Đêm say rượu
Tôn Học Minh hận chiếc điện thoại của mình đến thấu xương, bởi vì cái vật nhỏ xíu tinh xảo này lúc bấy giờ lại trở thành công cụ truyền đi những âm thanh ác ý.
Cậu nghe thấy Chu Ninh gấp rút như lửa đốt nói: Cậu đang ở đâu? Mau đến đây, bọn tớ bị người ta giữ lại rồi, ở một ngọn núi không xa nông trường Hương Nhật Đức, các cậu sẽ nhìn thấy một đống lửa...
Cậu nghe thấy Trương Văn Hóa ra vẻ đại nghĩa lẫm liệt nói: Đừng gọi Tôn Học Minh đến chịu chết, tao liều mạng với bọn chúng.
Cậu nghe thấy Lưu Quốc Ninh hoảng sợ tột độ nói: Tôi phục, tuyệt đối phục, được chưa?
Tôn Học Minh giật mình kinh hãi, thầm nghĩ xem ra bọn cướp đang tra tấn bọn họ rồi. Cậu nói Trát Tây cảnh sát, anh là chú chó Ngao Tây Tạng dũng cảm nhất của chi đội Ngao Tây Tạng, trên người anh có súng không? Có? Vậy thì tốt, anh đi với tôi một chuyến, bạn tôi gặp kẻ xấu rồi, tôi phải mau chóng đi giải cứu.
Trát Tây cảnh sát nói: Bạn của cậu chính là bạn của tôi, khi nào đi giải cứu?
Tôn Học Minh nói: Bây giờ, lập tức, đi ngay.
Trát Tây cảnh sát nói: Uống thêm một ấm trà, ăn thêm một chút thịt, ăn no uống say rồi chúng ta hãy đi.
Tôn Học Minh nói: Mạng người quan trọng, sao anh chẳng vội chút nào cả? Vừa nói vừa kéo Trát Tây cảnh sát đi ra ngoài cửa.
Trời đã tối đen, sao trời chi chít. Gió thổi lồng lộng trên cao, xe chạy ào ào dưới đất. Tôn Học Minh thầm nghĩ nơi này là chốn Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đa Ni từng lưu lại ánh hào quang, Đại sư ngài nhất định phải phù hộ cho mấy người Chu Ninh bình an vô sự đấy. Chúng ta đến đây để tìm kiếm bảy chiếc trống đầu người chân ngôn Vô Địch Pháp Vương, đây là pháp bảo đời tổ tiên của Đại sư, tuyệt đối không được để công thành chưa tới mà thân đã chết trước nhé.
Lái nhanh lên. Tôn Học Minh hét lên như muốn nổ tung.
Vừa ra khỏi trấn Hương Nhật Đức, đã có ô tô bám theo chúng tôi. Chúng tôi nhìn qua kính chiếu hậu, đó là một chiếc Land Cruiser màu trắng. Tiếp theo đó, chúng tôi phát hiện ra chiếc Land Cruiser màu trắng không phải đang bám đuôi mà là đang truy đuổi. Tốc độ của chúng tôi đã tăng lên, nhanh đến mức chiếc Land Cruiser của Nhật có hiệu năng cực tốt phải rượt đuổi gần một tiếng đồng hồ mới bắt kịp chúng tôi.
Chiếc Land Cruiser chắn ngang phía trước chúng tôi, chúng tôi đành phải dừng xe. Trương Văn Hóa xuống xe đầu tiên, vẫy vẫy tay về phía chiếc Land Cruiser: Làm gì thế, chặn đường bọn tôi à? Không ngờ từ trong xe Land Cruiser đột nhiên bước xuống tám người, thật không biết bọn họ nhét vào kiểu gì.
Tên đại mập đầu sỏ quát lên: Xuống, xuống, xuống hết xuống mau.
Trương Văn Hóa xuống xe. Chu Ninh xuống xe. Lưu Quốc Ninh xuống xe. Cả tôi cũng xuống xe. Chúng tôi đều rất căng thẳng, không biết đã đụng phải đám người nào, có phải là bọn cướp cạn nửa đường không? Có phải là bọn trộm mộ mưu đồ báo thù không? Sắc trời đã tối đen như mực, xung quanh không một bóng người, không một vết chân thú, ngoài bốn kẻ lữ hành trói gà không chặt là chúng tôi ra thì có tám tên hung đồ lực lưỡng như trâu.
Tám tên hung đồ đằng đằng sát khí vây quanh lại. Trong đó có một tên đang cầm chai rượu, ngửa cổ nốc ực một hơi thật kêu, "pẹ" một tiếng đập nát chai rượu xuống đất: Hôm nay tao liều mạng với tụi mày.
Phải làm sao đây? Ai cũng biết lúc này chạy thì không kịp nữa rồi.
Trương Văn Hóa ảo tưởng: Ở Bắc Kinh mà xem, tao sẽ gọi một đám anh em đến tiêu diệt bọn chúng.
Chu Ninh thầm nghĩ: Thời cổ đại không phải thế này, lữ hành đi trên con đường cổ Đường - Thổ, gặp phải cướp, cướp hỏi các ngươi là người làm gì? Lữ hành đáp chúng tôi đi tìm linh hồn, ai cho tôi một linh hồn, tôi cho kẻ đó một nghìn lạng bạc. Cướp nói ta cho ngươi một linh hồn. Lữ hành hỏi linh hồn của ngươi là gì? Ta vốn là cướp, cái ta muốn chính là linh hồn của cướp. Cướp nghe xong, quay người bỏ đi ngay.
Bọn ác nhân đã đến cận kề, tám tên lao vào túm lấy bốn người chúng tôi.
Trương Văn Hóa nói: Bạn hiền, bạn hiền, có gì thì từ từ nói, núi không chuyển thì nước chuyển, đường không đi thì cũng phải đi ba bận mà.
Có tên ác nhân nói: Lời thì phải nói cho đàng hoàng, nhưng cũng phải nói từ từ, đi, lên núi rồi nói tiếp.
Chúng tôi bị lôi kéo, bắt cóc lên núi.
Tôn Học Minh không ngờ rằng, lúc nước sôi lửa bỏng cần phải đi cứu viện bạn bè thì chiếc xe Jeep Bắc Kinh mà họ ngồi lại đột nhiên chết máy. Tài xế Trương Trường Thọ trèo lên trèo xuống kiểm tra hồi lâu mà vẫn không biết hỏng ở chỗ nào. Tôn Học Minh thầm nghĩ cái thứ uống trà chết tiệt này, cớ sao chúng ta lại đến uống trà chứ? Chúng ta lái xe ba tiếng đồng hồ chỉ để uống mấy bát trà thôi sao. Thế mà Trát Tây cảnh sát còn cứ ra rả nói không xa đâu, sắp đến rồi, sắp đến rồi cơ đấy. Khái niệm thời gian của họ kiểu gì vậy? Tồi tệ hơn là chúng tôi rõ ràng biết là lãng phí thời gian mà vẫn cứ nghe lời đi theo hắn. Đến nơi thì xảy ra chuyện, bạn bè gặp nạn, anh ta lại mắc kẹt ở đây tiến thoái lưỡng nan. Nếu thực sự xảy ra án mạng thì phải làm sao? Đến việc tìm ai để báo thù cũng chẳng biết đường nào mà tìm.
Tôn Học Minh đẩy chiếc ô tô, đẩy không nổi liền lớn tiếng nói: Trát Tây cảnh sát, anh nghe đây, Đại sư Ban Thiền đã từng đến đây chưa?
Trát Tây cảnh sát nói: Từng đến, từng đến chứ, ngay tại nơi này, đã dựng lên ba mươi dặm lều trại.
Tôn Học Minh nói: Thế sao ngài ấy không phù hộ chúng ta?
Trát Tây cảnh sát nói: Phù hộ chứ, phù hộ chứ. Anh ta nhận thức được mình là người Tạng, Đại sư Ban Thiền cũng là người Tạng mà lại không phù hộ bạn bè của anh ta thì quả thực có chút ngượng ngùng. Anh ta vỗ mạnh vào chiếc xe Jeep Bắc Kinh, lo lắng nói: Ngựa già ngựa già, lên đường thôi lên đường thôi.
Tôn Học Minh sau này nghiêm túc kể lại rằng, lúc đó cậu phảng phất nghe thấy Đại sư Ban Thiền khẽ cười trên thiên đình: Có gì mà phải ngượng ngùng, cứ cho chúng chịu khổ một chút đi, tìm được trống đầu người đâu phải là chuyện dễ dàng gì. Một lát sau lại nói: Đương nhiên ta cũng không thể để Trát Tây cảnh sát cứ mãi hổ thẹn được, cậu ta mời bạn bè về nhà uống trà, suy cho cùng cũng là người tốt làm việc thiện mà, đi thôi.
Chiếc xe Jeep Bắc Kinh đột nhiên khởi động.
Trát Tây cảnh sát nhìn tài xế Trương Trường Thọ đang đạp chân ga ở ghế lái, rồi lại nhìn đôi tay của chính mình, kinh ngạc nói: Đây là đôi tay tôi từng thắp hương cúng dường Ban Thiền đấy, vỗ một cái là động cơ liền gầm lên vang dội, thật kỳ diệu.
Lại một lần nữa lên đường, nhanh như chớp.
Nửa tiếng sau, chúng tôi đã đến đỉnh núi Ban Thiền. Chu Ninh ôm chút hy vọng mong manh gọi vào điện thoại của Tôn Học Minh, vừa bấm nút, vậy mà lại thông.
Lúc Tôn Học Minh và mọi người đuổi tới nơi thì trời đã là nửa đêm.
Nhìn thấy cảnh tượng uống rượu trên đỉnh núi, Tôn Học Minh trút bỏ được một hơi thở dài phào, tiếp theo liền gầm lên một tiếng hào khí ngút trời: Tôi cũng xin đến bồi tiếp, cạn ly.
Vùng đất đức tin - Bãi mộng Phật
Vừa bước vào địa giới nông trường Hương Nhật Đức, đại địa vàng úng bỗng trở nên xanh mướt một màu. Những hàng cây chắn gió trải dài ngút ngàn, những thửa ruộng dày dặn cứ thế vươn thẳng tới tận chân trời không một vật cản, khiến người ta kinh ngạc, sao mà chúng lại có thể tươi tốt đến thế nhỉ? Trong gió hòa quyện hương thơm thanh mát của đồng lúa mì, nước mương trong vắt như rượu, bầy chim sẻ bay vụt lên như cỏ cuộn theo sóng — rào rào, rào rào. Nơi này chính là Bãi mộng Phật, nơi Đức Ban Thiền đời thứ chín từng ngủ.
Trước khi có dấu chân của Đức Phật Ban Thiền, Bãi mộng Phật chẳng qua chỉ là một vùng đất hoang mạc mọc đầy cỏ gai lạc đà, trên vùng đất rộng hơn một trăm mười nghìn mẫu ấy, chỉ có duy nhất một cây liễu đỏ. Về sau, cây mọc nhiều lên, cũng có cả hoa màu, mọi người đều nói, tất cả những điều này đều nhờ vào phúc ấm của Phật, mà tạo nên phúc ấm Phật lớn lao không chỉ có Phật Ban Thiền, mà còn có cả những người đi theo Phật Ban Thiền.
Trương Văn Hóa từng kể cho tôi nghe một câu chuyện — một vị Hoạt Phật đã đạt được viên mãn và siêu sinh về cõi trời tại nông trường Hương Nhật Đức như thế nào.
Vị Phật này vốn là lạt ma của chùa Bạch Phật ở Kim Ngân Than, bờ bắc Thanh Hải Hồ, tên là Gia Ương Ân Bảo, có nghĩa là Văn Thù Xanh. Văn Thù Xanh tự xưng mình là hậu duệ của bộ lạc Thổ Càn vương công Thổ Bốt, ý trong lời nói chính là ông cho rằng mình là người Thổ Bốt chính thống nhất còn rất nhiều cư dân Tạng xung quanh ông thì không phải. Những cư dân Tạng này hoặc là người Thốc Hồn, hoặc là người Khương cổ, hoặc là người Tây Hạ, hoặc là người Mông Cổ, hoặc là người lai giữa Thổ Bốt và các dân tộc kể trên. Vấn đề này ở sâu trong vùng đất Tạng thì không quan trọng lắm, nhưng ở vùng quanh hồ Thanh Hải, nơi giao hội giữa Hán và Tạng thời cổ đại, xen kẽ giữa Mông và Tạng, hội tụ giữa Khương và Tạng, thì lại có vẻ hơi quan trọng. Nó cho thấy Văn Thù Xanh mang một ý thức dân tộc rất cổ điển và nay đã không còn nhiều nữa, ý thức này lại vì ông là lạt ma mà chuyển hóa thành một tinh thần tôn giáo kiên cường. Do đó trong tất cả những năm tháng mang lại tổn thương cho tôn giáo ấy, ông vẫn luôn là một vị thần hộ pháp tận tụy có sức chịu đựng bền bỉ nhất.
Vào đợt cải cách dân chủ năm 1958, có người hết lần này đến lần khác vận động ông tham gia công tác lãnh đạo của chính quyền huyện. Ông cảm thấy lạt ma chỉ là niệm kinh, việc của chính phủ thì không quản được và cũng không thể quản, tham gia hai buổi họp xong là ông tuyệt đối không đi nữa. Đến thời kỳ Đại văn hóa cách mạng phá tứ cũ, không cho ông niệm kinh thì ông cứ niệm, không cho ông bái Phật thì ông cứ bái, liều chết bảo vệ chùa Bạch Phật khỏi bị đập phá cướp bóc. Những học sinh người Tạng đã nổi dậy áp giải ông ra pháp trường, giả vờ muốn đem ra bắn thủng, ông coi cái chết tựa như chốn về, lớn tiếng niệm sáu chữ đại minh chân ngôn. Mấy thanh niên nắm quyền (Văn Thù Xanh chưa từng thừa nhận bọn họ là người Tạng chính thống), uống rượu, bàn bạc qua loa rồi phán ông án tù chung thân, áp giải đến nông trường Hương Nhật Đức để lao động cải tạo.
Đến nông trường, Văn Thù Xanh mới biết nơi mình đến chịu khổ chính là Bãi mộng Phật. Hay lắm, trong lòng ông vô cùng vui mừng, sinh ra niềm hoan hỉ lớn lao. Kể từ đó, ông yêu lao động, yêu ăn uống, ngày ngày cười niệm kinh, đêm đêm mơ niệm kinh, đi đến đâu là vẽ một vị Vô Lượng Quang Phật lên tường hoặc xuống đất ở đó (ông là một thiên tài sử dụng đường nét, với tư cách là một người đồng nghiệp trong giới nghệ thuật, Trương Văn Hóa vô cùng thán phục điểm này), vừa cất cao giọng vừa niệm kinh. Cứ như vậy trải qua mười lăm năm, có một hôm quản giáo của nông trường nói: Anh vì tội gì mà vào đây? Ông đáp: Niệm kinh. Quản giáo lại nói: Thời thế thay đổi rồi, anh bây giờ được tự do rồi, có thể ra ngoài niệm kinh rồi. Ông đáp: Thời thế thay đổi nhưng kinh thì không đổi, đằng nào cũng là niệm kinh, tôi chẳng đi đâu hết.
Văn Thù Xanh đã không đi. Trong thời gian tự do, ông đào từng mảng cỏ từ bờ sông Sài Đạt Mộc cách đó năm mươi cây số, trên ngọn núi hoang phía tây Bãi mộng Phật, giống như trải thảm cỏ vậy, trải ra một tôn Vô Lượng Quang Phật cao hai mươi mét, rộng mười lăm mét. Đây là một tôn Vô Lượng Quang Phật bằng xương bằng thịt, màu xanh của sự sống đâm chồi nảy lộc, dưới ánh nắng mùa hè, ngày càng tươi tốt. Nhưng Phật xanh thật bất hạnh, thần cỏ gặp nạn, chẳng biết từ đâu xông ra một bầy cừu, chưa đầy nửa ngày đã gặm sạch trơn tất cả đám cỏ. Lúc Văn Thù Xanh phát hiện ra thì đã không kịp ngăn cản nữa rồi, ông đành phải khoanh chân ngồi thiếp đi, niệm kinh siêu độ cho những thảm cỏ Vô Lượng Quang đã chết ấy.
Sau đó, ông lại trồng ra một tôn Vô Lượng Quang Phật lớn bằng thửa ruộng một mẫu rưỡi ở giữa đồng nội, những chồi non mùa xuân, cành xanh mùa hè, lúa mì vàng mùa thu, tượng Phật trên mặt đại địa cứ thay đổi xiêm y theo mùa. Văn Thù Xanh liền ngủ trên đống cỏ dưới chân Phật, ngày đêm canh giữ, tựa hồ như đã mãn nguyện lắm rồi. Thế nhưng hễ là hoa màu thì phải thu gặt, người nông trường lại tìm đến ông: Chúng tôi giao cho anh mảnh đất tưới tiêu tốt nhất, để anh trồng ra được cả Phật gia thì cũng coi như không tệ rồi, giờ lúa mì đã chín, ruộng này chúng tôi phải thu hồi lại. Văn Thù Xanh sớm đã biết sẽ có ngày này, bèn dập đầu lạy Phật lúa mì, niệm kinh xong rồi đi thật xa. Khi ông quay lại, những bông lúa mì, thân lúa mì từng là Vô Lượng Quang Phật ấy, đã bị buộc lên xe ngựa, chở đi mất rồi. Văn Thù Xanh biết chúng đã đến bãi lúa, ở đó chúng sẽ được đập giã thành lương thực, rồi đóng vào những chiếc bao tải đã vá chằng vá đụp qua bao năm, vận chuyển đến nhà máy xay xát cơ khí hóa ở thành phố.
Phật cỏ là phù du, Phật lúa mì cũng là phù du, lẽ nào hễ là Phật có sự sống thì đều là phù du hay sao? Văn Thù Xanh không tin, ông dồn ánh mắt lên những tán cây, bắt đầu ươm mầm trồng cây. Năm năm sau, trên vùng đất Bãi mộng Phật, đã xuất hiện một tôn Vô Lượng Quang Phật được hợp thành từ những cây dương xanh. Ngài rất lớn, lớn đến mức phải đứng trên núi mới có thể nhìn rõ, đúng như câu nói nhìn xa thì thấy Phật mà nhìn gần lại chẳng thấy đâu — cảnh giới thiền định biết bao. Những người du mục trên đồng hoang đương nhiên sẽ không cho rằng đây là tác phẩm của một vị lạt ma bằng xương bằng thịt, họ tin đó là ơn trời ban — Vô Lượng Quang Phật đã giáng lâm trần thế, ngài đã hóa thành cây cối, hóa thành dòng chảy vĩnh hằng của sự sống, ngài sẽ không bao giờ tiêu tan nữa.
Chính vì nghe được sự tráng lệ của bức tượng Phật với những tán cây xanh um tùm ấy, Trương Văn Hóa mới đến Hương Nhật Đức, và quen biết Gia Ương Ân Bảo — Văn Thù Xanh. Lúc đó đã là năm 1988, Văn Thù Xanh tóc bạc da mồi, dùng đôi bàn tay chai sần như rễ liễu đỏ, ấm áp như nước suối khoáng, xoa lên đỉnh đầu Trương Văn Hóa và nói: Cậu hỏi tuổi của tôi ư? Tôi biết làm sao được? Cậu đi mà hỏi Phật. Trương Văn Hóa nói: Chẳng phải ngài chính là Phật đó sao? Văn Thù Xanh lắc đầu nói: Tôi vẫn còn kiếp sau của sinh linh đau khổ, tôi không phải Phật thật.
Một năm sau, Văn Thù Xanh viên tịch. Các tín đồ đều nói: Ngài chính là Phật, ngài không có kiếp sau của sinh linh đau khổ nào cả, ngài chuyển thế rồi vẫn là Phật, ngài đã ở trên thiên đường rồi.
Trương Văn Hóa có một lần đến Kim Ngân Than ở bờ bắc Thanh Hải Hồ để tìm kiếm những bức bích họa thời cổ đại, đi ngang qua chùa Bạch Phật, bèn bước vào dò hỏi về Gia Ương Ân Bảo. Có một vị lạt ma già nói với anh: Văn Thù Xanh vẫn còn sống, tháng trước tôi còn gặp ông ấy ở Bãi mộng Phật của Hương Nhật Đức, ông ấy đã chín mươi hai tuổi rồi. Trương Văn Hóa nói: Không thể nào, ông ấy quả thực đã không còn trên đời nữa rồi, Hương Nhật Đức chỉ có Phật bằng cây cối, chỉ có Vô Lượng Quang Phật hợp thành từ cây dương xanh thôi. Lạt ma già nói: Vậy thì chính là ông ấy rồi.
Ông ấy thực sự là hậu duệ của bộ lạc Thổ Càn vương công Thổ Bốt ư? Thực sự là người Thổ Bốt chính thống nhất tức là hậu nhân của người Tạng nguyên thủy ư? Trương Văn Hóa từng hỏi Bạch Mã Đa Kiệt - vị Hoạt Phật của chùa Quảng Huệ ở Đông Hạp, huyện Đại Thông, thành phố Tây Ninh, cũng là bạn tù của Văn Thù Xanh ở nông trường cải tạo Hương Nhật Đức. Bạch Mã Đa Kiệt nói: Đúng vậy, đúng vậy, ông ấy có trống đầu người, ông ấy chắc chắn là vậy rồi.
Đây là lần đầu tiên Trương Văn Hóa biết đến trống đầu người, biết rằng trống đầu người là biểu tượng cổ xưa của người Thổ Bốt, tất cả những hậu duệ đích thực của người Thổ Bốt, đều là những tín đồ tôn sùng trống đầu người, đều mang trong mình linh hồn và cuối cùng tiễn đưa linh hồn trong tiếng vang của trống đầu người.
Hoạt Phật Bạch Mã Đa Kiệt của chùa Quảng Huệ cũng là một tín đồ tôn sùng trống đầu người, nhưng ông cảm thấy bản thân rất có thể không phải là hậu duệ của người Thổ Bốt, mà là sự lai tạp giữa người Thốc Hồn và người Hán. Ông là một tăng nhân tính cách cởi mở, tinh thông lịch sử, khi ông nói với Trương Văn Hóa tên của ông có nghĩa là Liên Hoa Kim Cương, thì ngay lập tức lại nói thêm: Liên Hoa Kim Cương là Bồ Tát chỉ dẫn phương hướng, người Thốc Hồn đều là sự biến hóa của Liên Hoa Kim Cương, khi họ bị người Thổ Bốt thôn tính, đã dùng những vật dụng sinh hoạt hàng ngày vô cùng phong phú của mình để chỉ cho người Thổ Bốt lạc hậu một con đường tiến tới văn minh, đó chính là thiết lập một mối quan hệ thương mại ngoài chiến tranh ra với người Hán ở phương Đông và người Ba Tư ở phương Tây. Đây là con đường dẫn đến văn minh và sự hưởng thụ, nó khiến cho Thổ Bốt nhanh chóng có được lụa là, có được mưu cầu thẩm mỹ, có được những tấm thảm mô phỏng lụa là và gấm vóc, ngày tháng của người Thổ Bốt trở nên lộng lẫy hoa lệ.
Trương Văn Hóa lúc đó hoàn toàn không biết rằng quan niệm về Liên Hoa Kim Cương lại ăn khớp với quan điểm của Hứa Tân Quốc, mang giá trị học thuật cực kỳ cao, anh chỉ cười đùa nói: Lợi hại thật đấy, người Thốc Hồn ơi. Liên Hoa Kim Cương, vị thần chỉ dẫn phương hướng, ngài thấy tôi thế nào? Có thể cho tôi xin một hướng đi, xem con đường sau này của tôi nên đi thế nào không?
Liên Hoa Kim Cương lắc lư bàn tay dày rộng của mình nói: Tôi không bói toán cho người ta, tôi là người phát ngôn của Vu Thánh Đại Hắc Thiên, tôi chỉ có thể bói vận mệnh quốc gia và ý chỉ thần linh.
Trương Văn Hóa nói: Quốc gia tốt thì cá nhân mới tốt, nói ngược lại, cá nhân tốt thì quốc gia mới tốt, ngài cứ bói cho tôi một quẻ đi.
Liên Hoa Kim Cương cười đầy vẻ thần bí nói: Không được đâu, trống đầu người của tôi mất rồi.
Trong mắt Trương Văn Hóa, Liên Hoa Kim Cương là một vị Phật toàn tri toàn năng, mặc dù đôi khi có vẻ hơi ra vẻ huyền bí. Từ chỗ một quản giáo yêu thích hội họa ở nông trường, Trương Văn Hóa được biết, sở dĩ lúc trước Liên Hoa Kim Cương đến nông trường Hương Nhật Đức lao động cải tạo, chính là vì ông quá tài giỏi quá thông minh, nhìn thấu tâm can của giới lãnh đạo từ cái liếc mắt đầu tiên.
Đó là một ngày nắng rực rỡ — đầu xuân tháng Hai năm 1966, cơn bão quét sạch mọi ngưu quỷ xà thần sắp sửa ập đến, chẳng ai hay biết cả, chỉ có một mình ông biết. Ông nói với tất cả những người mà ông cho là thân thiết đáng kính: Sắp loạn rồi, sắp loạn rồi, thiên hạ sắp loạn rồi, sao còn không mau chóng chuẩn bị đi? Cái gì nên đốt thì đốt đi, cái gì nên giấu thì giấu đi, tuyệt đối đừng ăn nói bừa bãi. Bạn bè nói: Người đầu tiên không được ăn nói bừa bãi chính là ông đấy. Ông đáp: Tôi là Kim Cương chỉ đường, nói hay không nói đều như nhau cả thôi, cái gì phải đến rồi sẽ đến, có trốn cũng không trốn thoát được đâu.
Trong số những người bạn của ông có một người là phó bí thư huyện ủy huyện Đại Thông, ông gặp người đó liền nói: Tụ Nam Đóa ơi Tụ Nam Đóa, anh vốn tên là Tụ Nam Đóa, sau khi Thanh Hải giải phóng thì anh đổi tên thành Tụ Nam Giải Phóng, đến sau này tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước, anh lại đổi tên thành Tụ Nam Ái Quốc, mấy tháng nữa anh lại phải đổi tên, gọi là Tụ Nam Vệ Đông. Ông chộp lấy bàn tay của bí thư Tụ xoa xoa rồi lại nói: Tay của anh đã chai cứng rồi, anh sắp đi đánh người rồi đấy, anh đánh người thì nhất định phải cẩn thận vào, đừng có đánh đến chết người.
Lại gặp một người quen nữa, là cục trưởng cục lâm nghiệp, ông ấy liền nói: Chạy mau đi, anh sắp biến thành ma rồi, mau chạy đi.
Chẳng bao lâu sau, tất cả những lời tiên tri của ông đều được ứng nghiệm. Trong đại hội đấu tố ngưu quỷ xà thần, vị cục trưởng cục lâm nghiệp quỳ gối dưới đất tạ tội với Chủ tịch Mao hối hận nói: Liên Hoa Kim Cương bảo tôi chạy, sao tôi lại không chạy cơ chứ? Con người tôi ấy mà, cứ hay không nghe lời khuyên của người tốt. Tụ Nam Vệ Đông chủ trì hội nghị đấu tố bỗng nhớ lại lời tiên tri mà Liên Hoa Kim Cương dành cho mình, trong lòng không khỏi giật mình thon thót, vừa hận vừa sợ thầm nghĩ: Sao mà ông ta cái gì cũng biết thế nhỉ? Nếu như sau này cứ tiếp tục để mặc cho loạn thế này thì Đại cách mạng văn hóa vô sản biết tiếp tục tiến hành đến cùng bằng cách nào?
Ngay vào đêm hôm đó, Liên Hoa Kim Cương đã bị tổ chức nổi dậy chiến đấu Đông Phương Hồng bắt đi. Ông mang vẻ mặt đầy khó hiểu, hết lần này đến lần khác nói: Sao hôm nay các người đã đến bắt tôi rồi? Tôi tính toán là tối mai mới đến bắt cơ mà. Ông bị giam trong nhà tù huyện Đại Thông, cùng trải qua Tết Nguyên đán năm 1967 với mấy tên tội phạm tử hình. Vào ngày Rằm tháng Giêng, ông đột nhiên ôm mặt khóc rống lên, ông nói tôi nhìn thấy chùa Quảng Huệ không còn nữa, mái nhà chung của các chúng Phật không còn nữa, tượng Phật đã biến thành đất rồi.
Hai tháng sau, ảo giác của ông đã biến thành hiện thực, một lũ Hồng vệ binh từ Tây Ninh kéo đến, cấu kết với tổ chức nổi dậy địa phương Đông Phương Hồng, mang theo mối thù giai cấp vô sản ngập tràn, đập phá toàn bộ tượng Phật trong chùa Quảng Huệ, rồi nổi lửa thiêu rụi cả một ngôi chùa lớn thành tro bụi.
Chùa Quảng Huệ tên tục là chùa Quách Mang, tên Tạng là chùa Tắc Khố Hợp, vì do đại lạt ma Tán Bố Đoan Trí Gia Thố của chùa lớn Thanh Hải Hữu Ninh Tự sáng lập nên còn gọi là chùa Tán Bố, được xây dựng vào năm 1622 hoặc sớm hơn nữa, có bốn học viện hiển tông, mật tông, thời luân, y học. Hoạt Phật chủ trì ngôi chùa là Mẫn Châu Nhĩ vào năm 1665 đã được Đức Đạt Lai thứ năm sắc phong làm Mẫn Châu Nhĩ Nặc Môn Hãn, kể từ đó, Mẫn Châu Nhĩ có thể chuyển thế. Mẫn Châu Nhĩ đời thứ hai năm 1726 được triều đình nghênh thỉnh đến Bắc Kinh, nhận được sự lễ ngộ của Hoàng đế Ung Chính, và lập tức trở thành Hốt Lục Khắc Đồ thường trú tại Bắc Kinh của triều đại nhà Thanh, địa vị cao ngút ngàn tựa chín tầng mây, ngôi chùa vì thế cũng được mở rộng hết lần này đến lần khác. Năm 1731, Hoàng đế Ung Chính ban sắc ngạch cho chùa Quảng Huệ. Về mặt kinh học, chùa Quảng Huệ tôn sư chùa Triết Bát Tự của Tây Tạng, mối quan hệ giữa hai chùa vô cùng thân thiết và kéo dài miên man, tác phẩm kinh điển danh tiếng miêu tả về địa chỉ vùng Tạng khu mang tên "Thế giới quảng luận" do các đời Hoạt Phật Mẫn Châu Nhĩ sưu tầm và diễn giải chính là một bộ kinh điển quốc bảo. Hòa cùng tiếng giảng đọc "Thế giới quảng luận" ấy, điều còn tạo hóa hơn nữa chính là học viện y học của chùa Quảng Huệ, danh tiếng chữa bệnh cứu người đặc biệt là điều trị bệnh sán nang bao trùm cả hai vùng Thanh Tạng, vươn xa tới tận Ấn Độ, Nepal.
Chính là một ngôi bảo sát như ý ấy, trong lời tiên tri tựa ác mộng của Liên Hoa Kim Cương, đã biến mất khỏi mặt đất. Lúc này Liên Hoa Kim Cương đã bị tổ chức nổi dậy phán án mười lăm năm tù, bị trói buộc đến nông trường Hương Nhật Đức lao động cải tạo. Đào mương nước, trồng hoa màu, đóng gạch đất, xây nhà, trồng cây, đào cát, tiếp tục bói toán vận mệnh quốc gia và ý chỉ thần linh, đương nhiên là làm lén lút. Người ta đồn rằng ông đã tiên tri thành công sự sụp đổ của Lâm Bưu, tiên tri rằng bản thân sẽ có được sự tự do đường đường chính chính bói thần hỏi quẻ sau khi bốn tên ma chướng ("Bè lũ bốn tên") bị Phật pháp thu phục.
Quả thực là như vậy, Liên Hoa Kim Cương cũng giống như người bạn tù Văn Thù Xanh của mình, chưa mãn hạn tù đã được phóng thích. Ông đã quay về huyện Đại Thông cách đó hơn năm trăm cây số, ngủ lộ thiên một tuần trên di tích chùa Quảng Huệ đến một viên gạch vỡ mảnh ngói vụn cũng chẳng còn, rồi lại quay trở về Bãi mộng Phật ở Hương Nhật Đức. Ông dựng lều cất nhà trên một gò hoang được cho là nơi Ban Thiền từng giảng kinh, lấy một chiếc chậu mặt mẻ làm trống đầu người, gõ cheng cheng tùng tùng, định cư ở đây. Căn nhà thô sơ đến mức chẳng che nổi mưa gió bão bùng, nhưng không hề gì, ông nói ta ở đâu thì Phật ở đó. Ông dùng đá khảm chữ Hán và chữ Tạng của chùa Quảng Huệ trên khoảng đất trống trước nhà, khiêng những cột điện bị vứt bỏ về, dựng cờ kinh pháo hoa, ngày ngày đều là tiếng kinh tiếng Phật.
Lúc Trương Văn Hóa quen biết Liên Hoa Kim Cương là vào mùa hè năm 1988, thân thể kim cương khi đó đang lâm bệnh, sốt cao đến mức cách xa một mét cũng có thể cảm nhận được hơi nóng rực của ông. Trương Văn Hóa đưa thuốc hạ sốt cho ông nhưng ông không uống, ông nói ông đã biết ý của thần linh rồi, muốn để mình khó chịu thêm mấy ngày, để ngọn lửa xác thịt thiêu đốt sạch sẽ độc tố trên người ông đi, bệnh của ông tự khắc sẽ khỏi.
Quả nhiên hai ngày sau ông đã hạ sốt, ông ăn tsampa do những người du mục mang đến, nói với Trương Văn Hóa rằng: Cậu vẽ cho tôi một bức chân dung đi? Trương Văn Hóa bèn vẽ một bức, Liên Hoa Kim Cương vô cùng yêu thích, nhưng lại không có ý định tự mình cất giữ. Trương Văn Hóa nói: Là tôi vẽ không đẹp sao? Ông lắc đầu đáp: Cậu vẽ tôi thành người, thực ra tôi là Phật; cậu vẽ tôi thành Phật, thực ra tôi là người. Cậu có vẽ tôi đẹp đến đâu đi nữa, thì cũng không phải là tôi, càng đẹp lại càng không phải tôi; cậu vẽ tôi không đẹp, thì lại càng không phải tôi, càng không đẹp lại càng không phải tôi. Không phải tôi, thế thì ông ấy là ai? Cậu không quen, tôi cũng chẳng biết, giữ lại chỗ tôi thì lại càng chẳng ai quen biết nữa. Bức chân dung cậu cứ giữ lấy, sau này nếu cậu tiêu hết tiền rồi, thì đem bán đi, coi như tôi đã xoa đỉnh đầu ban phước cho cậu rồi nhé.
Bức ký họa này sau đó đã được Trương Văn Hóa mang đến Bắc Kinh, có một tín đồ Phật giáo người Nhật Bản nhìn thấy nó tại buổi triển lãm tranh của anh, kinh ngạc nói: Bồ Đề Đạt Ma, Bồ Đề Đạt Ma, tôi chưa từng nhìn thấy bức họa Bồ Đề Đạt Ma nào sống động như thật thế này bao giờ. Người Nhật Bản này hỏi Trương Văn Hóa: Bức tranh này bán bao nhiêu tiền? Trương Văn Hóa đáp: Không bán. Lại hỏi tiếp, sao cậu lại nói bức tôi vẽ là Bồ Đề Đạt Ma chứ? Tôi vẽ một vị cao tăng đương thời, ông ấy vẫn còn sống, ở một nơi xa xôi lắm, ông ấy tên là Liên Hoa Kim Cương. Người Nhật Bản cười nói: Cậu đừng đùa nữa, tôi sưu tầm tới sáu bức chân dung chân tích của tổ sư Đạt Ma đời cổ Trung Quốc cơ mà, chẳng lẽ tôi lại nhìn lầm được sao?
Trương Văn Hóa thầm nghĩ, vị hoạt Phật người Tạng mang tên Bạch Mã Đa Kiệt, tự xưng là Liên Hoa Kim Cương, sống ở Bãi mộng Phật hoang vắng này, lẽ nào chính là sự hóa thân của Bồ Đề Đạt Ma? Thế là anh vô cùng nhớ nhung Liên Hoa Kim Cương, nhớ những ngày tháng ở cùng Liên Hoa Kim Cương trên vùng hoang nguyên Hương Nhật Đức.
Trong lúc nhớ nhung, Trương Văn Hóa lại nhớ đến một chuyện khác. Có một hôm, anh muốn Liên Hoa Kim Cương kể thật chi tiết cảm giác của bản thân khi lao động cải tạo, Liên Hoa Kim Cương tránh không nhắc tới, ngược lại lại kể cho anh nghe câu chuyện về một tín đồ Cơ đốc giáo:
Trương Peter, mục sư nhà thờ Cơ đốc Trịnh Châu, năm 1968 khi thanh trừng đội ngũ giai cấp đã bị áp giải đến nông trường Hương Nhật Đức, năm nay ông đã bảy mươi lăm tuổi rồi. Ông nói: Tôi chưa từng đến nơi hoang vu thế này bao giờ, tôi muốn từ đây đi thẳng đến Israel, nghe nói nơi này từng có một vị thánh nhân đến qua, có người đã mơ thấy ngài, ngài đã mơ thấy ai? — Hậu duệ của nhà vua David, vị vua của người dân Israel, mang theo thánh danh của Cha đến thế gian, đáng được vạn chúng ca tụng.
Trương Peter đã trốn chạy, đương nhiên là bị bắt lại. Bị bắt lại rồi lại trốn, trốn không thoát thì lớn tiếng lẩm bẩm: Đồi Sọ nay vẫn lạnh, mỗi lần ngắm nhìn, nước mắt chẳng khô, bao người đều muốn hưởng phúc nhàn, vì Chúa xả thân có mấy ai? Cây thánh giáo, máu chưa khô, mưu kế của ma quỷ ngày càng hiểm độc. Bao nhiêu linh hồn bị nuốt chửng, có ai cảm thông có ai thương xót.
Ông trốn chạy mười một lần, bị bắt lại mười một lần. Về sau thì không phải là trốn đi nữa mà là bỏ đi, không phải là bị bắt về mà là được tìm về — đám quản giáo đã nhận thức được rằng, ông lão tuổi mụ bảy mươi bảy này, bất kể đi đến đâu, ông cũng sẽ cho rằng đó là đang đi về phía Israel, cho nên chắc chắn ông sẽ không thực sự đi đến Israel đâu, ông khẳng định sẽ lại đi vòng về, chỉ cần bụng đói là ông sẽ tự động đi về. Sở dĩ đám quản giáo vẫn phải đi tìm, chủ yếu là muốn có cái để báo cáo với cấp trên. Cấp trên mà biết được sẽ nói: Một tên tội phạm đã thụ án sao lại có thể tùy tiện chạy rông bên ngoài nhà tù thế kia? Đúng vậy, không thể được, cho nên chúng tôi đã tìm ông ấy về rồi.
Vị tín đồ Cơ đốc già đã nhận được sự cảm thông của đám quản giáo, sự tự do cũng nhiều hơn một chút. Có một lần thẩm vấn cuối năm (đây là công việc lệ thường, mỗi năm đều phải làm một lần đối với mỗi phạm nhân, giống như đợt đánh giá cuối năm của các đơn vị bên ngoài nhà tù vậy), khi tra vấn Trương Peter, đám quản giáo nói: Thực ra chúng tôi cũng biết ông không có tội, nhưng hình phạt tù không phải do chúng tôi phán quyết, ông vẫn phải chịu đựng sự ủy khuất ở đây tiếp, thêm một hai năm nữa, chúng tôi sẽ làm hồ sơ giảm án cho ông thôi, ông đừng vội, cứ sống cho thật tốt, phấn đấu sống đến một trăm tuổi nhé.
Vị tín đồ Cơ đốc già rơi lệ đầm đìa, liên tục xua tay, run rẩy nói: Tội lỗi của tôi còn nhiều hơn sợi tóc, vô số nghiệt chướng đuổi theo tôi, hình phạt tội lỗi làm sao có thể miễn trừ chứ? Khẩn cầu các người hãy cứu rỗi tôi, ngàn vạn lần đừng có thả tôi ra.
Người thẩm vấn ông nhìn nhau ngơ ngác: Người này bị làm sao thế? Nói ông ấy vô chủng tội mà ông ấy lại còn nổi nóng với anh cơ chứ. Vậy cứ coi như ông ấy có tội đi, cứ giam giữ ông ấy đối xử bình đẳng như những phạm nhân khác đi. Ông ấy rất vui mừng, từ đó về sau không bao giờ trốn chạy nữa.
Trương Peter năm 1975 đã được bãi bỏ lao động cải tạo, lúc vận động ông rời đi, ông gần như tức giận nói: Tội tôi cực nặng, đáng phải chìm đắm; tội tôi cực nặng, ô uế đáng ghét; tội tôi cực nặng, cuồn cuộn như sóng vỗ; tội tôi cực nặng, ma quỷ quấn thân; tội tôi cực nặng, vẫn còn được hưởng ơn mưa móc; tội tôi cực nặng, ơn Chúa sâu dày nhất. Ông không chịu đi. Cố tình bắt ông phải đi, ông lại nói: Tôi muốn từ đây đi thẳng đến Israel. Ngày hôm sau ông đã mất tích, đám quản giáo nói: Cứ đợi đi, qua hai ngày nữa ông ấy sẽ lại tự quay về thôi.
Đám quản giáo đã đoán sai rồi, lần này ông đi là đi thật. Ông đã ở vào cái tuổi cao niên tám mươi ba, trên người chẳng mang theo thứ gì để ăn uống hay sử dụng, chỉ có thể là đi về phía cái chết chứ không phải đi về phía Israel. Hoặc là, Israel đối với ông chẳng qua chỉ là một thứ biểu tượng của thiên đường tinh thần, đối với ông mà nói đi về phía Israel thì chính là đi về phía sự kết thúc của sinh mệnh.
Một tuần sau, những phạm nhân cải tạo đào cát xây nhà ở nông trường đã thi thể của Trương Peter phát hiện ra trong sa mạc phía tây Hương Nhật Đức.
Liên Hoa Kim Cương nói: Trương Văn Hóa, cậu có biết tại sao Trương Peter lại chết trong sa mạc không? Bởi vì Đức Ban Thiền đời thứ chín lúc lưu lạc đến Hương Nhật Đức từng nói, hễ nhìn thấy sa mạc là lại nghĩ đến cái chết, chết thì chết đi, sa mạc là nơi sạch sẽ nhất.
Trương Văn Hóa nói: Những gì ngài nói có hơi huyền hoặc, nhưng tôi hiểu đây chính là tinh thần phương Đông của Cơ đốc giáo, về bản chất thì hoàn toàn giống với tinh thần coi cái chết tựa chốn về của Phật giáo.
Tiến về Nạc Mộc Hồng
Chiếc Cherokee đi ở phía trước dừng lại đợi chúng tôi. Ngọn gió sớm thổi lồng lộng khiến mái tóc của Chu Ninh và Trương Văn Hóa rối bù như đám cỏ hoang. Chiếc xe Jeep Bắc Kinh của chúng tôi lao thẳng tới, "kít" một tiếng phanh gấp, Tôn Học Minh tranh thủ nhảy ra ngoài trước, hỏi: Sao lại không đi nữa rồi? Lúc này cậu ta đã tỉnh táo hơn một chút, biết rằng việc lên đường quan trọng hơn việc tìm cửa hàng mua rượu nhiều.
Trương Văn Hóa nói: Rẽ vào trong chính là trung tâm của Bãi mộng Phật, tôi phải đi thăm người bạn tốt Liên Hoa Kim Cương cái đã.
Tôn Học Minh nói: Không được, chẳng phải các cậu nói có một con lạc đà đực đang động dục đuổi theo hai con lạc đà cái cũng đang động dục chạy đến Nạc Mộc Hồng rồi sao? Chúng ta cũng phải đuổi theo, mặc dù chúng ta không động dục.
Trương Văn Hóa nói: Không thể là không được, đi ngang qua đây mà không đi thăm bạn bè, sau này tôi còn mặt mũi nào gặp người ta nữa? Hơn nữa Liên Hoa Kim Cương chắc chắn đã tính toán được tôi sẽ đến, tôi mà không đến chào hỏi một tiếng, chặng đường này đừng hòng đi cho suôn sẻ, ông ấy sẽ niệm chú đấy.
Tôn Học Minh nói: Cứ để ông ấy niệm chú đi, chúng ta không sợ, tôi là một vị tướng may mắn, chẳng có khó khăn nào có thể làm khó được tôi cả.
Chu Ninh nói: Thuận lợi được thì cứ thuận lợi, chúng ta đừng có tự chuốc khổ vào thân, nếu tìm được Liên Hoa Kim Cương bói cho chúng ta một quẻ — trống đầu người rốt cuộc ở đâu, chẳng phải chúng ta sẽ đỡ tốn sức hơn sao?
Tôn Học Minh lắc lắc đầu nói: Ý kiến này không tồi, mài dao không lỡ công đốn củi mà, xem ra tôi uống say thật rồi.
Chúng tôi lên xe rẽ vào con đường nhánh bên đường. Hai bên đường nhánh một bên là ruộng lúa mì vàng non xanh biếc, một bên là cánh đồng hoang mọc đầy bụi mai cành khô. Chúng tôi xóc nảy chưa đầy một tiếng đồng hồ, thì nhìn thấy ngôi chùa Quảng Huệ của Liên Hoa Kim Cương. Ngôi chùa trên gò hoang nay không còn là căn phòng nhỏ hẹp tồi tàn thuở ban đầu nữa, tên chùa Quảng Huệ bằng cả hai thứ tiếng Hán và Tạng cũng đã đổi từ những viên đá trên mặt đất thành biển hiệu dát vàng, đập vào mắt là cờ kinh pháo hoa bay phần phật trong gió, hai hàng mười sáu chiếc bánh xe kinh luân bằng gỗ có màu sắc sặc sỡ đang lặng lẽ quay trong gió, cột vàng sừng sững, bậc thang dốc đứng, những khoản quyên góp của tín đồ từ lâu đã mang lại cho nơi này một diện mạo hoàn toàn mới. Bốn con chó lười biếng nằm rạp trên bãi đất trống trước chùa, thấy chúng tôi mà chẳng thèm đếm xỉa tới. Có một vị tiểu lạt ma từ trong cửa bước ra, tò mò nhìn chúng tôi.
Trừ Vương Tiêu Tiêu với cái đầu to như quả núi ra, tất cả chúng tôi đều xuống xe. Trương Văn Hóa bước qua mũi chó, lớn tiếng gọi: Bồ Tát chỉ dẫn phương hướng, tôi đến rồi đây.
Tiểu lạt ma hỏi: Các anh tìm ai?
Trương Văn Hóa đáp: Liên Hoa Kim Cương, bạn của tôi. Vừa nói vừa sải bước nhanh chân leo lên bậc thang, bước vào cửa miếu, đi một vòng rồi lại đi ra, không có á, sao lại không có nhỉ? Liên Hoa Kim Cương, Bạch Mã Đa Kiệt, người bạn biết bói toán xem bói của tôi đâu rồi?
Tiểu lạt ma đáp: Sư phụ đến Nạc Mộc Hồng rồi.
Trương Văn Hóa hỏi: Đến Nạc Mộc Hồng làm gì?
Tiểu lạt ma đáp: Sư phụ nói ngài nghe thấy có người gõ trống đầu người, sư phụ nói chiếc trống đầu người này rất có thể là của bản tôn Vu Thánh Đại Hắc Thiên của ngài, sư phụ nói Nạc Mộc Hồng có Phật sự, ngài nhìn thấy ba vị lạt ma đến từ Xuyên Tây đang vội vã vắt chân lên cổ đến tham gia rồi.
Mau đi thôi. Chúng tôi đã dò hỏi được thông tin về bấy đàn lạc đà vận chuyển vỏ ốc biển, giờ lại dò hỏi được tung tích của ba vị lạt ma Xuyên Tây, lại còn nghe ngóng được chuyện về trống đầu người. Âm thanh của trống đầu người vô cùng vĩ đại, đã thu hút vị Liên Hoa Kim Cương có khả năng tiên tri tương lai rời đi từ đằng xa. Ý duy nhất trong đầu chúng tôi lúc này chính là mau chóng lên đường, đến cả Vương Tiêu Tiêu đang trùm chiếc cối xay trên đầu cũng phải hét lên trong xe: Mau đi thôi, chậm chân là hết cơ hội đấy.
Gió hoang đưa đẩy mát rượi, một trăm bốn mươi cây số một giờ, hai chiến mã của chúng tôi chắp cánh bay cao.
Lại là một vùng đại hoang mạc, đại hoang mạc không một bóng người không một vết chân thú, tĩnh lặng như chết.
Tôn Học Minh đã hoàn toàn tỉnh táo, trợn tròn hai mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, đột nhiên hét lên: Chính là ở đây, dừng xe. Xe dừng lại, cậu ta lại hét lên: Lái nhanh lên, đuổi theo bọn họ.
Chiếc xe Jeep Bắc Kinh của chúng tôi vượt lên trước chiếc Cherokee, chặn nhóm của Chu Ninh lại. Mọi người đều nhảy tót xuống xe. Tôi hỏi: Cậu nhìn thấy gì thế? Là lạc đà ư? Hay là ba vị lạt ma Xuyên Tây?
Tôn Học Minh đáp: Chính là từ đây, rẽ vào sáu cây số, có một cỗ thi thể khô.
Trương Văn Hóa nói: Phật nhãn, tuyệt đối là Phật nhãn, có thể nhìn thấy cỗ thi thể khô cách xa sáu cây số cơ đấy.
Tôn Học Minh nói: Nếu tôi thực sự có một đôi Phật nhãn, thì cần gì phải nhọc công vất vả đi tìm trống đầu người làm gì nữa?
Tôn Học Minh kể cho chúng tôi nghe: Sự xuất hiện của cỗ thi thể khô là vào năm 1958, khi trạm tác nghiệp thứ hai của nông trường Nạc Mộc Hồng đang khai khẩn đất hoang, đã đào ra được một cỗ thi thể khô của một vị võ tướng cổ đại. Cỗ thi thể khô nguyên vẹn không tổn hại gì, cơ bắp đã khô héo, từng sợi tóc và chòm râu vẫn sống động như thật, trước ngực có vết thương, trong vết thương nhét một mảnh lụa màu xanh, trên hoa văn lộng lẫy vương vãi vết máu. Người chết mặc chiến bào da may bằng gấm dệt kim tuyến màu vàng và áo giáp mềm hộ thân, thắt lưng đeo dây da, trên dây da khảm ngọc bích, chân đi giày da cao cổ, đầu đội mũ da lông vũ màu đỏ. Thi thể được bọc bằng nỉ lông cừu. Vật phẩm chôn theo có đuôi ngựa, bàn đạp yên ngựa, cung cong bằng sừng, ống tên và mười một mũi tên sắc bén tinh xảo. Quan trọng hơn cả là, giữa hai chân của cỗ thi thể khô, có một chiếc trống đầu người viền vàng. Chiếc trống này hiện đang được trưng bày tại bảo tàng châu Hải Tây (vùng Sài Đạt Mộc phía tây Thanh Hải Hồ). Còn có một chiếc rìu dùi đánh trống, được làm bằng xương ống chân người, điều này cho thấy chiếc trống đầu người này được đánh bằng dùi chứ không phải vỗ bằng tay.
Tôn Học Minh nói: Có người dựa vào hình dáng khuôn mặt và trang thiết bị vũ khí của ông ta mà nói ông ta là võ tướng người Mông Cổ tử trận trên sa trường, có người dựa vào trang phục ăn mặc của ông ta mà nói ông ta là chỉ huy chiến trường của người Thốc Hồn, có người dựa vào vật phẩm chôn theo là dùi đánh trống và trống đầu người mà nói ông ta là nguyên soái hộ pháp của người Thổ Bốt, lại có người nói ông ta là thủ lĩnh bộ lạc người Khương cổ, sau đó đầu hàng người Thốc Hồn, rồi lại đi đánh các bộ lạc người Khương khác. Còn tôi thì cho rằng ông ta là một tăng nhân giáo phái Bôn (Bön), ông ta phụng mệnh Vu Thánh Đại Hắc Thiên của người Thốc Hồn, đi đến đó để truyền giáo bằng vũ lực, hoặc là hộ giáo, kết quả là bị tín đồ Phật giáo sát hại. Phải biết rằng, quá trình Phật giáo thay thế giáo phái Bôn ở vùng đất Tạng là một quá trình dài đằng đẵng và tàn khốc, cho đến khi Phật giáo cơ bản dung nạp được những nội dung chính của giáo phái Bôn, thì sự đối kháng tàn khốc ấy mới coi như dịu xuống. Giai đoạn này bao gồm cả việc Thổ Bốt thôn tính và đồng hóa Thốc Hồn, sở dĩ Thổ Bốt cho phép quốc gia Thốc Hồn tồn tại, chủ yếu là vì giáo chủ Vu Thánh Đại Hắc Thiên của Thốc Hồn đã tạo ra sức hút đối với họ giống hệt như giáo chủ Mật tông Liên Hoa Sinh của Phật giáo Ấn Độ vậy.
Tôn Học Minh lại nói: Đương nhiên quan trọng nhất vẫn là nơi đào được cỗ thi thể khô và trống đầu người sau này đã có dân cư sinh sống — những người du mục trong dãy núi Bố Nhĩ Hãn Bố Đa đã đến đây xây dựng nên điểm định cư, một số nhân viên lao động cải tạo không muốn về quê của nông trường Nạc Mộc Hồng đã dựng nhà cửa và nhà trình tường ở đây, thậm chí người nhà của các tội phạm đang thụ án còn chẳng cần phải xin giấy phép kinh doanh mà đã mở quán ăn, nhà trọ và cửa hàng. Nơi đó gần như đã trở thành một trấn nhỏ hoang nguyên, tên là Cố Thi Viên, do chính người dân tự gọi thành tiếng; nơi đó có một ngôi chùa nhỏ tên là chùa Cáp Ba Lạp, Cáp Ba Lạp chính là tiếng Tạng chỉ trống đầu lâu; nơi đó là nơi mang đậm tình thú tôn giáo nhất của Nạc Mộc Hồng, các tín đồ dắt theo lạc đà mang theo vỏ ốc biển phải đi qua, các lạt ma qua đường bao gồm cả ba vị lạt ma Xuyên Tây phải đi qua, vị Liên Hoa Kim Cương tri trước tri sau ấy chắc chắn cũng sẽ đi qua.
Chu Ninh cười ha hả: Giờ thì những điều nói ra đều không quan trọng nữa, quan trọng là phải hành động ngay thôi. Lúc này mọi người mới bừng tỉnh khỏi trạng thái chăm chú lắng nghe, chui tọt vào ô tô, phóng thẳng đến Cố Thi Viên cách đó sáu cây số.