gió rồi nói: "Sao anh không đứng im bất động giống như tôi đi?" Giống như... Dù sao thì đối với vấn đề bái lạy hàng vạn dặm đến Lhasa có đáng hay không này, cậu một kẻ vô thần, và họ cùng với tất cả những tín đồ thành kính, căn bản là không có cơ sở để đối thoại."
Lời nói của Tôn Học Minh vô cùng quả quyết, anh ta yêu họ là không có chuyện thương lượng rồi.
Tôi nói: "Không hỏi xem họ có nhìn thấy những người Cam Nam hành hương khác không à."
Tôn Học Minh nói: "Đừng hỏi nữa, tôi không muốn kéo chuyện trống đầu người dính dáng đến họ, họ rất thuần khiết, cho dù trống đầu người có ở trên chiếc xe đẩy do họ kéo đi nữa, tôi cũng sẽ giả vờ như không nhìn thấy."
Vương Tiêu Tiêu chua ngoa nói: "Xem ra tôi cũng phải xuống xe bái trường đầu rồi."
Tôn Học Minh nói: "Thế thì tôi cưới em luôn lập tức."
Vương Tiêu Tiêu nói: "Mơ tưởng đẹp đẽ thế nhỉ, tôi mà đi bái trường đầu, thì sẽ đến tu viện cạo đầu xuất gia làm ni cô trước, đến lúc đó sao tôi có thể kết hôn được chứ? Tôi muốn đi Tây Thiên thỉnh kinh, muốn tu luyện bản thân thành Quan Thế Âm."
Tôn Học Minh nói: "Tôi đợi, đợi để thắp hương bái lạy em."
Vương Tiêu Tiêu nói: "Tôi tay cầm bình ngọc, phổ độ chúng sinh, nhưng lại cứ phớt lờ anh đấy."
Tôn Học Minh nói: "Một chút dung lượng lồng ngực cũng không có, mà còn muốn làm Bồ Tát. Nói cho em biết, tôi tìm được trống đầu người thì tôi chính là Hộ pháp Đại Hắc Thiên, rời khỏi tôi, em đừng hòng lăn lộn trong vòng tròn Bồ Tát."
Vương Tiêu Tiêu nói: "Còn chưa biết ai tìm được trống đầu người đâu."
Tôn Học Minh nói: "Đến sông Đát Đát khắc sẽ rõ thôi."