Chúng ta rốt cuộc vì điều gì?
Vậy rốt cuộc vì điều gì?—— Chúng ta đã đến, chỉ vì một cuộc điện thoại, chúng ta từ trên trời dưới đất không quản đường xá xa xôi mà đến.
Đầu tiên là bạn tôi, nhà văn Tôn Học Minh, bay từ Bắc Kinh đi Tây Ninh, Thanh Hải. Tiếp theo, Chu Ninh, giáo sư kiêm hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ của khoa Trung Văn thuộc Đại học Hạ Môn, bay từ Nam Hải đi Tây Ninh; Trương Văn Hỏa, biên tập viên chủ nhiệm kiêm họa sĩ của tạp chí "Mỹ Thuật" thuộc Liên hiệp Giới Văn học Nghệ thuật Trung Quốc, bay từ Bắc Kinh đi Tây Ninh; Vương Tiêu Tiêu, quản lý bộ phận hoạch định của Công ty Văn hóa Đại Dương Quảng Châu, bay từ Quảng Châu đến Bắc Kinh rồi lại bay đi Tây Ninh. Họ chẳng màng điều gì nữa—— sự nghiệp, công việc, kiếm tiền, mưu sinh, thậm chí cả gia đình và người yêu, tất cả chỉ vì một chuyến khởi hành mà tạm thời họ chưa nói rõ được lý do. Ngày 12 tháng 8 năm 2000, họ tụ họp tại Tây Ninh, bắt đầu công tác chuẩn bị khẩn trương. Tôi là người đến cuối cùng, lúc tôi vội vã từ Thanh Đảo cản cản cản cản cản đến thì công tác chuẩn bị đã hoàn tất.
Dường như từng có hẹn ước, dường như là mật khẩu tâm giao, dường như mọi thứ vốn nên là như thế. Sự ăn ý hóa ra lại có sức hút kỳ diệu đến vậy. Nó khiến chúng ta dự cảm rằng: có lẽ mọi lý do không đứng vững được, sau này đều sẽ trở thành lý do thực sự.
Và chúng ta sẽ vì bất kỳ loại lý do nào mà dốc hết toàn bộ nhiệt huyết của mình.
Trời đã nhá nhem tối, cộng thêm tốc độ xe quá nhanh, lúc sắp đến thị trấn Đô Lan, chiếc Jeep Cherokee chạy ở vị trí cuối cùng đã đâm lật một con bò Tây Tạng. Người đàn ông chặn bò mặc trang phục Tạng sợ chúng tôi chạy mất, cưỡi ngựa đuổi theo phi nước đại lên chặn ngang đầu ô tô. Thật ra người của chúng tôi đâu có muốn chạy, nếu muốn chạy thì ngựa hồng sao có thể là đối thủ của Cherokee.
Con bò đã chết, máu tươi loang lổ dưới thân, nhuốm đỏ mặt đường gần như sắp trong suốt.
Trương Văn Hỏa, Chu Ninh cùng tài xế bước xuống xe, thương lượng vấn đề bồi thường với người đàn ông chặn bò.
Người đàn ông chặn bò nói: Hai nghìn.
Trương Văn Hỏa nói: Nhiều quá, cao lắm chỉ bồi thường cho anh một nghìn thôi, vì đây không chỉ là trách nhiệm của chúng tôi, sao bò lại có thể tùy tiện lên đường cao tốc chứ?
Người đàn ông chặn bò nói: Một nghìn tám.
Trương Văn Hỏa nói: Một nghìn còn phải bàn lại đấy.
Người đàn ông chặn bò nói: Một nghìn rưỡi.
Trương Văn Hỏa vẫn khăng khăng một nghìn. Hai người bắt đầu cãi nhau.
Chúng tôi ở phía trước, thấy chiếc Cherokee mãi không đuổi theo, đoán là đã xảy ra vấn đề nên vội vã quay xe lại. Người đàn ông chặn bò vừa nhìn thấy Hứa Tân Quốc bước xuống xe liền lập tức không cãi nữa.
Người đàn ông chặn bò trợn trừng đôi mắt sáng quắc lên nói: Viện trưởng Hứa, các anh đi chung một nhóm à? Đã chung một nhóm thì không cần bồi thường nữa, tôi bán thịt cho các anh nhé.
Vương Tiêu Tiêu nói: Hai người quen nhau à? Người đàn ông chặn bò cười hề hề.
Hứa Tân Quốc nói: Vùng này không có ai là không quen tôi cả, rất nhiều người trước kia từng là phu phen do tôi thuê để đào mộ, mọi chuyện đều dễ nói cả.
Trương Văn Hỏa nói: Đã là người quen cũ thì còn tranh chấp gì nữa, cứ bồi thường tiền là được.
Tôn Học Minh (anh ấy là quản lý tài chính của đoàn chúng tôi) vội vã đếm hai nghìn rưỡi tệ đưa qua. Người đàn ông chặn bò tránh né không nhận. Chúng tôi nài nỉ bắt lấy, anh ta liền nhảy lên ngựa phóng mất.
Trương Văn Hỏa nói: Đuổi theo.
Hứa Tân Quốc nói: Thôi đi, ngày mai anh ta tự khắc sẽ chở thịt bò đã lột da đến văn phòng của chúng tôi ở thị trấn Đô Lan thôi. Tôi nhớ mặt anh ta rồi, sau này khai quật công trường mua thêm thịt bò của anh ta là được.
Chúng tôi tiếp tục lên đường, trời nhanh chóng tối đen như than củi. Một vùng ánh sáng ùa ra trước mắt, thị trấn Đô Lan đã đến.
Quần thể mộ Thổ Phồn Đô Lan
Đêm đó, chúng tôi nghỉ lại nhà khách huyện Đô Lan, lúc ăn cơm lại đến lượt Mã Vệ Quốc tranh giành trả tiền. Sau bữa cơm, chúng tôi tập trung vào một căn phòng uống trà trò chuyện, bàn tán đủ thứ trên trời dưới biển. Hứa Tân Quốc hối thúc mãi: Mau nghỉ ngơi đi, sáng sớm ngày mai còn phải lên đường đến quần thể mộ. Nhưng chúng tôi hoàn toàn không có chút buồn ngủ nào, cứ trò chuyện đến khi cạn cả nước bọt.
Khoảng nửa đêm, chúng tôi ngả lưng lên giường. Tại một căn phòng nào đó trong tòa nhà nhà khách, có mấy người đang uống rượu, tiếng ép rượu hò hét giống như cãi nhau đến phát bực, nghe ra có cả người Hán lẫn người Tạng. Uống suốt cả một đêm, say thì hát, từ đầu đến cuối chỉ hát đúng một bài, hơn nữa chỉ là hai câu đầu: Chủ tịch Mao kính yêu, mặt trời đỏ trong lòng chúng tôi.
Tôi bị làm phiền đến mức không ngủ được, bèn đi ra sân nhà khách, trong lúc thong thả dạo bước thì nhìn thấy một cái bóng giống như vệt sáng đen chớp qua chớp lại ở khoảng cách năm mươi mét. Tôi ngắm nghía một lát, phát hiện chiếc xe của chúng tôi đang đậu ở đó liền cất tiếng gọi: Ai đấy?
Vệt sáng đen không chớp nữa, đứng sững lại thành một làn khói bất động, lượn lờ bay cao lên bầu trời. Tôi bước về phía trước, đi được mấy bước lại đột nhiên dừng lại, thầm nghĩ lỡ đó là cướp rồi đâm tôi một nhát thì phải làm sao? Hoặc là tôi gặp ma rồi, gặp phải con ma đuổi gió vẫn được đồn đại là lang thang khắp bốn phương trời hoang — ma đuổi gió toàn là giống cái, cứ thấy đàn ông là phát cuồng, không lấy được linh hồn và bộ phận sinh dục của người đó thì quyết không bỏ qua. Đàn ông dính phải con ma này mười người hết chín người ngớ ngẩn, hơn nữa còn bị liệt dương không cương lên được, cả đời đều như thế. Nhất thời tôi có hơi sợ hãi, không phải sợ ma, mà là sợ sự thiếu oxy kìm hãm tôi. Tôi biết cái gọi là ma đuổi gió chẳng qua chỉ là ảo ảnh, nỗi sợ ma đuổi gió lấy đi linh hồn và bộ phận sinh dục chẳng qua chỉ là nỗi sợ hãi bản năng đối với thế giới bên ngoài sinh ra từ cơ thể và tâm trí đột nhiên suy nhược do thiếu oxy.
Đang lúc sợ hãi, tôi liền thấy thứ đó đã biến mất từ lúc nào. Mặt trăng rơi ra khỏi chiếc khăn bọc kín lấy nó, trước mắt thoáng chốc một mảnh quang đãng sáng sủa. Tôi lấy hết can đảm bước qua, chẳng nhìn thấy gì cả, liền đờ đẫn đứng dưới ánh trăng rất lâu. Lúc quay lại phòng trên lầu, nghe thấy đám người uống rượu vẫn đang uống, người hát vẫn đang hát, vẫn là hai câu đó: Chủ tịch Mao kính yêu, mặt trời đỏ trong lòng chúng tôi.
Tôi nằm xuống, ép bản thân nhắm mắt lại, chẳng mấy chốc đã nghe thấy Tôn Học Minh gọi chúng tôi thức dậy ở hành lang, rồi nối tiếp tiếng hát của những kẻ say rượu, cất lên những câu mà họ hát suốt một đêm vẫn chưa hết: Chúng tôi có bao nhiêu lời tâm tình muốn kể cho ngài nghe, chúng tôi có bao nhiêu bài hát nhiệt tình muốn hát cho ngài nghe, ây... Dậy thôi, xuất phát nào.
Chúng tôi đều mặc quần áo tử tế ra hành lang, nhìn thấy một gã đàn ông say rượu béo ú đang nói với Tôn Học Minh rằng: Hát hay lắm, hay quá đi mất. Sau đó hắn kéo thốc Tôn Học Minh lại, quay đầu hét lớn với đám người của mình: Mau, mang rượu ra đây.
Có kẻ cầm chai rượu chạy từ trong phòng tới, ôm chặt lấy Tôn Học Minh rồi rót thẳng vào miệng. Tôn Học Minh ban đầu không uống, thấy sắp không cự lại được liền hét lớn: Buông ra, tôi tự uống. Vừa nói vừa cầm lấy chai rượu, dốc vào miệng ừng ực mấy ngụm. Gã đàn ông béo ú giơ ngón cái lên, miệng nhèm nhèm nói: Được, người anh em này được đấy. Tôi thi với cậu vài chén nhé, đi thôi, về nhà nào.
Hắn gọi căn phòng của mình ở nhà khách là nhà. Tôn Học Minh đã đi, nhưng ngay lập tức lại ba chân bốn cẳng chạy tháo thân ra ngoài: Ôi mẹ ơi, cái chén rượu to bằng cái bát mà hắn bảo mỗi lần uống là mười sáu chén đấy.
Chúng tôi chạy qua, yểm trợ cho Tôn Học Minh nhanh chóng xuống lầu.
Gã đàn ông béo ú cùng nhóm bạn rượu hò hét đuổi theo xuống dưới: Đi đâu rồi? Mấy tên uống rượu đi đâu rồi?
Tôn Học Minh nói: Xem ra kiểu gì cũng phải uống rồi.
Vương Tiêu Tiêu nói: Đừng có mà bày đặt ra vẻ nữa, cậu đã uống bao nhiêu thứ vào bụng khi bụng đói rồi kìa. Vừa nói vừa kéo cửa xe đẩy Tôn Học Minh vào trong.
Chúng tôi cũng vội vã chui vào ô tô. Ô tô khởi hành. Có người đứng ở cửa nhà khách lớn tiếng hát: Mặt trời và mặt trăng là con gái của một người mẹ, mẹ của họ tên là Ánh Sáng; người Tạng và người Hán là con gái của một người mẹ, mẹ của chúng ta tên là Trung Quốc.
Ra khỏi thị trấn Đô Lan dọc theo quốc lộ Thanh Hải - Tây Tạng đi về phía nam chưa đầy mười cây số, có một con đường rẽ đâm thẳng vào thung lũng Sát Hãn Ô Tô rộng mở. Sông Sát Hãn Ô Tô là một con sông theo mùa, vào thời điểm này thì đã khô cạn. Ô tô xóc nảy trong lòng sông gập ghềnh như sóng, ruột gan của nó và ruột gan của chúng tôi sắp bị xóc lộn cả lên rồi. Bóng núi hai bên lúc xa lúc gần, giống như đi vào cái cổ bình, nhìn thấy vừa mới hẹp lại thì ngay lập tức lại là khoảng đất trống trải. Thành Kim Minh sau đó nói với tôi rằng, anh ấy vừa đi vừa đếm, phát hiện nơi này là bốn cái bầu tám cái miệng, cái bầu này đi khó hơn cái bầu kia.
Khi cái bầu thứ hai sắp đi hết, chúng tôi nhìn thấy những dải lungta phấp phới bay trên sườn núi và đỉnh núi, những dải lungta ấy leo ngược lên trên, nối liền vào một cột cờ trên đỉnh núi, cột cờ được quét phấn vàng, nhìn thoáng qua trông giống như một chùm cột sáng mặt trời khổng lồ vắt ngang qua. Có mấy người nam nữ người Tạng đang đi lại giữa những dải lungta, không ngừng khom lưng bái lạy, dùng trán chạm vào những dải kinh luân đang rung rinh bay trước gió.
Xe dừng lại, chúng tôi bước xuống, vận động gân cốt đã bị xóc cho tơi tả, nhìn thấy dưới chân núi cách đó không xa có một ngôi giáo viện, ngọn núi phía trước giáo viện treo cao một cái khảm thần, khám thần được trang trí rực rỡ muôn màu, tươi đẹp rực rỡ giống như áo bào của phụ nữ Tạng vậy.
Chu Ninh, Trương Văn Hỏa và tôi bước tới, đứng dưới khám thần, ngẩng đầu nhìn lên thì thấy một vị tăng nhân đội khăn rằn đỏ, mặc chiếc áo vải màu cà phê từ trong hang động dưới chân núi chui ra, đi về phía giáo viện. Theo sát phía sau ông ta là một người phụ nữ trẻ tuổi xinh đẹp.
Chu Ninh chặn vị tăng nhân đó lại trò chuyện, lúc này mới biết đây là một ngôi chùa Bon (Bản giáo), ông ta là trụ trì Cửu Bạch, người phụ nữ xinh đẹp ở bên cạnh ông ta là vợ của ông ta.
Toàn thân vợ ông ta đều được bao bọc trong những sắc màu, đến cả những ngọn núi trọc lốc xung quanh cũng bị rọi chiếu cho trở nên rực rỡ tươi đẹp. Người vợ xinh đẹp quyến rũ của vị trụ trì chùa Bon đang tươi cười rạng rỡ với chúng tôi. Chu Ninh giơ ngón cái lắc lắc về phía cô ấy và nói: Đẹp thật, trang phục đẹp, người lại càng đẹp hơn.
Cô ấy cười thành tiếng, lúc xoay người bước đi, Chu Ninh nhìn thấy bên eo cô ấy treo một chiếc trống tay dẹt, tang trống làm bằng xương, trắng hếu lộ ra chiếc cằm và một hàng răng.
Chu Ninh nói: Mau nhìn cái trống đầu người kìa.
Chúng tôi sững sờ: Trống đầu người?
Cửu Bạch nghe hiểu tiếng Hán lập tức mỉm cười chắp hai tay, niệm một câu kinh mà chúng tôi nghe không hiểu.
Trương Văn Hỏa lại nói: Trống đầu người. Hơn nữa còn chỉ tay về phía eo của người phụ nữ.
Cửu Bạch đột nhiên trở nên cực kỳ nghiêm nghị, dùng một thứ ngôn ngữ giống như đang hát niệm thêm một câu kinh dài, khom người với chúng tôi một cái rồi nhanh chóng rời đi. Người phụ nữ của ông ta thong thả đi theo phía sau, lại quay đầu nhìn chúng tôi một cái, để lại cho chúng tôi nụ cười rạng rỡ cuối cùng.
Chúng tôi quay lại xe, kể với Hứa Tân Quốc chuyện chiếc trống đầu người bên eo người phụ nữ. Hứa Tân Quốc nói: Nhiều lắm, tín đồ Bản giáo ở đây bất kể nam nữ đều đeo trống đầu người, nghe nói có thể trừ tà. Trống đầu người bị trộm trong quần thể mộ Thổ Phồn to lớn hơn cái này rất nhiều, hơn nữa còn là hình tròn.
Chúng tôi lại đi thêm một tiếng rưỡi nữa, từ xa nhìn thấy mấy chiếc lều hình chữ nhật màu xanh sẫm dựng lên bên bờ sông Sát Hãn Ô Tô. Hứa Tân Quốc nói: Đến rồi.
Khi gió dừng lại, mặt trời mọc lên. Nhiệt độ lập tức tăng trở lại, tăng vọt đến mức chúng tôi đổ mồ hôi đầm đìa. Chúng tôi rời khỏi khu trại của những nhà khai quật, đi bộ đến quần thể ngôi mộ.
Hai mươi phút sau, một ngôi mộ lớn đã bị gọt mất đỉnh đột ngột hiện ra, giống như một ngọn núi nguy nga, hòa làm một thể với toàn bộ dãy núi Ngạc Lạp phía sau nó, nếu như không có lối vào mộ lộ ra khi gọt đỉnh núi thì rất khó nhận ra đó là một ngôi mộ lớn. Hai bên ngôi mộ lớn có rất nhiều ngọn núi nhỏ vây quanh, đó là những ngôi mộ nhỏ, rất nhiều ngôi đã bị đào bới lên rồi.
Tôn Học Minh hỏi Hứa Tân Quốc: Còn tám mươi bảy con ngựa thì sao?
Hứa Tân Quốc nói: Chôn rồi.
Mùa hè năm 1987, Hứa Tân Quốc từng cùng Tôn Học Minh, Chu Ninh, Trương Văn Hỏa và tôi đến đây một lần. Thời điểm đó, việc khai quật quần thể mộ kéo dài suốt hai năm đã bị buộc phải dừng lại, nguyên nhân là vì rất nhiều người bao gồm cả bạn bè của ông ấy đều không tin ông ấy thực sự sẽ khai quật ra một kỳ tích thế giới, bèn tung tin thật giả lẫn lộn nói rằng ông ấy đang làm nhảm, cái thứ nhô lên đó chỗ nào là mộ lớn chứ, chẳng qua chỉ là một ngọn núi mà thôi. Hứa Tân Quốc nghiến răng, mở ra một con hào trước ngôi mộ lớn, khai quật ra bộ xương cốt của tám mươi bảy con ngựa tuẫn táng, để nói cho những người bạn quan tâm đến ông ấy biết: Không phải mộ thì là gì, chẳng lẽ lại có chuyện tuẫn táng cho núi non hoang vắng ư? Mấy người chúng tôi chính là đến để ngắm nhìn những con ngựa tuẫn táng có hình thù khác nhau này. Sau khi xem xong thì cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ của xã hội dành cho Hứa Tân Quốc, nhưng thời vận không may, sự bôn ba của chúng tôi chẳng mang lại ích lợi gì.
Việc khai quật quần thể mộ rốt cuộc vẫn dừng lại. Hứa Tân Quốc chẳng qua cũng chỉ là một học giả, chẳng qua cũng chỉ là viện trưởng một viện nghiên cứu khảo cổ, thoạt đầu thì việc khai quật bị đứt đoạn kinh phí, đến khi ông ấy muốn dựa vào sự quyên góp của xã hội để duy trì việc khai quật, nhiều lần đến Bắc Kinh hoạt động thì có người thông báo cho ông ấy rằng, anh không còn là viện trưởng viện nghiên cứu khảo cổ nữa rồi. Ông ấy tức thì lâm vào cảnh danh không chính ngôn không thuận, xã hội có muốn quyên góp cũng chẳng biết quyên góp cho ai nữa.
Trong đêm tối u ám của Đô Lan, trong cơn gió cuồng cuộn của thảo nguyên Tuyết Vị, Hứa Tân Quốc thầm nghĩ mẹ kiếp, cứ làm theo kiểu này, đến cả người cổ đại đang yên giấc trong mộ thất cũng phải cất tiếng thở dài ngao ngán: Mọi chuyện trên cõi đời này quả thực ngày càng khó giải quyết, nếu đặt vào thời Thổ Phồn của bọn ta hồi đó, bỏ ra công sức lớn nhường này, cả quả địa cầu này cũng có thể chiếm được rồi.
Rút lui thôi, quần thể mộ lại chìm vào tĩnh mịch. Bọn trộm mộ lén lút bước tới, trên thảo nguyên Tuyết Vị bóng ma chập chờn.
Tháng 11 năm 1992, La Sơn đã nhìn thấy tơ lụa của quần thể mộ Đô Lan tại thị trường đồ cổ ở Bắc Kinh và Quảng Châu. Lúc ấy ông ấy nghĩ, Hứa Tân Quốc mà nhìn thấy chắc chắn sẽ liều mạng với đám buôn đồ cổ này. Đêm ngày 23, ông ấy đã gọi điện thoại thông báo cho Hứa Tân Quốc. Hứa Tân Quốc vốn đã bị giáng chức làm thứ dân lúc ấy đã khóc.
Vào ngày 25, Hứa Tân Quốc một mình ngồi xe khách đường dài đi đến thị trấn Đô Lan, cơm tối cũng không kịp ăn, đi bộ thâu đêm suốt sáng hướng về thảo nguyên Tuyết Vị. Cỏ hoang rậm rạp xào xạc theo gió thổi giống như tiếng khóc trong đồng hoang. Ba con sói bụng đói cồn cào giống hệt như ông ấy từ trong bụi cỏ lao ra bám theo ông ấy, ánh mắt xanh lè từng chút một áp sát lại. Hứa Tân Quốc giống như một người nguyên thủy, đập một hòn đá tròn ở lòng sông thành ba mảnh sắc bén, nắm chặt trong hai tay, sải bước đi tới.
Ba giờ sáng, ở nơi gần với quần thể mộ, ba con sói đã vây lấy ông ấy. Thậm chí có một con còn chồm tới tấn công ông ấy một cú. Ông ấy mồ hôi đầm đìa, vội vã lùi lại dưới một vách núi dựng đứng, cũng trừng trừng nhìn chằm chằm bầy sói giống như loài sói. Bầy sói lại chồm lên một cú nữa, lần này là hai con sói cùng lúc lao tới. Ông ấy thét lên một tiếng, ném ra công cụ bằng đá trong tay phải. Nhưng không trúng, ông ấy căng thẳng thở hồng hộc không thôi. Đúng lúc này, một nhóm trộm mộ xuất hiện. Bọn chúng rẽ khỏi miệng bầu, vừa nhìn thấy ba con sói muốn ăn thịt một người liền dũng cảm chạy tới cứu viện. Ba con sói hoảng hốt bỏ chạy.
Tên trộm hỏi Hứa Tân Quốc: Mày làm nghề gì? Hứa Tân Quốc hỏi bọn trộm: Chúng mày làm nghề gì? Nhìn thấy bọn chúng vậy mà lại đang ôm những món đồ vật trong mộ trên tay, ông ấy liền nói tiếp, tao đến để bắt trộm. Bọn trộm nhìn nhau nói: Trộm đụng trộm té ngửa, mày nếu không phải là trộm, nửa đêm canh ba đến đây làm gì? Lúc này có người hét lên: Ôi chao, ngài là Viện trưởng Hứa, mau chạy thôi. Hóa ra trong nhóm trộm mộ có một kẻ từng làm việc ở công trường khai quật quần thể mộ, quen biết Hứa Tân Quốc. Có một tên đội mũ da nói: Chạy cái gì, chúng ta cứu mạng lão ta, lão ta lại còn muốn bắt chúng ta, lương tâm vứt đi đâu rồi?
Hứa Tân Quốc nói: Loại lương tâm này tôi không cần nữa, tôi thà bị sói ăn thịt còn hơn. Nói xong liền thét lớn một tiếng, buông đồ vật trong tay xuống. Bọn trộm mộ quay người bỏ chạy. Hứa Tân Quốc phẫn nộ ném công cụ bằng đá trong tay đi, đáng tiếc vẫn không trúng.
Đêm hôm đó, Hứa Tân Quốc đã đụng độ ba tốp trộm mộ, nhưng chẳng bắt được tên nào, ngược lại bản thân còn bị đám trộm mộ tóm lấy ném vào hố mộ đã bị khoét rỗng. Có người hét lên: Chôn lão ta đi. May mà lúc này trời đã sáng, đám trộm mộ đều sợ nhìn rõ mặt nhau rồi sau này bị đồng hoả tố giác nên đã không ra tay độc ác.
Suốt ba ngày liền, Hứa Tân Quốc đều túc trực ở quần thể mộ. Gió lạnh gào thét, nhiệt độ xuống tới âm ba mươi mấy độ, những hòn đá trong hố mộ gần như sắp bị đông nứt ra. Bọn trộm đứng từ xa nhìn ông ấy, không dám bước tới. Nhưng ông ấy kiên trì đến ngày thứ tư thì bị lạnh và đói hành hạ đến mức không chịu nổi, lảo đảo bước ra ngoài thung lũng. Ông ấy biết đám trộm mộ sẽ lại hoạt động trở lại, càng biết rõ một mình ông ấy không thể nào túc trực lâu dài ở đây được. Ông ấy lại một lần nữa rơi lệ vì những di vật văn hóa trong mộ bị trộm cắp.
Sau đó, ông ấy phản ánh tình hình trộm mộ hoành hành cho đồn công an, thời điểm đó vẫn chưa có đội chó ngao Tây Tạng, vụ án thời điểm đó thực sự quá nhiều, lực lượng cảnh sát căn bản không lo xuể, quần thể mộ Đô Lan vẫn tiếp tục kết nối với thị trường buôn lậu đồ cổ quốc tế. Quan trọng hơn là, khi đó ông ấy tiếng nói nhỏ nhẹ người vi ti.
Cho đến năm 1994, ông ấy gây dựng lại sự nghiệp — tái nhậm chức Viện trưởng Viện nghiên cứu Khảo cổ Tây Khương, và chủ trì việc tiếp tục khai quật quần thể mộ Thổ Phồn Đô Lan, việc công khai trộm cắp quần thể mộ mới biến từ hoạt động công khai thành hoạt động ngầm.
Chúng ta trèo lên ngôi mộ lớn, nhìn thấy nơi đỉnh núi bị gọt phẳng lộ ra một lớp gỗ vuông, chiều dài và chiều rộng của mỗi thanh gỗ vuông đều khoảng năm mươi phân. Khiến người ta liên tưởng đến việc, nếu không phải lấy vật liệu tại chỗ, thì ngần ấy gỗ lớn được vận chuyển đến bằng cách nào? Phía sau ngôi mộ lớn, nơi nối liền với thân núi được đào khoét xuống một khe sâu rộng chừng năm mươi mét, cao chừng một trăm mét, quy mô công trình lớn đến mức khiến người ta có cảm giác đồng chí Ngu Công đã quay lại rồi. Hứa Tân Quốc nói: Mộ thất vẫn ẩn mình không lộ diện, thế nhưng kinh phí thì đã cạn kiệt, đành phải tạm dừng. Công việc hiện tại của chúng tôi chủ yếu là khai quật những ngôi mộ nhỏ xung quanh, đã khai quật ra không ít thứ.
Chúng tôi bước xuống ngôi mộ lớn, đi vào quần thể mộ nối tiếp nhau san sát. Khá nhiều mộ thất đang hé lộ những bảo vật. Lần đầu tiên tôi biết người Thổ Phồn còn có tục chôn theo trứng chim. Trứng chim to thế mà giống như được ngâm tủa muối hơn một nghìn năm vậy. Sinh ra nó là chim Bằng, chôn cất nó là con người, những con chim lớn đậu trên vai người Thổ Phồn đi săn bắt dã thú cùng tất cả mọi thứ thuộc về nó, cứ như vậy mà cùng với chủ nhân trở thành di vật văn hóa của chúng ta ngày nay. Lại còn có cả người ngựa tuẫn táng — trong ngôi mộ hợp táng giữa người và ngựa, bộ xương cốt cuộn tròn đau đớn, có thể tưởng tượng ra lúc ban đầu chúng là những vật tuẫn táng sống nhảy nhót tưng bừng, đây là bằng chứng xác thực cho việc Thổ Phồn lúc bấy giờ sùng bái Bản giáo và tồn tại chế độ tuẫn táng người. Lại còn có cả thi thể bó nghiêng co quắp được bọc trong gấm vóc — người sống trói chết người lại, để bọn họ cuộn tròn trong quan tài theo hình dáng đứa trẻ quay về bụng mẹ. Lại có ngần ấy đồ đựng bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gốm, gỗ, sơn mài, xương, đá, da thú, lại còn có mã não, ngọc turquoise (ngọc lam), hạt thủy tinh, hạt châu khắc thực, lại còn đủ loại lụa là tết Đường rực rỡ sắc màu và các sách thẻ bằng gỗ chữ Tạng cổ — đây là điều quan trọng nhất: lụa là và chữ Tạng cổ, chúng trong lúc vô tri vô giác đã trở thành động lực thúc đẩy lịch sử Thổ Phồn phát triển.
Lúc ban đầu, bọn họ hận không thể dọn cả cõi nhân gian xuống dưới lòng đất, bây giờ chúng ta lại phải tìm đủ mọi cách để đưa họ và những thứ họ mang theo quay trở lại nhân gian. Đây chính là sự phân công của thời gian, thời gian hễ có sự phân công thì sẽ xuất hiện sự khác biệt giữa lịch sử và hiện thực. Khảo cổ chính là đào bới lịch sử ra, để cái chết được nhìn thấy ánh mặt trời một lần nữa, rồi sau đó phản chiếu sự ảm đạm của hiện thực.
Hiện thực quả thực đã ảm đạm rồi. Mã Vệ Quốc, nhà khảo cổ học Hứa Tân Quốc, nhà tự nhiên học La Sơn, nghệ sĩ Trương Văn Hỏa đều cho là như vậy. Bọn họ nói người cổ đại vẫn vĩ đại nhất, cũng chỉ có người cổ đại mới vĩ đại, người cổ đại có thể biến bản thân thành di vật văn hóa, còn chúng ta thì không thể, chúng ta sẽ chỉ là một nắm tro tàn, bay theo gió mà đi. Tất cả mọi thứ thuộc về chúng ta cũng chỉ có thể là xỉ than đã cháy qua, những bức tranh lặp đi lặp lại vô tận.
Lịch sử do Vu Thánh Đại Hắc Thiên sáng tạo
Trong đám cỏ dại ẩn giấu một số khúc gỗ được đào ra, bên cạnh khúc gỗ có một cái hố lớn đã bị đào bới, sau khi tôi trèo lên, Hứa Tân Quốc nói: Trống đầu người chính là được khai quật ra từ đây.
Tôi nói: Vậy thì tôi coi như là đã dập đầu lạy nó rồi, ai kêu Tân Quốc đào người ta lên làm gì.
Mã Vệ Quốc nói: Sao mà lắm gỗ thế này? Hơn nữa lại còn là gỗ vân sam.
Hứa Tân Quốc nói: Thời đại Thổ Phồn, thung lũng sông Sát Hãn Ô Tô là một khu rừng nguyên sinh chủ yếu là vân sam và bu lô tím, cưỡi ngựa đi mười nửa tháng cũng không ra khỏi được. Nếu như giống như hiện tại gần như là vùng đất không có ngọn cỏ nào mọc nổi, người cổ đại sao có thể coi nơi này làm nghĩa địa quan trọng hơn cả cung điện của người sống chứ?
Thành Kim Minh hỏi: Sao trong mộ này lắm nhà cửa thế? Người nào được chôn ở đây?
Hứa Tân Quốc bước tới mép hố nói: Đây là một ngôi mộ hình thang nhiều phòng nhỏ hơn mộ lớn nhưng lớn hơn mộ nhỏ, chủ nhân của mộ thất có địa vị vô cùng hiển hách, có người nói là một vị giáo chủ Bản giáo, có người nói là một vị đại pháp sư Phật giáo, có người nói là một vị tôn giả mật giáo Bà-la-môn đến từ Ấn Độ, tôi cho rằng ông ta chính là quốc tướng chiêm tinh học của vương quốc Thổ Cốc Hồn trong truyền thuyết, sau này lại trở thành đại pháp sư Thổ Phồn kiêm thần linh hộ thủy sông Y Lỗ Tang Bố (Yarlung Tsangpo) - Vu Thánh Đại Hắc Thiên, những thứ chôn theo ông ta rất nhiều, tính riêng pháp khí thôi đã có một trăm lẻ chín món, đều vô cùng trân quý, có bát lộc pháp luân, diệu âm hải la (ốc biển), hộ pháp bạch cái, tôn thắng kim chàng (tràng), ngũ thế liên hoa, vô lậu tịnh bình, trí phúc song ngư, vạn tự bất đoạn, lại có nguyệt đao, phủ việt (búa chiến), kim cương linh, lại có sáo sọ người, ống tiêu xương người, kèn ba âm. Những pháp khí này có cái mà Phật giáo Tây Tạng và Bản giáo sau này vẫn đang sử dụng, cũng có cái mà cho đến tận bây giờ người ta vẫn chưa phát hiện ở bất kỳ ngôi chùa nào. Còn về phần trống đầu người, tối ngày hôm qua tôi vẫn thảo luận với Chu Ninh, cậu ấy từng nghiên cứu về tôn giáo, cậu ấy biết chuyện này thế nào, để cậu ấy kể đi.
Chu Ninh nói: Hay là anh kể đi, anh kể toàn diện hơn.
Hứa Tân Quốc nói: Căn bản mà nói thì tôi và Chu Ninh có cái nhìn khá thống nhất. Thật ra trong sự phát triển lịch sử lâu dài, Vu Thánh của Bản giáo, hộ pháp của Phật giáo, đại sư Mật pháp của giáo phái Bà-la-môn Ấn Độ và nhà chiêm tinh của vương quốc Thổ Cốc Hồn thường xuyên thâm nhập lẫn nhau dung hợp lẫn nhau, Vu Thánh Đại Hắc Thiên chính là một hiện tượng dung hợp như vậy. Sau khi Đại Hắc Thiên trở thành đại pháp sư Thổ Phồn kiêm thần hộ pháp Phật giáo, theo nguyện vọng của các tín đồ, ông đã dời nơi an cư của mình từ An Đa phía bắc núi Đường Cổ Lạp (Tanggula) đến cụm núi Hy Mã Lạp Sơn ở đầu nguồn sông Y Lỗ Tang Bố, trở thành đại thần hộ thủy của sông Y Lỗ Tang Bố. Cho nên Vu Thánh Đại Hắc Thiên còn được gọi là Sơn Thủy Ma Tôn, pháp khí trống đầu người của Ma Tôn từ đó cũng trở thành linh cổ hộ thủy của Vu Thánh. Trống đầu người chính là biểu tượng của Vu Thánh Đại Hắc Thiên, tiếng trống chính là âm thanh của ông, là âm thanh kỳ diệu để ông ban phúc cho chúng sinh, trong kinh Phật gọi là Diệu âm sông Y Lỗ Tang Bố.
Hứa Tân Quốc nói: Trống đầu người là một thứ pháp khí cổ xưa cho đến tận ngày nay Phật giáo Tây Tạng và Bản giáo vẫn đang sử dụng, chúng ta có thể nhìn thấy ở chùa Ta-er (Tháp Tự), chùa Drepung (Triết Bang Tự), chùa Samye (Tang Gia Tự) và rất nhiều chùa Bản giáo. Điểm khác biệt là, trống đầu người được khai quật ở Đô Lan được khảm bảy viên bảo thạch pháp vương vô địch xưa nay hiếm. Bảy viên bảo thạch pháp vương vô địch có giá trị liên thành, đứng từ góc độ tôn giáo mà nói, không nằm ở giá trị của chúng với tư cách là bảo thạch, mà nằm ở ma lực mà chúng từng có, nằm ở sức ảnh hưởng hoặc có thể gọi là sự cải tạo của chúng đối với toàn bộ vương quốc Thổ Phồn, lịch sử Thổ Phồn cũng như xã hội Tạng tộc, nhân dân Tạng tộc sau này. Lục tự chân ngôn là gì? Mọi người đều biết đó là bầu trời của đất Tạng, là linh hồn của người Tạng, là điểm tựa cho sự tồn tại của họ, nhưng trống đầu người được khai quật ở đây chứng minh rằng, chân ngôn ban đầu là bảy chữ. Chữ thứ một đó là gì? Là đến từ đế quốc Đại Đường, Ấn Độ cổ đại? Hay là đến từ Hy Lạp, Ba Tư? Hoặc giả nó đến từ Thổ Cốc Hồn - quốc gia đã bị Thổ Phồn tiêu diệt và dung hợp? Tại sao sau đó nó lại bị thất truyền? Là do người truyền giáo vô ý làm mất, hay là do tự nhiên đào thải, hay là ký ức xã hội xảy ra vấn đề? Lục tự chân ngôn có linh nghiệm không? Có người nói linh nghiệm vô cùng, có người nói người tốt niệm thì linh nghiệm người xấu niệm thì không linh nghiệm. Vậy thất tự chân ngôn có linh nghiệm không? Lục tự chân ngôn đã nhào nặn nên một dân tộc, thất tự chân ngôn liệu có nhào nặn ra một dân tộc khác nữa không? Là điều bí ẩn, đây là một đại bí ẩn.
Vương Tiêu Tiêu hỏi: Trống đầu người rốt cuộc dùng để làm gì? Nó có vẻ như là pháp khí, lại có vẻ như là vật tổ.
Hứa Tân Quốc nói: Tất cả các nghi lễ khánh điển, tất cả các buổi tế lễ, cũng như mọi mặt trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, đều có sự tham gia thậm chí là chi phối của nó. Nó giống như lục tự chân ngôn vậy, hiện hữu ở khắp mọi nơi, không gì là không làm được.
Trương Văn Hỏa hỏi: Bọn trộm mộ có biết về giá trị của trống đầu người hay không? Bọn chúng trộm nó thì thông qua những con đường nào mới có thể biến thành tiền?
Hứa Tân Quốc nói: Cái này tôi cũng không nói chắc được, trộm mộ bắt mãi không hết, con đường buôn lậu đồ cổ cũng muôn hình vạn trạng. Nhưng hiện tại chúng ta vẫn chưa thể xác định chính là đám trộm mộ đã trộm đi. Trước khi trống đầu người mất tích, ở đây từng có ba vị lạt ma ở Xuyên Tây (tây Tứ Xuyên), lại còn có một nhóm người Cam Nam đi hành hương về phía Lhasa — đi hành hương về phía Lhasa thì cứ đi dọc theo quốc lộ Thanh Hải - Tây Tạng là được, vậy mà bọn họ lại rẽ vào đây, vái lạy năm ngày liền xung quanh ngôi mộ lớn. Bọn họ vừa đi chân trước, chân sau lại tới hai tín đồ dắt lạc mộ mang theo vỏ ốc biển đến hành hương, ở lại liền một tuần lễ. Những kẻ mang theo vỏ ốc biển đến hành hương thì đến đây làm gì? Ở đây lại chẳng có chùa chiền nào cả. Bọn họ còn chưa đi, chiếc trống đầu người được để lại trong hố mộ chuẩn bị chụp ảnh đã không cánh mà bay. Hứa tôi khi đó đang ở Bắc Kinh liên hệ tổ chức triển lãm di vật văn hóa khai quật từ quần thể mộ Thổ Phồn Đô Lan, vừa nghe tin mất trống đầu người liền lập tức gọi điện báo án cho đội chó ngao Tây Tạng, vội vã quay về mới biết ở công trường có một tên phu phen người Shigatse đột nhiên cáo từ bỏ đi.
Hứa Tân Quốc nói: Tên phu phen người Shigatse này có khả năng là một tên trộm mộ. Phải biết rằng mấy năm nay đại mộ Thổ Phồn Đô Lan gần như đã trở thành một ngôi trường dành cho những kẻ trộm mộ, kẻ trộm mộ đầu tiên đến đây làm phu phen, hễ học được kỹ thuật đào mộ rồi là lập tức rời đi, đến những nơi khác tự tìm mộ tự mình khai quật. Trộm mộ nhanh chóng mang lại tiền tài, rất nhiều ngôi làng ở Saidam (Qaidam), bao gồm cả thôn Xá Thập Đường, thôn Trí Ga Nhật ở gần thảo nguyên Tuyết Vị, mấy năm nay đều phất lên một cách chóng mặt. Đám buôn đồ cổ đến từ Quảng Châu, Hồng Kông thì ở lại trong làng, giơ tiền ra thu mua. Người trong làng liền nổi điên lên khắp nơi đào bới, khắp nơi trộm cắp, mấy năm công phu, nhà nhà đều xây được nhà ngói lớn. Đội chó ngao Tây Tạng từng đột kích một số ngôi làng, bắt đi một số người, phần lớn đều trốn thoát được, tin tức của đám trộm mộ vô cùng linh thông. Có người nói trong đội chó ngao Tây Tạng có nội gián, tôi cũng nghĩ thế, sao đến tận bây giờ đám trộm mộ vẫn cứ hoành hành ngang ngược như vậy? Hơn nữa tên trộm đã bị bắt còn có thể trốn thoát khỏi trại tạm giam. Đôi khi tôi chỉ muốn tự mình dẫn theo một cỗ nhân mã, tốn hai năm thời gian càn quét đám trộm mộ một lượt, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, cho dù tôi có thể làm thế, cũng không thể đạt được mục đích. Thứ mà chúng ta phải đối mặt là khu vực tích tụ mộ Thổ Phồn rộng gần ba mươi vạn kilômét vuông, nói cách khác, toàn bộ Sải Đàm ở phía bắc núi Côn Lôn, phía đông núi Aljin (A Nhĩ Kim), phía nam núi Qilian (Kỳ Liên), phía tây hồ Thanh Hải đều là mộ Thổ Phồn, hay nói cách khác là phàm nơi nào có nước là nơi đó có mộ Thổ Phồn, chỉ là quy mô và vẻ hoành tráng không sánh bằng Đô Lan mà thôi.
Hứa Tân Quốc nói: Điều này cũng có nghĩa là trước khi người Tạng thịnh hành thiên táng và hỏa táng, từng có một giai đoạn địa táng kéo dài đằng đẵng, hình thức tang lễ của giai đoạn này được tập trung ở mức độ lớn nhất tại Sải Đàm rộng lớn. Có người nói, Sải Đàm có ba thứ giàu, vàng sa khoáng, dầu mỏ và cổ mộ. Vàng sa khoáng, trộm; dầu mỏ, trộm (bọn chúng lắp van và vòi trên đường ống dẫn dầu dài sáu trăm cây số, lái ô tô hoặc máy kéo đi trộm dầu); cổ mộ, trộm. Không ngờ tới phải không? Sải Đàm rộng lớn nhường ấy, hoang vắng nhường ấy, đôi khi ô tô chạy cả ngày trời cũng không nhìn thấy một bóng người, một sinh vật nào, vậy mà lại trở thành thiên đường của những kẻ trộm cắp. Tổn thất thảm hại nhất đương nhiên vẫn là quần thể mộ Thổ Phồn Đô Lan, không nói đến những thứ khác, chỉ riêng lụa là, những thứ được khai quật ở đây đã bao trùm toàn bộ các chủng loại lụa là trong xưởng thợ đời Đường của Trung Quốc. Sau khi lượng lớn lụa là cổ này chảy ra nước ngoài, đã nhanh chóng hình thành nên một cơn sốt Đô Lan trên trường quốc tế, các nhà khảo cổ học và các nhà sử học gần như đồng thanh hô vang: Trên trái đất mà con người cư trú, lại phát hiện ra con đường tơ lụa cổ thứ hai rồi.
Hứa Tân Quốc nói: Về con đường tơ lụa, nghiên cứu của chúng tôi và quan điểm của giới đồng nghiệp quốc tế nhìn chung là giống nhau. So với các sản phẩm tơ dệt được khai quật ở khắp nơi trên thế giới, tơ lụa khai quật từ quần thể mộ Thổ Phồn Đô Lan, xét về số lượng nhiều, chủng loại đủ, hoa văn đẹp, kỹ nghệ tinh xảo, khoảng thời gian kéo dài lớn (từ giai đoạn cuối Bắc triều đến giữa đời Đường, tức là cuối thế kỷ thứ sáu đến nửa sau thế kỷ thứ tám), đều đang ở vị thế dẫn đầu. Chủng loại có cẩm, lăng, la, ngột ti (lụa đệt thắt gút), quyên, sa, sát (lụa thô), bính, trù v.v... Trong đó kim cẩm, ngột ti, lăng hiển hoa tổ chức gộp, tố lăng vân vân những mặt hàng cao cấp này, đều là lần đầu tiên được phát hiện trong nước. Tám mươi phần trăm lụa là khai quật được là do Hán địa Trung Nguyên dệt nên, ngoài ra còn có hàng dệt của phương Tây Trung Á, Tây Á. Trong hàng gấm phương Tây mang phong cách ngoại vực độc đáo thì gấm Túc Đặc (Sogdiana) có số lượng tương đối nhiều, một tấm gấm dệt chữ Phạn Ba-lê-bà (Bhoṭī / Brahmi) do người Ba Tư trung cổ sử dụng, hiện tại là tấm gấm chữ Ba Tư thế kỷ thứ tám duy nhất trên thế giới được phát hiện. Điều này cho thấy trong thời kỳ Thổ Phồn, trong khoảng thời gian đằng đẵng từ thế kỷ thứ sáu đến thế kỷ thứ tám, trên con đường này, hoạt động mậu dịch giữa người dân bản địa với phương Đông và phương Tây vô cùng phồn thịnh, con đường tơ lụa Thanh - Tạng với tư cách là tuyến đường chính và trạm trung chuyển quan trọng cho hoạt động mậu dịch với phương Đông và phương Tây, địa vị của nó tuyệt đối không kém gì hành lang Hà Tây. Nó là con đường tơ lụa mang tính quốc tế thứ hai trên lãnh thổ nước ta cho đến nay vẫn chưa thu hút được sự coi trọng rộng rãi.
Hứa Tân Quốc nói: Tôi có một phỏng đoán: Trống đầu người lẽ ra là pháp khí hộ quốc của người Thổ Cốc Hồn, lục tự chân ngôn sớm nhất là phát minh của người Thổ Cốc Hồn, hình thái chữ viết sớm nhất của người Tạng là do người Thổ Cốc Hồn sáng tạo nên, Thổ Cốc Hồn là chủ nhân sở hữu lụa tơ tằm sớm nhất trên cao nguyên Thanh - Tạng (quần thể mộ Đô Lan khai quật được một lượng lớn lụa tơ tằm từ giai đoạn cuối Bắc triều đến sơ Đường, toàn bộ Sải Đàm trong giai đoạn này đều nằm dưới sự kiểm soát hiệu quả của Thổ Cốc Hồn, người có thể tận hưởng loại hàng xa xỉ cao cấp như lụa tơ tằm chỉ có thể là người Thổ Cốc Hồn), cũng là quốc gia lân cận sớm nhất cúi đầu bái lạy văn minh Đại Đường đồng thời chắt lọc lấy những thành phần hữu hiệu. Mà đối với cương vực Thổ Phồn rộng lớn và dã man mà nói, người Thổ Cốc Hồn giống như sứ giả chạy từ nơi xa tới để truyền ngọn lửa văn minh, khi hắn trao ngọn lửa cho người khác rồi bản thân gục ngã, đại địa Thổ Phồn liền bắt đầu bùng cháy, thoạt đầu là trên một đường tuyến rồi sau đó là trên một vùng nguyên. Chuỗi xích của văn minh chính là như vậy: một dân tộc tương đối tiên tiến thường sẽ dùng sự nhục nhã, bi phẫn thậm chí là cái chết của chính mình, để thúc đẩy sự tiến bộ của một dân tộc khác. Cho dù đôi bên đều là vô ý thức, không tự nguyện.
Hứa Tân Quốc nói: Thổ Cốc Hồn vốn là một nhánh trong người Mộ Dung Tiên Ti ở Liêu Tây. Đầu thế kỷ thứ tư, nhánh người Tiên Ti kiêu dũng này không chịu nổi sự chật chội của đất trời Liêu Tây, muốn đi tìm kiếm một gia viên mới. Dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh Thổ Cốc Hồn, họ băng qua thảo nguyên Mông Cổ, vượt qua dãy núi Âm Sơn kéo dài bất tận, di dời về phía tây đến vùng đông nam Cam Túc và miền đông Thanh Hải hiện nay. Lúc đó nơi này là gia viên của các bộ lạc Khương nhân, điều kiện tiên quyết để người Thổ Cốc Hồn đến đây sinh tồn, chính là liều mạng đánh giặc và giành chiến thắng. Bọn họ đã làm được — sau khi chinh phục quần Khương, họ đã sáng lập nên quốc gia của riêng mình, đồng thời lấy tên của tiên tổ làm họ, lấy Thổ Cốc Hồn làm tên nước.
Hứa Tân Quốc nói: Ba trăm rưỡi năm trôi qua chỉ trong chớp mắt. Người Thổ Phồn dần trở nên hùng mạnh rầm rộ vượt qua dãy núi Ba Nhan Cát Lạp gần như không thể chinh phục, lội qua Tinh Tú Hải ở đầu nguồn Hoàng Hà, một mẻ hốt gọn tiêu diệt Thổ Cốc Hồn. Đây là năm 663 sau Công nguyên, Thổ Cốc Hồn với tư cách là một quốc gia đã nhanh chóng biến mất trên trái đất. Khả hãn Thổ Cốc Hồn Nột Hạt Bát cùng vợ là Hoằng Hóa công chúa trốn chạy đến Lương Châu, sống mà như chết. Đất cũ Thổ Cốc Hồn hoàn toàn được sáp nhập vào bản đồ vương quốc Thổ Phồn. Thế nhưng sự vong quốc không đồng nghĩa với sự diệt vong của bộ tộc, các chiến sĩ của quân đội Thổ Cốc Hồn đã được các tướng lĩnh Thổ Phồn đang cấp bách mở rộng quân số thu nạp biên chế, hơn mười vạn lưu dân của quốc gia Thổ Cốc Hồn trở thành bách tính của Thổ Phồn. Văn minh bắt đầu lan tỏa, đồng minh keo sơn giữa hai dân tộc bắt đầu từ đó. Lịch sử tàn khốc cho đến lúc này mới hé lộ một chút ôn tình từ sau chiếc mặt nạ quỷ.
Càng khiến người ta say mê hơn nữa, "Lịch sử thư Thổ Phồn Đôn Hoàng" ghi chép lại một bộ tộc Thổ Cốc Hồn nhận được sự đãi ngộ ưu ái của vương triều Thổ Phồn chiến thắng, bọn họ trong quá trình tiếp nhận sự đồng hóa để rồi cũng đồng hóa ngược lại người khác, vẫn bảo lưu chế độ kiến lập riêng của mình, khả hãn của riêng mình, khu vực hoạt động đặc thù của riêng mình, cấu trúc tổ chức dân tộc của riêng mình. Bọn họ tồn tại với tư cách là một quốc bang của vương triều Thổ Phồn, phải xưng thần triều cống chúc mừng Thổ Phồn, nộp thuế phế, còn phải cung cấp vật tư, tòng quân đánh giặc cho Thổ Phồn. Sau này, hãn vương của bọn họ chết đi; rồi lại sau đó nữa, bọn họ phai nhạt dần ký ức về tổ tiên, vô thức cho rằng bản thân mình cũng là một người Thổ Phồn. Sử sách không thể nào ghi chép lại điểm tận cùng của bọn họ, thứ ghi chép lại điểm tận cùng chỉ có thể là mồ mả. Việc khai quật quần thể mộ Đô Lan, khiến chúng ta có lý do để cho rằng thảo nguyên Đô Lan, vực lưu sông Sát Hãn Ô Tô, chính là nơi sinh hoạt của nhóm người Thổ Cốc Hồn cuối cùng này. Bắt đầu từ nơi này, người Thổ Cốc Hồn trong ngày tận thế đã ập đến, đã mang ánh sáng văn minh đến cho vương triều Thổ Phồn: lụa là đại diện cho mức độ thụ hưởng vật chất, trống đầu người tượng trưng cho độ cao tinh thần và sự quan tâm tối hậu cùng với chân ngôn, chữ viết thúc đẩy lịch sử Thổ Phồn phát triển.
Hứa Tân Quốc nói: Tình hình tôi có thể giới thiệu chỉ có bấy nhiêu thôi, các anh nói xem nào.
La Sơn và Thành Kim Minh nói: Xem ra hiện tại, các anh nhất định phải đi rồi chứ gì?
Chúng ta nhìn nhau, cuối cùng Tôn Học Minh đại diện lên tiếng: Đúng vậy, chúng tôi muốn đi, đã quyết định rồi.
Mã Vệ Quốc nói: Đã đến ngày này, các anh bắt buộc phải tiến về phía trước, phía trước có hiểm ác, cũng có tín đạo siêu việt vạn vật.
Chu Ninh nói: Ba vị lạt ma Xuyên Tây, một nhóm người Cam Nam hành hương Lhasa, hai tín đồ dắt lạc mộ mang theo vỏ ốc biển hành hương, một tên phu phen người Shigatse mất tích, bọn họ đều hướng về phía Tây Tạng mà đi. Chúng ta đại khái là đi truy tìm bọn họ chăng?
Trương Văn Hỏa nói: Không sai, trống đầu người chắc chắn có liên quan đến bọn họ, chỉ cần đi về phía Tây Tạng, thì không thể rời khỏi tuyến đường Thanh - Tạng, chúng ta cứ đuổi theo là được.
Lúc quay lại thị trấn Đô Lan thì đã là hai giờ chiều, ai nấy đều đói bụng. Ăn cơm tại một nhà hàng Hồi giáo, mì thấu, bánh nướng lớn, mì trộn khô, mì kéo, cộng thêm mấy món xào, thơm đến mức mọi người chảy cả dãi. Lại là Mã Vệ Quốc trả tiền. Tôn Học Minh không cho. Mã Vệ Quốc nói: Coi như là tôi tiễn chân các anh đi vậy, sắp phải chia tay rồi, muốn tranh trả tiền nữa cũng chẳng còn cơ hội đâu.
Ăn cơm xong, đoàn người lập tức chia thành hai ngả: La Sơn, Mã Vệ Quốc, Thành Kim Minh, Hứa Tân Quốc sẽ ngồi xe hơi Crown của Mã Vệ Quốc quay về Tây Ninh, còn chúng tôi — Chu Ninh, Trương Văn Hỏa, Vương Tiêu Tiêu, Tôn Học Minh, tôi cùng hai tài xế Lưu Quốc Ninh và Trương Trường Thọ sẽ chia nhau ngồi xe Jeep Bắc Kinh và xe Cherokee lái thẳng về Cách Nhĩ Mộc (Golmud).
Tôn Học Minh nói: Các anh đi trước đi, đường của các anh xa, tiễn người đi gần năm trăm cây số, thế là đủ tình nghĩa rồi.
Hứa Tân Quốc bịn rịn không nỡ. Anh ấy rất muốn xuất phát cùng chúng tôi, nhưng không thể được, ngày kia anh ấy sẽ sang Đức, tham dự hội thảo khoa học quốc tế về con đường tơ lụa, bạn bè ở Mỹ và Pháp, đồng nghiệp ở Đức và Ý cũng như Nhật Bản, đều hy vọng anh ấy không chỉ tham dự hội nghị, mà còn có một bài báo cáo học khoa học với nội dung chi tiết về con đường tơ lụa thứ hai trên thế giới. Anh ấy không thể khiến các đồng nghiệp thất vọng, cho nên anh ấy phải đi.
Chúng tôi ôm chầm lấy tất cả những người tiễn đưa mình. Mười phút sau khi họ rời đi, chúng tôi lại một lần nữa xuất phát.