[TIÊU HỀ]: Chương 15
Ca tụng Tông Khách Ba
Chúng tôi dừng lại trước đống đổ nát của chiếc xe tải Đông Phong, ngây người đứng chết sững ở đó suốt một tiếng đồng hồ, chẳng biết phải làm sao cho phải.
Vẫn là Lưu Quốc Ninh bình tĩnh hơn một chút, run rẩy nói: Chúng ta đi thôi, đằng nào ở đây cũng chẳng có Chu Ninh, cứ đi theo con đường này xuống dưới, nói đâu hay vẫn có thể nhìn thấy cậu ấy.
Trương Văn Hóa nói: Chu Ninh mà chúng ta nhìn thấy sẽ là một Chu Ninh như thế nào? Chi bằng không thấy còn hơn.
Lại thẫn thờ đứng đó một lát, chúng tôi thở dài bất lực rồi lặng lẽ chui vào ô tô.
Lần theo địa thế uốn lượn dọc theo con đường nhựa, chúng tôi không thể đến gần vực sâu vạn trượng ước chừng có thể nhìn thấy Chu Ninh nữa, chỉ có thể càng ngày càng rời xa nơi đó; lại nhìn thấy những vực sâu vạn trượng mới, nhưng đã chẳng còn liên quan gì đến Chu Ninh nữa rồi.
Trương Văn Hóa nói: Thế này thì phải làm sao? Chúng ta không thể bỏ mặc cậu ấy được.
Tôi nói: Chúng ta đâu có bỏ mặc cậu ấy? Là chúng ta muốn tìm mà tìm không thấy đấy chứ. Hay là chúng ta quay lại xem lần nữa?
Trương Văn Hóa rưng rưng nước mắt lắc đầu, vặn lại: Quay lại để xem buồng lái và biển số xe nát bét à?
Chúng tôi im lặng không nói gì, tất cả đều quên mất mục đích chúng ta đến đây để làm gì, chẳng còn đi dò la tung tích của hai tín đồ Bôn giáo mang tù và, những người phu phen ở Nhật Khách Tắc và viên cảnh sát Tạp Tây nữa. Nếu lúc này mục tiêu có lướt qua bên cạnh, chắc chắn chúng tôi cũng chẳng thể nhận thức được họ có liên quan gì đến mình. Chúng tôi đều ngốc đơ cả rồi, chỉ cảm thấy dọc đường toàn là gió, toàn là cái lạnh, toàn là mùa đông, mới tháng Tám mà đã là mùa đông rồi. Đây là mùa đông của chúng tôi, càng là mùa đông của Chu Ninh.
Thời thơ ấu của Chu Ninh được trải qua bên cạnh người bà ở Thiên Tân. Khi học tiểu học, cậu từ Thiên Tân đi Thanh Hải để nương nhờ bố mẹ vốn có chí hướng củng cố vùng biên cương, mười mấy năm sau trở thành học viên cao cấp chuyên ngành lý luận văn nghệ tại Đại học Sư phạm Thanh Hải, sau khi tốt nghiệp ở lại trường công tác hơn một năm, lại thi đậu vào làm nghiên cứu sinh tiến sĩ dưới trướng vị giáo sư nổi tiếng, đại sư lý luận kịch nghệ một thời Trần Sấu Trúc của Đại học Nam Kinh. Đọc sách được một thời gian, tiên sinh Trần Sấu Trúc cảm thấy cậu học trò này hoàn toàn không cần đến sự hướng dẫn của thầy nữa, bèn cỡi hạc quy tây, Chu Ninh lại chuyển mình trở thành học trò đắc ý của đại sư kịch nghệ nổi tiếng Trần Bạch Trần. Sau khi lấy được học vị tiến sĩ, Chu Ninh đến Đại học Hạ Môn công tác, đó là quê hương của vợ cậu.
Trong gần hai mươi năm ở Thanh Hải, chỉ có hai nơi khiến Chu Ninh hướng về nhất, một là thư phòng, hai là chốn đồng hoang. Cậu từng đi bộ từ Lạp Tôn hàng trăm cây số để đến Giang Tử, với thân phận của một người hành hương, kết giao được mấy người bạn lạt ma. Nhờ sự giúp đỡ của những người bạn lạt ma đó, cậu đã lưu lại trong tu viện của chùa Bạch Cư ba tháng.
Trong ba tháng ấy, ngày nào cậu cũng trèo lên Tháp Mười Vạn Phật để lĩnh hội nhân sinh. Có một vị sống Phật tên là Cường Ba bảo cậu: Tuệ căn của cậu không tệ, nếu cậu cầu xin sự phù hộ của Trí Hành Phật Mẫu, có thể sẽ có đại trí tuệ, làm nên đại học vấn. Nói đoạn, vị ấy dẫn cậu đến trước bức tượng Trí Hành Phật Mẫu. Chu Ninh nhìn thấy hóa ra Trí Hành Phật Mẫu chính là một tôn mật tông Phật mẫu được người Tạng gọi là Cổ Lỗ Cổ Lý. Tóc nàng dựng ngược, đội mão năm đầu lâu, trừng lớn ba con mắt, hàm răng trắng lấp ló, trong cơn thịnh nộ phảng phất nét dịu thơm. Trên cổ đeo năm mươi cái đầu người sống, toàn thân đỏ rực, vung múa bốn cánh tay, trong đó hai tay cầm cung tên đỏ, giương mà chưa bắn, trên dây cung và thân tên điểm xuyết đầy hoa lá Ô Ba La, hai tay còn lại một tay nắm chuôi móc của chày kim cang, một tay cầm vòng khâu của dây hoa sen. Dưới bụng quấn váy da hổ, chân phải co lại, chân trái đứng trụ, giẫm lên thây người, phía sau là ngọn lửa hừng hực.
Từ đó Chu Ninh chỉ bái lạy trước mặt Trí Hành Phật Mẫu. Cậu tìm hiểu được rằng, một con người nếu tu hành theo nghi quỹ của Trí Hành Phật Mẫu, tu thành rồi lửa không thể đốt, nước không thể dìm, gió thổi không đổ, đất lún không chìm, không sinh bệnh tật, tuổi thọ vô hạn, cũng không gặp tai ương bất ngờ hay chiến loạn binh đao, xa rời những sự cản trở quấy nhiễu xung quanh, sinh mệnh và trí tuệ dài lâu như cây tùng. Công đức huy hoàng nhất của Trí Hành Phật Mẫu là: Dùng lưỡi làm kiếm, dùng bài văn hay làm rìu, khiến tất cả ngoại đạo tâm phục khẩu phục. Chu Ninh nghĩ đây chẳng phải là theo đuổi của mình sao? Tức là ý của Tô Tần, Trương Nghi, là ý dùng nửa bộ Luận Ngữ trị thiên hạ, là ý khẩu chiến quần nho, lấy lý phục người.
Chu Ninh còn khảo cứu được những thánh tích khác của Trí Hành Phật Mẫu. Trong bộ Kinh Hoan Hỷ Kim Cương Bản Xứ, cậu đã tìm thấy câu chuyện sớm nhất cũng là đẹp nhất về vị Phật mẫu này: Ở Ấn Độ cổ đại có một vị vua tên là Câu Sinh Hỉ (sinh ra đã biết cười), ngài có vô số phi tần, nô bộc và thần dân, có của cải dùng mãi không hết. Trong sáu cung sắc đẹp có một phi tần xinh đẹp xuất chúng, thông tuệ hơn người, được quốc vương vô cùng sủng ái. Nhưng sau đó chẳng vì thế mà quốc vương không thích nàng nữa, người con gái đẹp như hoa bị lạnh nhạt vùi vào bùn đất. Phi tần đau khổ đến mức ngày nào cũng rơi nước mắt. Có một cung nữ hầu cận bên mình cảm thấy động lòng trắc ẩn, bèn lén lút ra dân gian tìm kiếm bí phương có thể khiến quốc vương yêu lại phi tần. Cô ta đến chợ, một người phụ nữ toàn thân thơm nức đưa cho cô ta một loại thức ăn, nói chỉ cần phi tần ăn vào, nhất định sẽ lại được quốc vương sủng hạnh. Cung nữ cảm thấy loại thức ăn bình thường như vậy, đâu phải là thứ để phi tần ăn, bèn tiện tay ném xuống hồ nước bên đường. Nào ngờ Long thái tử đi ngang qua hồ nước, cảm thấy loại thức ăn đó có một mùi thơm lạ, liền nuốt trọn vào bụng. Sau đó Long thái tử không kìm chế được mà đem lòng yêu vị vương phi phàm trần này. Chàng biến thành vương thái tử, tỏ tình với vương phi, và tư tình với nàng. Một năm trôi qua, vương phi hạ sinh được một hoàng tử. Quốc vương vô cùng kinh ngạc, sau khi tra gạn ra sự thật, đã phái người bắt người phụ nữ toàn thân thơm nức từ ngoài chợ về. Người phụ nữ này biến hóa ra vô số thần thông trong vương cung, khiến quốc vương tâm phục khẩu phục. Quốc vương biết người phụ nữ thơm ngát chính là hóa thân của Cổ Lỗ Cổ Lý Phật mẫu, từ đó dốc hết tất cả những gì mình có để cúng dường vị Phật mẫu có thể khiến người ta sinh ra tình yêu này.
Chu Ninh nghĩ, vị Trí Hành Phật Mẫu mang tên Cổ Lỗ Cổ Lý này thật đúng là hợp với khẩu vị của mình, nàng chẳng phải là nữ thần Vệ Nữ hay sao? Đương nhiên nàng còn hoàn mỹ hơn Vệ Nữ, không chỉ không bị cụt một cánh tay, mà còn mọc ra bốn cánh tay khỏe mạnh có thể làm nên việc lớn.
Chu Ninh kính trọng Trí Hành Phật Mẫu không suy giảm, ngày ngày bái lạy, cho đến một hôm, sống Phật Cường Ba bảo cậu: Cậu nên đi thôi, đi làm việc của chính mình đi, cậu làm Phật sự ở bên ngoài cửa Phật, sẽ có ích hơn rất nhiều so với làm ở bên trong cửa Phật. Chu Ninh nói: Đối với Phật thì rốt cuộc em có ích lợi gì, có thể nói cho em biết được không? Sống Phật Cường Ba nói: Cậu là người đọc sách, viết một bài văn ca tụng Phật chắc là không có vấn đề gì chứ? Chu Ninh nói: Ý ngài là muốn em ca tụng Cổ Lỗ Cổ Lý sao? Sống Phật Cường Ba nói: Không không không, ở Tây Tạng chúng ta, người đáng được ca tụng nhất chính là Tông Khách Ba, không có ngài ấy thì sẽ không có Đạt Lai và Ban Thiền, sẽ không có thánh giáo phồn vinh hưng thịnh, và đương nhiên cũng sẽ không có Cổ Lỗ Cổ Lý rồi.
Nói cách khác, sống Phật Cường Ba đã đưa ra yêu cầu với Chu Ninh: Cậu không cần thắp hương, cũng không cần dập đầu, cậu chỉ cần viết văn là được, hơn nữa phải viết bài văn ca tụng Tông Khách Ba. Chu Ninh nghĩ, vậy thì viết đi, đằng nào trong lòng cậu cũng đã ca tụng không biết bao nhiêu lần rồi. Hơn nữa, cũng không thể cứ thế mà đi thẳng, thế nào cũng phải để lại chút kỷ niệm chứ. Thế là cậu viết, cậu viết một bản bằng tiếng Trung, lại viết một bản bằng tiếng Anh, giao cho sống Phật Cường Ba. Sống Phật Cường Ba xem xong, liền đặt nó trước tượng ngồi của Tông Khách Ba. Sau đó, bài viết này đã được sống Phật Cường Ba dịch thành tiếng Tạng và tiếng Mông Cổ, đăng trên một tờ tạp chí có tên là Chương Cáp Nhĩ.
Tôi vẫn luôn không hiểu mấy năm trước tại sao Chu Ninh lại gửi bài văn này cho tôi, bây giờ xem ra, có lẽ cậu ấy đã có sự tiên kiến——cậu ấy muốn tôi vào lúc cậu ấy đột nhiên rời đi, nhớ đến bài tán tụng của cậu ấy, nhớ đến việc cậu ấy yêu mến Tông Khách Ba, nhớ đến việc cậu ấy rời đi chẳng qua chỉ là quy y, quy y vào pháp môn của Tông Khách Ba, vị cao tăng đại đức quan trọng nhất kể từ thời Thích Ca Mâu Ni.
Coi như là tiễn đưa Chu Ninh đi, tôi nhẩm đọc lại bài tán tụng của cậu ấy:
Sẽ không bao giờ biến mất, cũng không thể thay thế——vào một dạo nào đó trong quá khứ, vầng thái dương của ngày hôm qua sau khi rực rỡ một thời gian, đã để lại ánh vàng vĩnh cửu cho mặt đất. Thế là, thứ ánh sáng lấp lánh tựa vàng xuyên qua toàn bộ bóng tối, mang sự sáng sủa chuyển vào trong lòng con người, mấy thế kỷ nay vẫn luôn như vậy; thế là con người tôn sùng sắc vàng, tôn sùng tất cả màu sắc của mặt trời, tôn sùng Tông Khách Ba, người đầu tiên đội chiếc mão vàng.
Tông Khách Ba là vua của thái dương. Ngài chiếu rọi vạn vật, thấm nhuần vạn vật, ảnh hưởng vạn vật, tự nhiên cũng sẽ tận khả năng cải tạo vạn vật. Ngài sinh ra tại một nơi tên là Lỗ Sa Nhĩ ở đoạn giữa sông Hoàng Thủy phía đông Thanh Hải, lúc được người ta cắt dây rốn, một giọt thánh máu ngấm vào trong đất, nơi đó liền mọc lên một cây bạch đàn hương vô cùng kỳ diệu. Cây ấy có mười vạn chiếc lá xanh, trên mỗi chiếc lá đều hiện lên hình ảnh một vị Sư Tử Hống Phật và năm loại Phật ngữ, Phật ngữ chính là chân ngôn Văn Thù, tức là: A, Nhã, Ba, Trát, Na. Dần dần, tượng Phật và tâm chú theo những chiếc lá non mọc nhiều đến hàng ức, cái cây ấy từ đó cũng được người ta gọi là Côn Bản Chiên Đàn, có ý nghĩa là cây đàn hương mang hàng ức tượng Phật. Cây này cành lá xum xuê, bốn mùa tươi tốt, dùng nước ngâm những chiếc lá vụn, liền có thể trừ uế trược, tiêu ma tật, khử bất tịnh; nếu đem lá đeo trước ngực để hộ thân, thì có thể gặp dữ hóa lành, vạn sự cát tường. Điều này có nghĩa là, chỉ một giọt máu của Tông Khách Ba đã cải tạo linh hồn và thể xác của chúng sinh, khiến tâm hướng Phật của họ ngày càng kiền thành, thân thể trong ngoài ngày càng thanh tịnh.
Từ đó về sau, kỳ tích cải tạo thế giới của Tông Khách Ba đã diễn ra trên một vùng đất rộng lớn hơn, tựa như mặt trời chiếu rọi khắp nơi, dưới bầu trời xanh thẳm vời vợi, chính là một vùng hoang dã không hề có bóng râm.
Tông Khách Ba là thân xác bằng xương bằng thịt của Bồ Tát Văn Thù đại trí đại dũng, sau khi ngài hóa hiện ra với chân thân của một vị Phật đầy cát tường từ bi, quê hương Lỗ Sa Nhĩ liền bỗng chốc mọc lên một ngôi chùa có quy mô hoành tráng, khí tượng trang nghiêm, người Tạng gọi nó là Côn Bản Giáng Lĩnh, có nghĩa là chùa Di Lặc với mười vạn tượng Phật Sư Tử Hống, lại bởi vì trước cửa dựng đứng tám tòa Như Ý Bảo Tháp, nên còn gọi là chùa Tháp Nhĩ. Mà tôi thì lại thích gọi nó là Đại Bộ Châu ức vạn tượng Phật.
Trấn ngự trung tâm Đại Bộ Châu chính là Đại Kim Ngõa Điện, đỉnh điện vươn cao cô độc, được bao phủ bởi bột vàng, rực rỡ tráng lệ sánh ngang thiên cung. Đó chính là chiếc mũ chóp nhọn màu vàng của Tông Khách Ba, chiếm lĩnh đỉnh cao thế giới, khiến người ta chiêm ngưỡng, khiến người ta chiêm ngưỡng không dứt. Đức tin của chúng sinh cứ thế mà trở thành toàn bộ cuộc sống trong sự chiêm ngưỡng ấy. Sùng bái mặt trời, chính là sùng bái thần Phật, sùng bái Tông Khách Ba. Mà đối với chúng sinh——những chúng sinh ưu tú ấy, sự sùng bái chính là dựa vào sự kiên cường không thể tưởng tượng nổi, vô điều kiện dùng thân thể mình hết lần này đến lần khác đo đạc con đường hành hương xa xôi vạn dặm.
Thế nhưng kỳ tích thực sự tạo dựng lịch sử, ảnh hưởng đến cuộc sống chốn thiên đường và trần gian, lại khởi nguồn từ vùng đất Tạng xa xôi cách trở quê nhà, chốn Tiền Tạng và Hậu Tạng, A Lý và Khang Khu vực được muôn núi bảo vệ. Ở vùng đất xa lạ rộng lớn với muôn phái tôn giáo đứng chân này, ngài mang hành lý trên lưng, ăn gió nằm sương, từ năm mười sáu tuổi cứ thế bôn ba cho đến năm sáu mươi mươi hai tuổi thị hiện nhục thân viên tịch, đôi bàn chân dẫm đạp ra vô số con đường lợi ích quanh co khúc khuỷu. Đây là một con đường xây dựng vô lượng công đức bằng sự dũng cảm siêu phàm thoát tục, là con đường hiến thân cho chúng sinh vùng Tạng với mục tiêu cuối cùng là theo đuổi tinh thần, là một cuộc tiến công vĩ đại và bi tráng nhằm cứu rỗi linh hồn nhân loại.
Tông Khách Ba tư duy nhạy bén, tài hùng biện vượt người, dung nhan trang nghiêm uy vũ, âm vang hùng tráng cởi mở, núi non phải khuất phục, giáo môn đều ngưỡng chung, các lạt ma và muôn vật tựa như giấc mộng lớn bừng tỉnh, tựa như vết bẩn cứng đầu được gột rửa, tựa như ngàn khe vạn nước cuồn cuộn chảy tràn trên bãi cỏ hoang, ào ạt hướng ra biển lớn. Phàm phu thường gọi là Hoàng giáo chính là giáo phái Cách Lỗ giữ giới răn thiện quy, được vây quanh trùng điệp bởi Hắc giáo, Hồng giáo, Bạch giáo và Hoa giáo có biểu tượng là dải sọc ba màu đỏ trắng xanh, đã sừng sững vươn lên. Từ đó hình thành nên cục diện lớn của lịch sử và tín ngưỡng muôn màu muôn vẻ, duy chỉ có màu vàng là độc tôn.
Tông Khách Ba là vị thần bằng xương bằng thịt. Đạo đức của ngài đời người không thể sánh kịp, tông phong của ngài không giáo phái nào không tôn sùng, ánh hào quang của ngài tỏa sáng vạn trượng, sự nghiệp làm lợi cho cõi Phật và chúng sinh của ngài vô cùng to lớn sâu xa, các bậc cao nhân đại đức bốn phương gọi ngài là vị Phật thứ hai ngoài thế tôn Phật Thích Ca.
Cũng giống như Đức Phật, một khi đại nghiệp của vị Phật thứ hai đã được xác định, thì sẽ mang theo năng lượng vượt qua thời gian không gian, tinh thần của ngài thấm sâu vào da thịt, lan tỏa khắp bốn phương tám hướng và trăm đời hậu thế, núi cao không thể ngăn cản, đao búa không thể chặt đứt, môn đồ muôn vàn, cao đồ vô số. Cõi Phật chí tôn nhìn thấy những kẻ có căn tính trác tuyệt, tuệ minh cao khiết có thể thay trời hành đạo, giáo hóa sinh linh, liền nhập phàm thai, hóa hiện thành nhục thân với danh hiệu đệ tử của Tông Khách Ba, khơi dậy nguồn sức mạnh tín ngưỡng bộc phát từ tận đáy lòng của con người, từ đó cải tạo đời sống thường nhật thành muôn mặt của hạnh nguyện cứu độ chúng sinh.
Thế là Bồ Tát Quán Thế Âm đại từ đại bi đến với nhân gian dưới hình hài của con người, đó chính là Đạt Lai Lạt Ma. Đạt Lai Lạt Ma là tôn hiệu mà thiên thần và nhân chủ ban tặng cho ngài, toàn xưng là: Thánh Thức Nhất Thiết Oa Tế Nhĩ Đạt Lai Lạt Ma. Nó được cấu thành từ tiếng Mông Cổ, tiếng Tạng và tiếng Trung, có nghĩa là bậc đại sư mắt nhìn đại thiên thế giới, pháp lực vô biên vô tận, trí tuệ tựa như biển lớn. Mà hóa thân của Vô Lượng Quang Phật cát tường sáng láng ở nhân gian lại chính là Ban Thiền Lạt Ma, toàn xưng là Ban Trí Đạt Thiền Ba Ngạch Nhĩ Đức Ni, có ý nghĩa là tôn sư trí tuệ rộng lớn, rực rỡ như ngọc quý.
Bởi vì có hai vị đệ tử luân hồi chuyển thế đời đời kiếp kiếp đến vô cùng là Đạt Lai và Ban Thiền, vị Tông Khách Ba thần thánh mới có thể trường sinh bất tử. Ngài đường hoàng ngồi trên bờ bến của sự tín thành, ca tụng thiên đường, phù trợ sự nghiệp nhân gian, đại đức ngát hương, khiến thế giới này dưới ánh mặt trời rực rỡ chói chang có được một phiến tịnh thổ tuyết vực cao ngút và trang nghiêm.
Bây giờ, chúng ta nhìn thấy, ở tất cả các ngôi chùa lớn của Hoàng giáo trong vùng đất Tạng đều cư ngụ Tông Khách Ba. Ngài đội chiếc mũ chóp nhọn màu vàng, trước ngực kết ấn chuyển pháp luân, từ lòng bàn tay vươn ra hai nhành hoa sen, cuống hoa uốn cong hướng lên hai phía, hoa và lá tươi tắn non nớt, trong cánh hoa bên trái có một thanh bảo kiếm, trong cánh hoa bên phải có một tập kinh sách, bảo tướng trang nghiêm này hệt như Bồ Tát Văn Thù. Mà ở hai gian tả hữu của ngài, đang kiết già ngồi xếp bằng là hai người học trò mang quyết tâm kéo dài sinh mệnh của ngài: Đạt Lai và Ban Thiền.
Sắc vàng, thứ sắc vàng làm rung động lòng người, tráng lệ huy hoàng, sung túc phú quý ấy, trên nóc nhà của thế giới, vào lúc hoàng hôn của nhân loại, dưới hình hài của tôn Phật nhân gian, pháp tướng kim thân, đã tràn ngập sức quyến rũ to lớn.
Mặt trời mọc lên từ phương Đông chỉ có thể thuộc về Tây Thiên, đây là chốn về vĩnh hằng.
Dọc theo quỹ đạo của mặt trời, chúng ta lao về Tây Thiên.
Chu Ninh sau khi rời khỏi chùa Bạch Cư Giang Tử, lại đi đến hồ nước có độ cao lớn nhất thế giới——Nam Mộc Thố. Nam Mộc Thố có nghĩa là hồ Trời, diện tích là một nghìn chín trăm hai mươi kilômét vuông. Nó còn có một cái tên bằng tiếng Mông Cổ: Đằng Cách Lý Hải. Nó quả thực là một biển lớn, bởi vì cho đến tận ngày nay, nó vẫn tuân theo ý chỉ của mặt trăng, giữ lại phong trào thủy triều cổ xưa. Chu Ninh đã ở đó một tháng, đi theo một đám người hành hương đến từ khắp nơi trên Tây Tạng và Nội Mông, đi vòng quanh hồ một chuyến. Cậu nhìn thấy khắp nơi đều là đống Mani, đống Mani nối liền thành một dải, biến thành bức tường vây của hồ lớn. Những người hành hương bảo cậu, đó là Đóa Bàng, Đóa Bàng có nghĩa là mười vạn hòn đá kinh. Trên đống Mani treo những lá cờ kinh vây đầy màu sắc, giống như chiếc váy hoa xinh đẹp của các cô gái. Người hành hương mỗi khi đi qua một nơi nào đó, đều phải ném một viên hòn đá, ném một viên đá liền tương đương với niệm một biến kinh. Lại có cả những chiếc sọ bò khắc kinh văn, hiên ngang vươn cao trên đống Mani, khiến người ta có cảm giác chết đi còn có sức sống hơn là sống.
Cậu cứ đi bước đi ngày đêm không nghỉ, dùng nước của hồ thánh để rửa mặt gội đầu, dùng nước của hồ thánh để nấu cơm giải khát, cuối cùng có một ngày, cậu phát hiện ra mình đã quay trở lại nơi xuất phát. Cậu chợt nhận ra, thực ra nhân sinh cũng như vạn vật thế gian vốn không có bắt đầu cũng không có kết thúc, tất cả đều là một vòng tròn; hay nói cách khác là bất cứ lúc nào cũng đang bắt đầu và bất cứ lúc nào cũng đang kết thúc, giống như việc cậu đến Tây Tạng tất yếu phải rời khỏi Tây Tạng, rốt cuộc rời đi là mục đích hay đến là mục đích? Nghĩ như vậy, cậu liền dứt khoát rời khỏi Nam Mộc Thố.
Hai ngày sau, cậu đến một nơi gọi là Kỳ Vưu Lặc Ô Cam Châu Nhĩ, tức là Cam Châu Nhĩ bằng đá. Tương truyền từ rất lâu về trước, một nhóm người Mông Cổ đi Lạp Tôn hành hương, tại Đại pháp hội cầu nguyện Mao Lạp Mẫu, vì sự kiền thành mà đã nhận được sự tán dương của vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm. Đạt Lai nói: Ta muốn ban thưởng cho các ngươi, nhưng không biết các ngươi cần nhất thứ gì. Người Mông Cổ nói: Chúng tôi cần nhất là kinh quyển được Đạt Lai Lạt Ma gia trì. Đạt Lai Lạt Ma liền ban cho họ một trăm linh tám quyển Cam Châu Nhĩ. Họ lùa gia súc, chở kinh quyển trên lưng quay về, đi được nửa đường thì gặp cướp cướp bóc. Bọn cướp đã sát hại tất cả những người Mông Cổ, muốn cướp đi kinh quyển. Kinh quyển bỗng nhiên phát ra một trận âm thanh gió mưa thổi quét, một trăm linh tám quyển Cam Châu Nhĩ tức thì biến thành một trăm linh tám tấm phiến đá.
Chu Ninh nhìn thấy, trên bãi cỏ rộng lớn sừng sững một ngọn núi, trong núi có một cái hang, trước hang có một bức tường cao khoảng một trượng, chính là do những phiến đá lớn biến thành từ kinh quyển xếp thành. Ở giữa bức tường có một khe nứt, mọi người đều nói khe nứt là hòn đá thử vàng cho linh hồn của một con người, kẻ nội tâm dơ bẩn không qua được, kẻ có tội nghiệt không qua được, nếu cứ cố đi qua, khe nứt sẽ đột nhiên thu nhỏ lại rồi kẹp chết hắn. Rất nhiều người khi đi qua khe nứt đều bị kẹp chết, mà những người đi qua suôn sẻ thì hân hoan hỉ hả, gặp ai cũng nói tôi trong sạch không một tì vết.
Chu Ninh nhìn thấy, rất nhiều mục dân đến từ khắp nơi trên đất nước đều đang xếp hàng, tìm đủ mọi cách muốn đi qua khe nứt đó, có những người béo thậm chí còn cởi sạch quần áo, nghiêng người chen chúc về phía trước, khiến mọi người cười ngả nghiêng. Chu Ninh nghĩ nhiều người như vậy hy vọng bản thân mình trong sạch không có tội nghiệt, thế nhưng trong sạch hay không chẳng lẽ tự anh ta không biết sao? Cậu tự hỏi mình: Vậy còn tôi thì sao? Linh hồn của tôi ra sao? Tôi có tội nghiệt gì không? Cậu phát hiện ra bản thân mình cũng rất khó trả lời. Thế là cậu cũng muốn tra vấn linh hồn của chính mình. Cậu xếp vào hàng ngũ, xếp từ buổi sáng đến buổi chiều, bởi vì đằng trước có rất nhiều người không qua được khe nứt mà cứ cố vượt qua, thế nên thường hay bị kẹt lại ở đó. Cậu kiên nhẫn xếp hàng tiếp, cứ xếp mãi cho đến tối.
Mặt trăng nhô lên, cậu đột nhiên phát hiện bóng của những người khác đều không có đầu, mà trên bóng của chính mình lại mọc ra sáu cái đầu. Tiếp theo cậu lại phát hiện bức tường bằng phiến đá kinh đó chi chít những chữ viết. Cậu bước ra khỏi hàng ngũ, đi đến bên bức tường, dùng tay sờ thử, vậy mà chẳng sờ thấy gì cả. Tường đâu? Sao lại không thấy nữa? Hay là tay của mình không còn nữa? Cậu sờ lại lần nữa, vẫn không có. Trong lòng chợt động: Điều này chứng tỏ cái gì? Là phiến đá kinh không tồn tại nữa hay sao? Hay là bản thân tôi không chướng ngại, đã đạt đến cảnh giới không sợ hãi gì rồi? Nói cách khác, rốt cuộc là tôi tội ác tày trời thành con ma mà thần Phật không quản được, hay là trong sạch tựa như trinh nữ tựa như tiên nhân trong thiên đường đây? Cậu nghĩ vậy thì hãy kiểm chứng thử xem, bước qua một bước, chẳng chạm phải cái gì cả, lại bước thêm một bước, vẫn chẳng chạm phải cái gì cả, liên tiếp bước mấy bước, quay đầu nhìn lại, bản thân mình đã xuyên qua bức tường từ lúc nào rồi.
Sau đó cậu nói với tôi rằng: Đây đại khái là ảo giác nhỉ? Bóng của tôi thực sự mọc ra sáu cái đầu sao? Tôi thực sự từng xuyên tường bước vào sao? Tôi nói: Thực ra ảo giác và chân thực đều là một loại cảm giác, nội tâm càng kiền thành thì càng phân biệt không rõ sự khác biệt giữa chúng.
Tiến về phía Lạp Tôn
Chiếc xe Jeep Bắc Kinh lao về phía Lạp Tôn trong màn sương mờ sau cơn mưa.
Cũng may, bùn đá dòng dù vẫn đang chảy, nhưng cũng đã là nỏ mạnh hết đà. Ô tô lao thẳng vào đống bùn, nước bùn bắn lên cao vút. Ngọn núi lở vào tối ngày hôm qua phần lớn đã trượt xuống sông Lạp Tôn, coi như không chặn mất đường đi của ô tô. Tâm trạng của họ tốt lên——con đường dẫu có khúc khuỷu, thì rốt cuộc vẫn đang kéo dài, hơn nữa không có dấu hiệu cho thấy sẽ tiếp tục xuất hiện dòng bùn đá.
Những tấm biển gỗ, liên tục có những tấm biển gỗ xiêu vẹo dựng bên đường, chỉ dẫn họ đi đường tắt bằng cả hai thứ tiếng Hán và Tạng, nhưng có đôi khi hoàn toàn không tìm thấy đường tắt, không tìm thấy thì cứ đi bừa, có một lần suýt chút nữa đã đi thẳng xuống sông Lạp Tôn. Nước sông Lạp Tôn lúc này đang gầm thét, chỉ hận không thể cuồn cuộn chảy qua để hất văng dãy Himalaya đi. Họ vội vã vã mồ hôi hột, vội vàng lùi xe lại, lùi lại rồi đi theo con đường khác, thì đi vào một con sông khác. Nước sông chỉ ngập đến đầu gối, nhưng bên dưới dòng nước là bùn loãng, chớp mắt đã hút chặt lấy bánh xe.
Có rất nhiều phu phen người Tạng đang đứng chờ bên bờ sông, nhìn chiếc xe của Tôn Học Minh và những người khác với vẻ chực chờ thử sức.
Tôn Học Minh hét lên: Đẩy xe một lần bao nhiêu tiền?
Có người lập tức đáp: Mười tệ.
Dường như cái giá giúp người đẩy xe ở Tây Tạng đã được cơ quan vật giá quy định sẵn rồi, đều là mười tệ. Bốn năm người vui vẻ nhảy xuống sông, vừa hát vừa đẩy chiếc Jeep Bắc Kinh lên bờ.
Tôn Học Minh trả tiền, hỏi họ có nhìn thấy hai tín đồ Bôn giáo mang tù và không? Có nhìn thấy một người phu phen ở Nhật Khách Tắc không? Có nhìn thấy viên cảnh sát tên là Tạp Tây không?
Họ ngẩn người ra, bỗng nhiên có người hét lên: Thấy chứ, anh cho bao nhiêu tiền, tôi nói cho anh biết?
Tôn Học Minh nói: Mười tệ.
Người kia nói: Tôi từng thấy hai tín đồ Bôn giáo, họ đi Lạp Tôn rồi.
Tôn Học Minh nói: Đi từ lúc nào?
Người kia nói: Hôm qua, không đúng, hôm kia.
Lại có người nói: Tôi từng thấy viên cảnh sát đó, anh ta cũng đi qua vào hôm kia.
Tôn Học Minh nói: Thật không?
Đáp rằng: Lừa anh không bằng động vật.
Tôn Học Minh nói: Nghe giọng điệu này của các người tôi càng tin là các người đang lừa tôi, nhưng tôi vẫn cứ phải đưa tiền cho các người, bởi vì ngộ nhỡ các người nói thật mà tôi không thực hiện lời hứa thì Phật sẽ trừng phạt tôi. Đây dẫu sao cũng ở dưới mí mắt của Phật, nhất cử nhất động đều phải phù hợp với ý nguyện của Phật.
Tôn Học Minh lấy ra hai mươi tệ đưa cho hai kẻ cung cấp manh mối. Họ tiếp tục tiến về phía trước, đi chưa được bao xa thì lại gặp một con sông khó hiểu, lại một lần nữa sa lầy dưới lòng sông. Lần này kẻ muốn kiếm mười tệ quá đông, chớp mắt đã nhảy bổ tới hơn chục người, vây quanh xe mà chẳng còn chỗ để nhúng tay vào nữa. Có người cất tiếng hát, tiếng hát vừa dứt, chiếc ô tô đã bị họ nhấc bổng ra khỏi vũng lầy. Tôn Học Minh xuống xe rút tiền, một đám đông lớn vây quanh anh ta, chìa ra quá nhiều bàn tay đến nỗi anh ta chẳng biết đâu mới là bàn tay đã đẩy xe nữa.
Tôn Học Minh nói: Không được, đông người thế này, sao tôi phân biệt được ai đã ra sức ai chưa ra sức? Nếu đều cho tiền, tôi chỉ có thể mỗi người cho năm tệ thôi.
Những kẻ đó cũng chẳng so đo, vừa hùa theo vừa đòi tiền, cầm tiền xong thì cười hề hề, ra vẻ kiếm được dễ như trở bàn tay.
Trả tiền xong, mau chóng rời đi, lại là một con sông nữa, Tôn Học Minh mang tâm lý thần kinh quẳng chiếc ví ra, chỉ nghe Trương Trường Thọ cười ha hả, đạp ga một cái, ô tô ào ào vượt qua dòng nước, phóng lên bờ tựa như nhảy tam cấp.
Tôn Học Minh nói: Bây giờ tôi có hơi thần kinh rồi, cứ nhìn thấy nước là lại muốn móc tiền, đường sá khó đi quá, người Tạng thay đổi rồi, thay đổi đến mức vứt bỏ cả sự chất phác rồi.
Thế nhưng sau đó anh ta lại nói: Có người cho rằng hễ là người Tạng thì nhất định phải chất phác, cho nên hễ thấy người Tạng giúp người vì tiền là lại tỏ ra kinh ngạc: Sao lại có thể như vậy chứ? Thực ra kẻ giúp người vì tiền thì chỗ nào mà chẳng có? So với điều đó, chẳng phải trong số người Hán ở nội địa còn nhiều hơn sao? Ngược lại mà nói, sự chất phác chưa chắc đã là độc quyền của người Tạng, những người chất phác ở các vùng quê người Hán chẳng phải cũng nhiều như nấm mọc sau mưa đó sao? Sự chất phác và sự bế tắc, lạc hậu thường có liên quan với nhau, mà hiện tại, cửa đã mở ra, văn minh đã đến, không còn bế tắc không còn lạc hậu nữa, tại sao cứ phải khư khư giữ lấy sự chất phác làm gì? Người Tạng cưỡi ngựa là những người thật thà chất phác, bởi vì anh ta học cách làm người từ ông nội của mình; người Tạng cưỡi mô-tô thì chưa chắc đã thật thà chất phác nữa, bởi vì anh ta bắt buộc phải học cách đối nhân xử thế ngoại lai từ những con người bên ngoài đến.
Không còn gặp dòng sông nào nữa, cũng không gặp nguy hiểm nào nữa, ô tô chạy lên con đường nhựa trải nhựa đường, những người trong xe thở phào nhẹ nhõm, toàn thân thả lỏng đi rất nhiều.
Dãy núi lùi dần về phía xa, tầm nhìn dần dần rộng mở, lòng sông trở nên khoáng đạt, sông Lạp Tôn không còn hung dữ đáng sợ như trước nữa, thung lũng bộc lộ lồng ngực, tận lực trưng bày bản thân một cách triệt để nhất——có làng mạc, có đồng lúa mì, có phong cảnh tươi đẹp, và đương nhiên cũng có cả tâm trạng nữa.
Vương Tiêu Tiêu nhoài người bên cửa sổ, đắm say nhìn hai bờ sông Lạp Tôn, đột nhiên dâng lên khao khát muốn cất tiếng hát, lúc sắp ngâm nga lên, thì lại bị tiếng hát bùng nổ của Tôn Học Minh cắt đứt.
Đó là ca khúc Sông Lạp Tôn, là giai điệu hoang dã kiểu Khorchenko, là từ ngữ của Tôn Học Minh:
Con sông ấy nuôi dưỡng ngôi làng của chú cừu vàng,
Con sông ấy nhấn chìm vết xe của Đại Tạng Vương,
Con sông ấy là dòng sữa mát lành tan ra từ băng tuyết,
Trên con sông ấy bè da bò làm thuyền nhẹ.
——Tôi đã uống thứ trà nấu từ nước sông,
Kể từ đó về sau,
Hễ dọc đường thấy khát khô,
Là tôi lại nhớ đến sông Lạp Tôn.
Con sông ấy từng lắng nghe những khúc ca bi thương,
Con sông ấy chỉ giải cơn khát cho người lương thiện,
Con sông ấy nhẫn nhịn những nỗi đau mang lại cho mình,
Con sông ấy gột rửa đi những ô trọc chốn trần gian.
——Tôi từng tắm vào đêm thất tịch mùa hè,
Kể từ đó về sau,
Hễ cứ mưu cầu hạnh phúc,
Là tôi lại nhớ đến sông Lạp Tôn.
Con sông ấy không làm thay đổi sự trong trẻo nguyên sơ,
Con sông ấy đun nóng ánh mặt trời và niềm vui,
Con sông ấy khoác lên mình những lời cầu nguyện muôn màu,
Những bọt sóng ấy từng hóa thành vô số thiên nga vàng.
——Tôi từng cõng gánh nước mà A Mã từng cõng,
Kể từ đó về sau,
Mỗi một con sông tôi nhìn thấy,
Đều là sông Lạp Tôn.
Vương Tiêu Tiêu nói: Sao lại mới chỉ là ngôi làng của chú cừu vàng chứ? Quá hiền lành, quá mức nhỏ nhen rồi, phải là sư tử vàng, hổ vàng, núi Kim Cương, thành Kim Cương chứ.
Tôn Học Minh nói: Cừu vàng là sứ giả của thần linh, lúc nó ngao du thiên hạ, đã phát hiện ra một nơi tên là Ngọa Mã Đường tỏa sáng ánh hào quang thần bí, liền bẩm báo với Tạng Vương Tùng Tạng Cán Bố - vị thần chủ ở nhân gian, Tùng Tạng Cán Bố liền định đô ở đây, đó chính là Lạp Tôn sau này.
Lạp Tôn sắp đến rồi, còn khoảng ba bốn mươi cây số đường đi nữa.
Tôn Học Minh nhìn đồng hồ nói: Các cậu dự cảm thử xem, ai sẽ đến trước trước cung điện Potala?
Vương Tiêu Tiêu nói: Chắc chắn là chúng ta rồi.
Trương Trường Thọ nói: Xe của người ta tốt hơn chúng ta, đi con đường chắc chắn cũng bằng phẳng hơn chúng ta, nói đâu hay đã đến từ lâu rồi.
Vương Tiêu Tiêu nói: Em vẫn cảm thấy chúng ta đến trước.
Tôn Học Minh nói: Mong là ba ngả nhân mã cùng lúc đến nơi, chúng ta có thể tạm thời chẳng màng gì hết, đi chiêm bái cung điện Potala trước đã. Lại nói, hễ cứ nghĩ đến cung điện Potala là tôi lại xúc động, ngày trước ở Thanh Hải cứ cách một năm là lại đến Lạp Tôn một chuyến, chiêm bái cung điện Potala một lần; bây giờ thì không được nữa rồi, bây giờ định cư ở Bắc Kinh, tới một chuyến không dễ dàng gì, thế nên hễ cứ nhìn thấy cung điện Potala trên tivi là nước mắt lại chực trào rưng rưng.
Nói xong liền im lặng, im lặng một lát lại cùng Vương Tiêu Tiêu cất tiếng hát bài Cung điện Potala, vẫn là màn hợp tác giữa anh ta và Khorchenko, vẫn thắm thiết nhường ấy, cao vút nhường ấy:
Tôi đứng trên núi Nhật Nguyệt ngắm nhìn em,
Nhìn thấy một dải cầu vồng không bao giờ phai;
Tôi đứng trên hồ Thanh Hải ngắm nhìn em,
Nhìn thấy một ngọn đèn vàng không bao giờ tắt;
Tôi bước đi thật dài đến gần thật chậm,
Mong mỏi vượt qua tất cả sự cô độc,
Tất cả những mùa xuân hạ thu đông.
Không tìm thấy ngôn từ nào để ngợi ca em,
Cung điện Potala của tôi,
Chỉ đành chắp tay nhẩm thầm một câu Ám-ma-ni-bát-mê-hồng.
Từng tòa cung điện chồng chất tận trời,
Đó là niềm tin được con người quật cường dựng xây;
Từng tôn tượng Phật đến với nhân gian,
Còn có cả kinh sách thangka tường đá và gạch cũ;
Đó là bầu trời vùng đất Tạng xa xôi cao vời trong tim,
Tôi dùng đầu cúi dập lạy sát gạch,
Nguyện vứt bỏ toàn bộ tài sản toàn bộ tâm nguyện.
Không tìm thấy tư tưởng nào để biểu đạt em,
Cung điện Potala của tôi,
Chỉ đành chắp tay nhẩm thầm một câu Ám-ma-ni-bát-mê-hồng.
Đứng trước tháp linh cữu của Potala,
Quen biết đại lạt ma Cách Liệt Tắc Đán,
Ngài mỉm cười nhìn ngắm chân trời xa,
Thế là tôi nhìn thấy chiếc cà sa đỏ của lạt ma,
Bay về phía cung điện Potala càng xa càng xa hơn nữa,
Lưu truyền hàng triệu năm cơ chứ cung điện của thần linh,
Bến bờ của tâm hồn vẫn cứ xa vời vợi.
Hôm nay tôi đến cung điện Potala,
Khắp bầu trời đều là cơn gió kiền thành,
Hành động tín ngưỡng đã tích tụ qua hàng nghìn hàng trăm năm,
Cũng chỉ là chắp tay nhẩm thầm một câu Ám-ma-ni-bát-mê-hồng.
Lạp Tôn đã đến rồi.
Đường phố rộng rãi khiến người ta thấy thoải mái dễ chịu, kiến trúc rực rỡ sắc màu khiến người ta hoa mắt mê mẩn, đâu đâu cũng là quán ăn do người Tứ Xuyên và người theo đạo Hồi mở, đâu đâu cũng là những cửa hiệu có hàng hóa tràn ra cả ngoài cửa, đâu đâu cũng là màu sắc của những thành phố vừa và nhỏ ở nội địa, Lạp Tôn nhanh chóng trở nên phồn hoa náo nhiệt, khiến họ chẳng thể tìm lại được sự chất phác và tĩnh lặng của nó nữa, chẳng thể tìm lại được sự thần bí xa xôi trong ký ức, sự thần bí cao ngút mang theo chút đáng sợ, sự thần bí mà ở trong đó sự tĩnh lặng, ánh mặt trời và tuyết trắng cùng tồn tại nữa. Phải làm sao đây? Lạp Tôn thay đổi đến mức tôi chẳng thể nhận ra nổi nữa, phải làm sao đây? Tôn Học Minh gào lên.
Vương Tiêu Tiêu nói: Sao lại phải làm sao?
Tôn Học Minh nói: Tại sao những tòa nhà mới xây lại không có đặc sắc kiến trúc của người Tạng chứ? Cũng giống như một người đi đường, học theo dáng đi của người khác thì đi tốt hơn, hay là tự mình đi theo cách của mình thì tốt hơn?
Vương Tiêu Tiêu nói: Nếu dáng đi của người ta đẹp, tại sao không học chứ?
Tôn Học Minh nói: Nhưng lịch sử chỉ lưu giữ đặc sắc.
Vương Tiêu Tiêu nói: Bây giờ điều quan trọng nhất là phát triển, không phát triển thì không thể có cuộc sống tốt đẹp được, không thể vì thỏa mãn sự tò mò của anh, mà bắt người ta cứ mãi nghèo nàn cổ xưa được.
Tôn Học Minh nói: Cái này thì liên quan gì đến việc làm công trình đô thị bắt buộc phải giữ gìn đặc sắc địa phương chứ?
Vương Tiêu Tiêu nói: Đương nhiên là có chứ, bởi vì mọi người đều vội vã phát triển, đến mức chẳng kịp giữ gìn đặc sắc nữa rồi.
Tôn Học Minh nói: Nơi này là thế giới được bàn tay Phật che chở, là nơi chỉ cần Phật thổi một hơi là có thể sưởi ấm, là vùng cao nguyên ở gần thiên đường nhất, là cõi tiên giới mập mờ giữa người và thần, con người ở đây đáng lẽ ra phải hạnh phúc vui vẻ hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Thế nhưng đối với Lạp Tôn mà nói, đặc sắc chính là tất cả, tại sao không thể dùng cùng một số tiền đó, để làm những việc tốt hơn chứ?
Vương Tiêu Tiêu nói: Ý kiến này sao cậu không góp từ sớm? Toàn nói chuyện sau khi sự việc đã rồi.
Tôn Học Minh nói: Bọn họ có trưng cầu ý kiến của tôi đâu mà tôi góp?
Họ không cãi nhau nữa, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Vương Tiêu Tiêu cất tiếng hát: Mặt trời của ngày hôm qua thuộc về ngày hôm qua, những ngày tháng của ngày hôm nay mang một vẻ đẹp diện mạo hoàn toàn mới.
Trên đường phố xe cộ qua lại tấp nập, luật giao thông ở đây có vẻ như không được nghiêm ngặt cho lắm, ô tô đi ngày một chậm lại, chốc chốc lại dừng lại, đợi người đi bộ nhường đường. Mấy người phụ nữ Tạng đi tới bên cửa sổ xe, nhiệt tình chèo kéo những chiếc vòng cổ trong tay họ. Tôn Học Minh chê đắt, họ liền dùng giọng điệu nài nỉ để nói: Nói chuyện cho đàng hoàng mà. Vương Tiêu Tiêu nói: Không đắt không đắt, món đồ đẹp thế này mà chỉ có hai mươi tệ thôi. Lập tức rút tiền mua mấy chuỗi. Mấy người phụ nữ Tạng vui vẻ rời đi.
Họ tiếp tục tiến về phía trước, bỗng chốc, cung điện Potala xuất hiện ngay trên đỉnh đầu.