Đốn Châu Bôn Sâm, hóa thân của mười vạn con sư tử, đã lên đường. Lão hộ pháp ngồi nằm bất an, lặp đi lặp lại động tác lúc nhìn đông, lúc ngó tây. Sau này chúng tôi mới biết, ông cảm nhận được có thứ gì đó giống như từ trường đang thu hút mình, nhưng chốc lát lại không tìm ra thứ đó, càng không thể ngờ rằng, thứ đó lại chính là chiếc trống đầu người thất bảo - người bạn già đã thất lạc mấy chục năm của ông. Chiếc trống đầu người thất bảo đã vượt dặm trường xa xôi để trở về bên ông.
Chiếc trống đầu người thất bảo do Liên Hóa Kim Cương giao cho chúng tôi được đặt ở phía sau chiếc xe Jeep Bắc Kinh, bọc bên trong một chiếc áo khoác da, còn lão hộ pháp thì ngồi trong chiếc Cherokee cạnh Trương Văn Hóa.
Trương Văn Hóa thấy lão hộ pháp giống như một chú chim bị nhốt vào lồng, ngoáy qua ngoáy lại, bèn nói: "Ông bị sao thế? Ông thấy không khỏe à?"
Lão hộ pháp không diễn tả được, ông cảm thấy vừa khỏe lại vừa không khỏe, mà nói cho đúng thì đây cũng chẳng phải là vấn đề khỏe hay không khỏe.
Trương Văn Hóa lại hỏi: "Ông có bị say xe không? Hay chúng ta dừng lại, nghỉ ngơi một lát nhé?"
Lão hộ pháp gật đầu. Xe Cherokee dừng lại. Mọi người trên xe đều xuống, nhìn lão hộ pháp. Lão hộ pháp đi vòng quanh ô tô, chỗ này sờ sờ, chỗ kia vặn vặn. Chúng tôi thấy khó hiểu vô cùng.
Trương Văn Hóa hỏi ông: "Ông đang tìm đồ vật à?"
Lão hộ pháp gật gật đầu.
Trương Văn Hóa lại hỏi: "Ông tìm thứ gì thế?"
Lão hộ pháp lại lắc đầu nói: "Tôi... tôi... tôi cũng không biết mình đang tìm thứ gì."
Sau này chúng tôi mới biết, lão hộ pháp tên là Đốn Châu Bôn Sâm, có nghĩa là Đốn Châu, hóa thân của mười vạn con sư tử. Một cái tên cát tường, thiện lương và dũng mãnh nhường ấy, đồng nghĩa với việc ông phải gánh vác trọng trách bảo vệ tôn giáo, cứu khổ cứu nạn. Thế là vào một buổi hoàng hôn rực rỡ sắc máu, đại lạt ma Đa Cát Lan Chiêm của Chùa Samye - nơi dung hợp Phật giáo và Bôn giáo - đã bảo ông rằng:
Mây trên trời bay qua, ai mà biết có mưa hay không? Cỏ dưới đất mọc lên, ai mà biết chiêu dẫn đến là cừu cái hay dê đực? Vận mệnh chính trị và tôn giáo của Tây Tây Tạng đang đối mặt với tương lai lành dữ khó lường, ngay cả người phát ngôn của Bạch Mahakala dũng mãnh vô song, Đại sư Nà-chung của Chùa Drepung cũng không thể chỉ rõ phương hướng. Bây giờ cần ngươi đi gióng lên tiếng trống đầu người, đây là nguyện vọng của vị thần bảo hộ Tây Tạng thần thánh - Quán Thế Âm: Chỉ có trống đầu người thất bảo của Chùa Samye chúng ta mới có thể đánh ra sự cát tường của Tây Tạng.
Đốn Châu Bôn Sâm gật đầu, vô cùng trang nghiêm lên đường. Ông mang theo hai bảo khí hộ dân của Băng-đạt-lạp-mẫu là trống đầu người thất bảo, lấy thân phận là người phát ngôn của Băng-đạt-lạp-mẫu, vừa đi vừa gõ suốt dọc thung lũng sông Lhasa, đi qua tất cả những nơi có thể đặt chân tới thuộc lưu vực sông Yarlung Tsangpo. Ông gõ trống mẹ vào buổi sáng, gõ trống cha vào buổi chiều, đến tối lại ngồi xuống đất, tay phải gõ trống cha, tay trái gõ trống mẹ, trong lòng đinh ninh nhớ đến lời của đại lạt ma Đa Cát Lan Chiêm, nghĩ rằng sứ mệnh của mình sao lại trọng đại nhường này. Ông dốc sức gõ, chỉ hận không có mười chiếc trống đầu người để ngày đêm gõ liên tục. Tiếng trống của ông khiến ba ngôi chùa lớn ở Lhasa, Cung điện Potala và thậm chí toàn bộ Tây Tây Tạng đều biết tên tuổi của mình, ai nấy đều ngóng trông phúc âm mà chiếc trống đầu người mang lại.
Mọi người nhìn thấy, ngay trong tiếng vang của chiếc trống đầu người thất bảo do ông đánh lên, sự thay đổi đã diễn ra.
Tháng 1 năm 1951, đoàn tùy tùng đi theo Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn đến Trác-đức (Yadong) giáp biên giới Trung - Ấn đã tiến hành hơn chục buổi hội thương trao đổi thư từ với các quan chức tăng tục ở lại Lhasa làm nhiếp chính thay Đạt Lai; cuối cùng do Đạt Lai Lạt Ma sắc định: Bổ nhiệm A-phái Á-vượng Tấn-mỹ đang ở Qamdo làm trưởng đoàn đàm phán đại diện cho chính quyền Cáp-tát (Kagshag) Tây Tạng, bổ nhiệm các quan chức chính quyền đang trấn thủ Lhasa là Thổ-đăng Liệt-môn, Đăng-tăng Đốn-châu làm đại biểu đàm phán. Vẫn còn hai suất đại biểu tạm thời khó xác định, Đạt Lai huấn thị do Cáp-tát và Di-tàng (Yicang) lần lượt trình báo danh sách ứng viên tăng tục. Quan chức Di-tàng là Thổ-đan Đán-đạt chủ động xin đi, nói rằng: Bốn vị Trọng-dịch Khâm-bảo của Di-tàng đều đã đến Trác-đức, ở đây không thiếu nhân thủ. Tôi là người mới nhậm chức, không hiểu nhiều về chính sự và tôn giáo, xin chịu mệnh đi Bắc Kinh. Những người khác không có dị nghị gì. Bốn vị Trọng-dịch Khâm-bảo lập tức yết kiến Đạt Lai Lạt Ma. Đạt Lai liền bổ nhiệm Thổ-đan Đán-đạt làm đại biểu đàm phán tăng quan. Đồng thời, Cáp-tát trình báo Mã-ki-sô A-vượng Đôn-đồi của Tạng quân làm đại biểu tục quan. Đạt Lai đã đồng ý.
Tại Lhasa, các vị Phật sống đã tiễn đưa hai đại biểu đàm phán cùng nhân viên hộ tống là tăng quan ngũ phẩm Khúc-kiệt, Bình-thố, Biên-ba và Đa-cát lên đường đi Qamdo hội hợp với A-phái:
Nguyện vọng của Tây Tạng chính là nguyện vọng của Thượng sư Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát. Vung roi giục ngựa tiến về phía trước đi, tất cả đều vì sự hưng thịnh của Phật giáo. Trách nhiệm của các vị lớn tày trời, xin phó thác lại cho các vị, những sứ giả dũng cảm.
Thổ-đăng Liệt-môn nói: "Đúng vậy, tôn kính Phật gia, trách nhiệm lớn tày trời. Lòng dạ chúng tôi nặng trĩu như bị đè nát bởi ngàn cân sắt đá. Chúng tôi sẽ dốc tâm dốc sức."
Đăng-tăng Đốn-châu nói: "Mọi nỗ lực của chúng tôi đều vì Phật giáo không bị tổn thất, tin rằng Phật sẽ giúp đỡ chúng ta."
Quan chức chính quyền Đan-bổn-gia cảm thán một tiếng nói: "Không có Phật giáo thì không có Tây Tạng, không có chúng ta những con người này, hãy nhớ lấy, lợi ích của Phật giáo cao hơn tất cả." Tiếp đó, ông ta ra lệnh cho cấp dưới phát cho đoàn đại biểu đàm phán và các quan chức hộ tống sáu trăm (cân) bạc Tạng, dùng làm chi phí mua ngựa và tiền ăn dọc đường tại các trạm dịch, lại dâng khăn Hada, chúc họ thượng lộ bình an.
Đó là một buổi sáng tuyết sương mù mịt, dưới những bậc thềm của Cung điện Potala, mấy người vội vã đến Qamdo lấy đầu cúi sát tường, cáo biệt cung điện nguy nga tráng lệ này. Đăng-tăng Đốn-châu là người đầu tiên leo lên lưng ngựa. Mấy người còn lại dắt ngựa, đi ra hơn trăm mét rồi mới lật người lên ngựa.
Hóa thân của mười vạn con sư tử, người phát ngôn của Băng-đạt-lạp-mẫu là Đốn Châu Bôn Sâm mang theo trống đầu người thất bảo, vừa đi vừa gõ suốt dọc đường. Ông gặp rất nhiều lạt ma, các lạt ma đều hỏi ông: "Nghe nói Đạt Lai Lạt Ma đã rời Lhasa đi Trác-đức rồi ư? Nghe nói quân đội của người Hán Đỏ đã kéo sang rồi ư? Nghe nói Qamdo đã đánh nhau rồi ư? Nghe nói Phật giáo thần thánh của chúng ta sắp gặp phải tai họa diệt vong rồi ư?" Đốn Châu Bôn Sâm không trả lời. Ông chỉ dùng tiếng trống để đáp lại. Cả trống cha và trống mẹ đều đang đáp rằng: "Xin hãy hỏi Thường Tê Bồ Tát, xin hãy hỏi Đa Cát Lan Chiêm (có nghĩa là Kim Cương Thôi Hoại), xin hãy hỏi núi Nyenchen Tanglha."
Đầu tháng ba, đoàn đại biểu đàm phán xuất phát từ Lhasa đã đến Qamdo hội diện với A-phái Á-vượng Tấn-mỹ. Chẳng bao lâu sau, A-phái nhận được điện khẩn từ Trác-đức truyền đến, nội dung là năm điều kiện do Đạt Lai Lạt Ma và Cáp-tát Trác-đức thương thảo định đoạt liên quan đến việc đàm phán của chính quyền Tây Tạng, đồng thời hối thúc các đại biểu nhanh chóng lên đường. Giữa tháng ba, A-phái điện báo cho Đạt Lai rằng họ đã xuất phát từ Qamdo, cưỡi ngựa hướng về vùng Kham, bước lên con đường đàm phán đầy gian nan.
Đạt Lai nhận được điện thì thở phào nhẹ nhõm, nhưng mày sầu vẫn không giãn. Ngài triệu kiến Cáp-lân Nhã-ba cùng hai vị đại biểu đàm phán chuẩn bị quá cảnh qua Ấn Độ rồi rẽ sang Hồng Kông để vào Bắc Kinh tại hành cung của mình - một tòa lô cốt màu trắng.
Ngài dùng giọng nói hãy còn non nớt để nói: "Các ngươi phải đi rồi, có phải nên xuất phát rồi không?"
Thổ-đan Đán-đạt nói: "Chỉ cần Đạt Lai Lạt Ma hạ lệnh một tiếng, chúng thần lập tức xuất phát."
Đạt Lai khẽ thở dài, cúi đầu trầm ngâm hồi lâu không nói gì.
Nhã-ba nhịn không được cất lời: "Tôn quý Lạt ma, vì sự hưng thịnh của chính giáo và ánh sáng của Tây Tạng, ngài phải bảo trọng thân thể. Vào lúc đại biểu đàm phán sắp lên đường thế này, những người ở lại Tây Tạng chúng ta đều nên vui vẻ chúc phúc cho họ."
Đạt Lai Lạt Ma u sầu lắc đầu, trầm tư một lát rồi nói: "Cáp-lân Nhã-ba, ngươi nói đúng, tối hôm qua ta thức trắng đêm, đều là đang tụng kinh chúc phúc cho các đại biểu. Nhưng sao ta có thể vui nổi chứ? Các đại biểu không đi, ta tụng kinh cũng chẳng yên lòng. Ta lo người Hán Đỏ sẽ cho rằng chúng ta đang kéo dài thời gian, nóng nội tiến quân ào ạt vào Lhasa."
Đạt Lai cầm một bức thư từ chiếc kỷ trà được chạm khắc hoa sen và hoa văn xoắn ốc trước mặt, đưa cho Sương-vượng Đôn-đồi: "Bức thư này các ngươi hãy trực tiếp giao cho Thủ tướng Ấn Độ Nehru, các ngươi có thắc mắc gì thì có thể thỉnh giáo ông ấy. Phật pháp Tây Tạng chịu ơn huệ không nhỏ từ Ấn Độ, ta thỉnh cầu chính phủ Ấn Độ làm nhân chứng ở giữa khi chúng ta ký kết hiệp định Hán - Tạng."
Ngày hôm sau, Cáp-tát Trác-đức giao năm bản giấy ủy quyền toàn quyền có đóng dấu của chính phủ cho hai vị đại biểu đàm phán. Bên ngoài giấy ủy quyền ghi tên và thân phận của mỗi đại biểu, bên trong có những lời căn dặn của Đạt Lai Lạt Ma dành cho đại biểu đàm phán: Thừa nhận Tây Tạng là lãnh thổ Trung Quốc vân vân. Lại qua một ngày nữa, trước một tòa lô cốt màu hồng nhạt tựa lưng vào núi xanh, hai vị đại biểu đàm phán cùng phiên dịch viên tiếng Hán là Bành-thố Trát-tây - chị gái của Đạt Lai Lạt Ma, phiên dịch viên tiếng Anh là Tát-đô Nhân-thanh cùng vài tùy tùng đã cáo biệt các quan chức Cáp-tát đến tiễn đưa. Họ trao nhau khăn Hada, chúc nhau Tashi Delek.
Lên đường rồi, một đội bóng ngựa khuất dần về phía ngọn đèo Himalaya bỗng trở nên khoáng đạt do thân núi bị đứt gãy.
Lúc này, Đạt Lai Lạt Ma đang đả tọa tụng kinh trong kinh đường. Phía trước đặt một chồng "Ngũ Thứ Minh Đăng Luận" của Tông Khách Ba được viết bằng nước vàng.
Đốn Châu Bôn Sâm, hóa thân của mười vạn con sư tử, người phát ngôn của Băng-đạt-lạp-mẫu, vừa đi vừa gõ suốt dọc đường, từ mùa đông gõ sang mùa xuân, thời tiết ấm lên, thảo nguyên xanh ngút ngàn, làn gió mát tháng tư đùa giỡn trên những con sóng cỏ non xanh mơn mởn, sóng cỏ tan biến vào trong sắc xám tro của núi xa. Có một vị lạt ma nói với ông rằng: "Hay lắm, Lạt ma, ông cứ nhọc nhằn gõ chiếc trống đầu người thế này, thật khiến tôi khâm phục. Nhưng ông có thể gõ ra sự cát tường cho chính trị và tôn giáo Tây Tạng được không? Ông có thể gọi Đạt Lai Lạt Ma từ Trác-đức quay về bằng tiếng trống được không? Ông có thể khiến ánh hào quang của Quán Thế Âm Bồ Tát vĩnh viễn không tắt được không?" Đốn Châu Bôn Sâm để tiếng trống nói cho người đó nghe: "Xin hãy hỏi Thường Tê Bồ Tát, xin hãy hỏi Đa Cát Lan Chiêm, xin hãy hỏi núi Nyenchen Tanglha."
Trưa ngày 16 tháng 4, đoàn đại biểu đàm phán do A-phái dẫn đầu bụi đường mệt mỏi vội vã đến Tân Tân rất gần Thành Đô. Nghỉ ngơi một lát, dùng bữa, năm giờ chiều, họ bước lên chiếc máy bay quân sự đã được chuẩn bị từ trước. Máy bay cất cánh, bồn địa Tứ Xuyên rộng lớn, những kiến trúc san sát như lược, núi non địa hình, cứ thế nhỏ dần đi. Bọn họ đều là lần đầu tiên đi máy bay, áp sát mặt vào cửa sổ, cứ nhìn chằm chằm xuống dưới. Các công trình kiến trúc giống như đàn kiến sống quần tụ, sau đó đến kiến cũng chẳng giống nổi. Một vài màu sắc nhạt nhòa được tô điểm đồng đều trên đồng bằng. Đồng bằng giống như một bức tranh vải được buông thả bồng bềnh dưới bầu trời. Mây trắng đã ở phía dưới, hiền hòa trôi lướt về phía sau. Phía trên là màu xanh thẳm sâu.
Hơn một tiếng sau, máy bay hạ cánh xuống sân bay Trùng Khánh.
Chính ủy Quân khu Tây Nam Đặng Tiểu Bình và nguyên Chủ tịch tỉnh Tây Khang thuộc chính quyền Quốc dân đảng Lưu Văn Huy ra sân bay đón tiếp. Ngày hôm sau, đoàn đại biểu Tây Tạng dưới sự dẫn dắt của A-phái đã đến bái kiến các nhà lãnh đạo Cục Tây Nam, Ủy ban Quân chính Tây Nam, Quân khu Tây Nam. Sau đó, ba cơ quan chính quyền Tây Nam đã mở tiệc chiêu đãi đoàn đại biểu đàm phán tại Đại lầu Thắng Lợi Trùng Khánh. A-phái đã dâng khăn Hada và lễ vật lên nhà lãnh đạo cao nhất khu vực Tây Nam là Đặng Tiểu Bình.
Khi ăn cơm, A-phái nói: "Đạt Lai Lạt Ma đang ở vùng biên giới Trác-đức, một khi cộng sản dùng vũ lực tiến quân, ngài ấy sẽ sang Ấn Độ tị nạn. Người Tây Tạng không thể nào chấp nhận cục diện không có Đạt Lai Lạt Ma." Đặng Tiểu Bình nói: "Trung ương có hoạch định chính sách dân tộc, chính sách này nếu không được chấp hành nghiêm túc thì không thể có được sự tin tưởng của nhân dân Tây Tạng. Chúng tôi nhận thức được lợi ích khi Đạt Lai Lạt Ma quay về Lhasa, mời các vị tới đàm phán chính là vì điều này đấy."
Sau đó, đoàn đại biểu đến tham quan Nhà máy gang thép Trùng Khánh. Nhà máy này được tiếp quản từ tay Quốc dân đảng, quy mô không lớn nhưng cũng đủ để chứng minh nền tảng công nghiệp nội địa tuyệt đối không phải là thứ mà một Tây Tạng vẫn còn khư khư giữ lấy kinh tế tự nhiên có thể so sánh được. Mà tượng trưng cho nền tảng công nghiệp, ngoài điều kiện kinh tế tiên tiến ra, còn có sức mạnh quân sự khiến người Tây Tạng phải vái lạy không kịp - sắt thép chính là mẹ của vũ khí.
Lãnh đạo nhà máy triệu tập công nhân ra quảng trường, mời đoàn đại biểu phát biểu. Các thành viên trong đoàn đều là lần đầu tiên nhìn thấy nhiều người Hán mặc đồ công nhân thế này, không biết nên nói gì cho phải, cứ liên tục từ chối: "Lời của chúng tôi các anh nghe không hiểu đâu."
Phiên dịch viên đi cùng họ nói: "Chúng ta rất quen thuộc với tình hình nhà máy, các anh cứ tự nhiên phát biểu, nói gì cũng được, tôi dịch theo ý của tôi, công nhân nhất định sẽ hoan nghênh."
Đoàn đại biểu bèn cử nhân viên hộ tống trẻ tuổi khôi ngô Biên-ba lên phát biểu. Biên-ba trấn định tinh thần, nhìn những người công nhân đang tràn đầy mong chờ, bỗng nhiên nhớ lại cảnh tượng nghe bậc trí giả Shes-rab rgya-mtsho giảng học ở ngôi chùa ở Amdo thuở thiếu thời - biết bao nhiêu đệ tử tăng tục, khoanh chân ngồi trên đệm cói, ngước nhìn thái độ của Shes-rab rgya-mtsho chẳng phải cũng giống như thế này sao? Mà Shes-rab rgya-mtsho thì điềm nhiên không gấp gáp, hùng biện trôi chảy, ra vẻ một người đại trí tuệ siêu nhiên xuất thế, nhìn ngắm chúng sinh từ xa. Tại sao mình lại không học theo để làm một người trí tuệ chứ? Người trí tuệ đối diện với mọi thứ đều nên là người không sợ hãi.
Thế là anh bình thản trở lại, lưu loát cất lời: "Thuở hồng hoang, ở Tây Tạng chúng ta, quốc vương Thổ Phồn để phổ biến giáo pháp và chữ viết Thổ Phồn cho muôn dân dưới quyền quản trị của mình, trước tiên đã dùng chữ viết Thổ Phồn để viết bài tán thán ba thầy trò Giác Ngọa Bồ Tát. Những bài thơ tán thán mỹ lệ này là như thế này..." Anh bắt chước dáng vẻ của Shes-rab rgya-mtsho dừng lại một chút, ánh mắt sáng rực quét qua phía trước, kéo dài giọng ngâm nga —
Thân thể bạch ngọc không vướng bụi trần thế, đầu đội vương miện tròn vành vạnh ánh vàng của Phật Đà, dùng tuệ nhãn từ bi cúi nhìn chúng sinh vô số kể, thành kính đỉnh lễ cúng bái Quán Thế Âm Bồ Tát.
Người đi cùng bắt đầu phiên dịch: "Đã là xã hội mới rồi, giai cấp công nhân đã đứng lên làm chủ nhà, các anh chính là chủ nhân của nhà máy đây. Tôi tin rằng, các anh nhất định rất vui mừng. Nhưng chỉ vui mừng thôi thì chưa được, sự nghiệp của nhân dân cần sự lao động miệt mài, phấn đấu của đông đảo nhân dân, cố lên nhé các đồng nghiệp công nhân."
Tiếng vỗ tay. Biên-ba lại ngâm rằng:
Trí tuệ vô hạn của Đại Từ Đại Bi như chòm sao, Bồ Tát có tấm lòng nhân hậu bình đẳng sang hèn, hai tay chắp lại như ý tượng trưng cho tài bảo vô lượng, vị Bồ Tát được muôn người kính ngưỡng ơi, hỉ nộ đều hiện điềm lành.
Người đi cùng phiên dịch: "Giai cấp công nhân phải đoàn kết, phải đồng sức đồng lòng tạo nên kỳ tích, đợi đến khi chiến tuyến công nghiệp liên tục truyền về tin chiến thắng, đất nước của chúng ta sẽ cường đại vô song. Chúng ta không sợ sự đe dọa của bất kỳ kẻ thù nào đối với chúng ta, chúng ta sẽ từng bước tiến tới chiến thắng cuối cùng."
Tiếng vỗ tay. Biên-ba tiếp tục ngâm:
Không vướng bận hơi thở ô uế trong vòng luân hồi sinh tử, tựa như đóa sen nở trên trời ánh bảo quang trong suốt, giơ tay trái để hoa sen trắng rưới mưa móc khắp chốn, tôi cúi đầu kính lễ Quán Thế Âm tụng lớn A-di-đà-phật.
Người đi cùng phiên dịch: "Trung Quốc là một đất nước vĩ đại, các dân tộc nhân dân đều là người một nhà, các anh là những phần tử tiên tiến của Trung Quốc, hoan nghênh các anh đến Tây Tạng. A-di-đà-phật."
Một tràng pháo tay nhiệt liệt vang lên. Biên-ba mặt mày rạng rỡ, cúi đầu thật sâu chào các công nhân.
Ngày 20 tháng 4 lúc 9 giờ 45 phút, đoàn đại biểu đàm phán cất cánh từ sân bay Trùng Khánh, 12 giờ 15 phút hạ cánh xuống sân bay Tây An. Nghỉ ngơi tham quan hai ngày, ngày 22, lại tiếp tục đi máy bay đến Bắc Kinh.
Thủ tướng chính phủ Chu Ân Lai cùng Trưởng ban Công tác Mặt trận Thống nhất Lý Duy Hán cùng đại diện các giới đã ra sân bay đón tiếp họ.
Đốn Châu Bôn Sâm, hóa thân của mười vạn con sư tử, người phát ngôn của Băng-đạt-lạp-mẫu, vừa khất thực vừa gõ trống đi suốt dọc đường. Sắc xám tro của ngọn núi xa càng dâng lên cao, phác họa nên đường chân trời. Làn sương khói màu xanh nhạt lúc ẩn lúc hiện bao vây trên con đường phía trước, vươn tay tóm lấy một cái là có thể vắt ra nước bên trong. Hương vị hoa cỏ tươi mát và say đắm lan tỏa dày đặc, gió mát thổi đến bức người. Ông nhìn thấy mấy vị lạt ma, mấy vị lạt ma kia phớt lờ ông. Bọn họ đã không còn tin tưởng nữa rồi, không tin tiếng trống đầu người có thể cứu vãn vận mệnh của lạt ma, có thể mang lại hòa bình cho Tây Tạng. Đốn Châu Bôn Sâm thế là lại càng hăng hái gõ mạnh hơn.
Đột nhiên có một người mang dáng vẻ quý tộc cưỡi ngựa đuổi theo từ phía sau, chặn ông lại và nói: "Sắp phát súng cho chúng ta rồi, sắp bắt chúng ta đi tham gia đại bản đoàn (Tạng quân) rồi, ngài lạt ma đánh trống đáng kính nói xem, thế này có tốt hay không chứ? Chẳng lẽ mảnh đất dưới chân chúng ta không nói cho chúng ta biết rằng, trong thế giới được thần phật che chở này, là không cần phải động đao động súng hay sao? Người Hán động súng, tôi phản đối, người Tạng động súng, tôi cũng phản đối. Nhưng bây giờ, chúng ta và thần phật của chúng ta đều đã nhìn thấy những chuyện không nên thấy, Qamdo đã đánh nhau rồi, hai bên đều đã động đao động súng, có người chết, có người đổ máu, kinh của Phật gia tụng uổng công rồi. Phải biết rằng, người Hán không tụng kinh, bọn họ giết người, Phật gia nhìn không thấy đâu. Còn chúng ta mà giết người, Phật gia sẽ trách tội chúng ta đấy."
Đốn Châu Bôn Sâm vừa đánh trống vừa đáp: "Xin hãy hỏi Thường Tê Bồ Tát, xin hãy hỏi Đa Cát Lan Chiêm, xin hãy hỏi núi Nyenchen Tanglha."
Ấn Độ, New Delhi, đoàn đại biểu đàm phán Tây Tạng Sương-vượng Đôn-đồi cùng tùy tùng đi qua các con phố ngõ ngách, trông có vẻ lo âu và mệt mỏi. Chẳng mấy chốc, trước mặt họ xuất hiện một tòa nhà hai tầng màu trắng cũ kỹ. Có người ra đón và nói: "Các vị khỏe chứ, những vị khách quý từ phương xa tới? Mau vào trong nhà nói chuyện, trà sữa trên bếp đã vì sự có mặt của các vị mà bốc lên hơi nóng không thể xua tan."
Đoàn đại biểu đàm phán và tùy tùng bước vào trong nhà, dưới sự dẫn đường của chủ nhà bước lên cầu thang, đi vào phòng khách được trải thảm Tây Tạng, thờ Phật và thắp hương Tây Tạng.
Uống trà, ăn cơm, nghỉ ngơi, bàn bạc lịch trình. Nơi này là thương hiệu do quý tộc Tây Tạng Tsering Gonpo mở ra, kinh doanh dược liệu Tây Tạng, len lông cừu và một số đặc sản Tây Tạng khác. Đây cũng là nơi giới thượng lưu Tây Tạng đặt chân khi đến Ấn Độ. Chủ nhân của nó duy trì quan hệ mật thiết mang tính thương mại hoặc phi thương mại với các quan chức chính phủ Ấn Độ. Trong các cuộc tiếp xúc phi chính thức giữa Tây Tạng và Ấn Độ, đây là một cây cầu vững chắc và đáng tin cậy. Ngay khi các vị khách đang nghỉ ngơi, Tsering Gonpo đã lặng lẽ rời khỏi cửa hàng, đi tìm người bạn Ấn Độ của mình.
Ngày hôm sau, Thủ tướng Ấn Độ Nehru đã tiếp kiến đoàn đại biểu đàm phán Sương-vượng Đôn-đồi và Thổ-đan Đán-đạt tại văn phòng của mình.
Nehru mỉm cười nhận lấy, giao bức thư cho phiên dịch viên đứng sau lưng, rồi thuần thục quàng chiếc khăn Hada lên cổ mình.
Sương-vượng Đôn-đồi nói: "Thưa Thủ tướng các hạ, chủ nhân của thánh giáo Tây Tạng là Đạt Lai Lạt Ma ủy thác chúng tôi gửi lời thăm hỏi đến ngài, đồng thời thỉnh giáo ngài về lối thoát cho Tây Tạng."
Nehru phát ra một tiếng "ồ" rồi nói: "Các anh cuối cùng cũng phải đi đàm phán rồi, ước chừng chính phủ Trung Quốc sẽ đưa ra ba điểm thế này: Một là yêu cầu Tây Tạng quay về đại gia đình Trung Quốc. Không đồng ý điều này thì không có cách nào đàm phán, bản đồ quốc tế từ lâu đã đánh dấu Tây Tạng thuộc về Trung Quốc. Hai là ngoại giao của Tây Tạng phải do Trung Quốc thống nhất quản lý. Không đồng ý điều này cũng không có cách nào bàn bạc, thế nên cũng phải đồng ý. Ba là quân đội Trung Quốc phải đồn trú tại Tây Tạng. Đã đồng ý điều này thì sau này Tây Tạng sẽ gặp phải rắc rối lớn."
Sương-vượng Đôn-đồi nói: "Nhưng quân đội Trung Quốc đã chiếm giữ Qamdo rồi, bọn họ chắc chắn sẽ còn tiến về phía trước, chiếm giữ Lhasa, chiếm giữ toàn bộ Tây Tạng, cuối cùng đe dọa đến Ấn Độ."
Nehru trầm ngâm, một lát sau lại nói: "Các anh phải dùng phương pháp khéo léo để bảo vệ lợi ích của Tây Tạng, tuyệt đối không được giao chiến với Trung Quốc, đánh không thắng được đâu."
Thổ-đan Đán-đạt nói: "Chúng tôi là những tín đồ Phật giáo, chúng tôi tínngưỡng Phật Pháp Tăng tam bảo, chúng tôi không muốn đánh chiến tranh. Nhưng chúng tôi hoàn toàn không biết phải làm thế nào mới có thể bảo vệ địa vị của Tây Tạng."
Nehru dường như có chút kinh ngạc trước lời nói của Thổ-đan Đán-đạt: "Chẳng lẽ các anh không biết rằng các anh đã bắt đầu làm rồi sao? Bây giờ, đối với Tây Tạng mà nói, đàm phán là thích hợp nhất."
Thổ-đan Đán-đạt lại nói: "Thủ tướng các hạ vừa nãy nói nên thừa nhận điều khoản ngoại giao Tây Tạng do Trung Quốc thống nhất quản lý, đã như vậy thì cả phía Tây Tạng lẫn phía Ấn Độ đều không tiện đưa ra vấn đề để Ấn Độ làm nhân chứng ở giữa nữa rồi."
Nehru nói: "Làm vậy là không khôn ngoan, công hàm của chúng ta chắc chắn sẽ vấp phải sự kháng nghị dữ dội từ người Trung Quốc. Xin các anh hãy chuyển lời đến tôn kính Đạt Lai Lạt Ma, phải dốc hết mọi nỗ lực để cuộc đàm phán thành công."
Sương-vượng Đôn-đồi và Thổ-đan Đán-đạt nghe phiên dịch xong thì nhìn nhau không biết nên nói gì cho phải. Nehru đứng dậy khỏi ghế sofa, ngồi vào bàn làm việc, cầm bút máy viết nhanh mấy chữ lên một tờ giấy trắng vuông vức, gấp lại, bỏ vào một chiếc phong bì màu vàng nhạt. Ông nói: "Tôi rất coi trọng sự tín nhiệm của các anh đối với tôi. Tôi sẽ bảo Đại sứ Panikkar giúp đỡ các anh, ở Bắc Kinh nếu gặp phải khó khăn gì, các anh có thể đến bàn bạc với ông ấy."
Sương-vượng Đôn-đồi đứng dậy bước lên trước, cung kính đón lấy bức thư đó.
Ngày 22 tháng 4, đoàn Sương-vượng Đôn-đồi dưới sự đồng hành của Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Ấn Độ Thân Kiện đã lên máy bay, cùng ngày đến Hồng Kông, lại đổi sang đi tàu hỏa, vào lúc 8 giờ sáng ngày 26 tháng 4 đã đến Bắc Kinh. Người ra ga tàu đón họ chính là nhân vật số hai của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng tư lệnh Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Chu Đức, cùng Trưởng ban Công tác Mặt trận Thống nhất Lý Duy Hán và các nhân vật tên tuổi từ các giới.
Một hàng xe con đã đưa họ đến khách sạn Bắc Kinh.
Đốn Châu Bôn Sâm, hóa thân của mười vạn con sư tử, người phát ngôn của Băng-đạt-lạp-mẫu vừa khất thực vừa gõ trống đi suốt dọc đường, khi ông gõ đến bên bờ sông Niyang ở Nyingchi, nhìn thấy một chú chim tinh linh cát tường, hót ríu rít sà xuống chiếc trống đầu người, rồi lập tức bay đi; nhìn thấy một chú ngựa trắng tự do, thong thả đi tới, lại thong thả đi qua; nhìn thấy một chú hổ oai phong lẫm liệt, đang nằm tĩnh lặng trên vách đá, nhìn ông giống như đang nhìn một chú khỉ khác; nhìn thấy một chú khỉ và một chú khỉ khác đang đùa nghịch; nhìn thấy một vị lạt ma đang đi về phía mình, đưa cho ông một bát gỗ tsampa, nói với ông rằng:
Tôi biết anh là sứ giả của đại lạt ma Đa Cát Lan Chiêm của Chùa Samye; tôi biết anh là hóa thân của Băng-đạt-lạp-mẫu, truyền đạt tiếng nói của Thường Tê Bồ Tát; tôi biết anh đến từ vòng tay của thần núi Nyenchen Tanglha, vị thần này chính là vị thần mười tám nắm đá băng đã được Đại sư Padmasambhava thu phục, là vị thần bảo hộ tài bảo xứ sở tạng của chúng ta, ngài lại là vị thần thể phác của Tán phổ Trưởng Tông Đức Tán dũng vũ, là vị thần bảo hộ địa phương của Vệ Tạng tứ như, càng là vị thần bảo hộ ngọn đồi đỏ của Cung điện Potala - ồ, vị thần núi vĩ đại Nyenchen Tanglha.
Nói xong vị lạt ma liền rời đi. Đốn Châu Bôn Sâm tiếp tục gõ chiếc trống đầu người, tiếng trống bỗng trở nên vang dội lạ thường, từng mặt của trống cha và trống mẹ đều vang dội hơn mặt kia. Đốn Châu Bôn Sâm cảm thấy khác thường, thầm nghĩ hôm nay là ngày gì thế này, mình phải ghi nhớ nó mới được. Ngày mà ông ghi nhớ chính là ngày 23 tháng 5 năm 1951 theo dương lịch, ngày 23 tháng 3 năm Thỏ sắt theo lịch Tạng.
Ngày 23 tháng 5 năm 1951, sau nhiều lần thương thảo, "Hiệp định của Chính phủ Nhân dân Trung ương và Chính phủ địa phương Tây Tạng về các biện pháp giải phóng hòa bình Tây Tạng" được tuyên bố ra đời, lịch sử gọi nó là "Hiệp định 17 điều".
Ngày 21 tháng 7, Đạt Lai Lạt Ma rời Trác-đức, bước lên con đường trở về Lhasa.
Ngày 24 tháng 10, ngày 24 tháng 8 năm Thỏ sắt lịch Tạng, Đạt Lai Lạt Ma đã gửi điện từ Lhasa đến Bắc Kinh - Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương Mao Trạch Đông, bày tỏ ủng hộ "Hiệp định 17 điều", thừa nhận Tây Tạng là một phần lãnh thổ không thể chia cắt của Trung Quốc.