Hướng Nhật Đức của Thần vương lưu vong
Phía tây Đô Lan, quốc lộ Thanh Tạng đang được cải tạo, đâu đâu cũng là đường tạm, vô cùng khó đi. Xóc nảy chao đảo mãi cuối cùng cũng đến Hướng Nhật Đức, lúc đó đã là bốn giờ chiều. Chúng tôi đỗ xe, xuống xe, tìm một quán nước để bàn bạc vài chuyện đang nước sôi lửa bỏng.
Cuối cùng chúng tôi thống nhất, cuộc điều tra về trống đầu người sẽ bắt đầu từ Hướng Nhật Đức.
Hướng Nhật Đức là một trấn trọng yếu của Thanh Tạng, sự quan trọng của nó không chỉ nằm ở chỗ nó là yết hầu giao thông đi Tây Tạng, mà còn nằm ở chỗ lịch sử của nó có mối liên hệ nhân kiệt địa linh với hai đời Ban Thiền của Tạng truyền Phật giáo (Ban Thiền đời thứ chín và Ban Thiền đời thứ mười). Hai đời Ban Thiền này đã cùng chúng tôi trải qua phần lớn năm tháng của thế kỷ XX, chúng tôi vẫn có thể nhớ hình dáng của họ, vẫn có thể dùng sự đồng cảm lớn nhất để từ xa dõi theo sự lưu vong mang tính thần tính của họ.
Những năm đầu Trung Hoa Dân Quốc, hai vị thần vương của Tây Tạng là Đạt Lai đời thứ mười ba và Ban Thiền đời thứ chín đã không thể sống hòa bình với nhau nữa. Tranh chấp quyền thế – cái bánh xe pháp chuyển động không ngừng vẫn chi phối phương thức hành vi của vô số tập đoàn chính trị và tập đoàn tôn giáo cổ kim Đông Tây – đã bất ngờ châm ngòi cho một cuộc đại đại liệt biến.
Trong Tạng truyền Phật giáo, Đạt Lai và Ban Thiền đều là người kế thừa của Tông Khách Ba – vị sáng lập Hoàng giáo. Một câu tục ngữ Tây Tạng được lưu truyền rộng rãi nói rằng: Trên trời có mặt trời mặt trăng, nhân gian có Đạt Lai Ban Thiền. Thế nhưng với tư cách là một tập đoàn chính trị, Ban Thiền cùng các thuộc hạ ở Hậu Tạng chỉ sở hữu bốn tông (tương đương với huyện), ba mươi sáu trang viên và đồng cỏ, chưa bằng một phần mười tổng diện tích Tây Tạng. Năm 1920, chính quyền Cáp Xá Tây Tạng do Đạt Lai nắm quyền chấp chính đã yêu cầu tự viện Trát Thập Luân – nơi trụ tích của Ban Thiền – phải phục tùng Đạt Lai, khu vực quản hạt của Ban Thiền cũng phải nộp lương thực đóng thuế cho chính quyền, gánh vác Ô Lạp (đi phu). Tự viện Trát Thập Luân cho rằng trước nay chưa từng có chuyện như vậy, hiện tại cũng không thể có, bày tỏ sẽ không phục tùng. Tháng mười, chính quyền Cáp Xá sai người đi về Hậu Tạng để thu thuế quan về len lông cừu, đuôi bò, da cừu và muối ăn. Tự viện Trát Thập Luân liền phái vài vị đại lạt ma tới Lạp Tát đàm phán với Cáp Xá, đưa ra ý kiến miễn thu, nhưng chính quyền Cáp Xá đã cự tuyệt từng người một.
Năm 1921, Cáp Xá thành lập Cục Lương thực quân đội, phân phối và thu thuế lương thực quân đội của toàn Tây Tạng. Tự viện Trát Thập Luân cảm thấy không thể gánh vác nổi hai trăm năm mươi nghìn cân lương thực quân đội được phân cho mình, nên lại một lần nữa yêu cầu miễn thu và bị Cáp Xá cự tuyệt. Sau đó còn xảy ra vài lần tranh chấp, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Ban Thiền tự hiểu bản thân khó lòng dung dung rỗi, lại vô cùng lo sợ gặp họa sát thân, thế là vào đêm ngày 15 tháng 11 năm 1923, ngài dẫn theo mười lăm người tùy tùng lặng lẽ lên đường.
Họ ngày đêm kiêm trình, thoát khỏi sự truy đuổi của Tạng quân, vượt qua cao nguyên Tạng Bắc với muôn vàn khó khăn trắc trở, lội qua Thông Thiên Hà, tiến vào Sài Đạt Mộc. Nơi đây đã là vùng đất ngoài tầm với của thế lực Đạt Lai. Đoàn người Ban Thiền mệt mỏi rã rời ngả rạp xuống thảo nguyên Hướng Nhật Đức, nằm ngủ ròng rã hai tuần liền, để lại một vùng thảo nguyên rực ánh phật quang như gió, người du mục gọi nơi đó là Phật Mộng Than.
Sau đó, Ban Thiền đời thứ chín dựa vào sự giúp đỡ của chính quyền và các thế lực địa phương, lấy các ngôi chùa làm nơi trú chân, lưu vong ở Cam Túc, Thiểm Tây, Bắc Kinh, Nội Mông, cũng như ba tỉnh Đông Bắc và miền Nam. Trong nỗi buồn khổ nhớ quê hương, ngài mân mê chuỗi hạt màu tím hồng trước ngực, suy ngẫm về những vấn đề nhân gian và thiên thượng, thậm chí còn sinh ra cảm thán Phật không bằng người.
Tháng 7 năm 1931, chính quyền Quốc Dân Đảng sắc phong Ban Thiền đời thứ chín Khúc Kiệt Ni Ma làm Hộ quốc Tuyên hóa Quảng huệ Đại sư, định mức bổng lộc hàng năm là một trăm hai mươi nghìn đồng quốc tệ, đồng thời ban thưởng ngọc sách ngọc ấn. Đây đương nhiên là một sự an ủi, nhưng Ban Thiền cũng hiểu đây là biện pháp chính quyền muốn dùng tập đoàn Ban Thiền để đối kháng với chính quyền Đạt Lai, bản thân ngài đang phải đối mặt với một cục diện cưỡi lưng cọp khó mà tiến thoái. Chẳng bao lâu sau, chính quyền Đạt Lai ủy quyền cho Văn phòng thường trú Tây Tạng tại Bắc Kinh công bố tuyên ngôn của ba ngôi chùa lớn cùng các quan chức tăng tục Tây Tạng phản đối Ban Thiền, kháng nghị chính quyền sắc phong Ban Thiền. Văn phòng thường trú Ban Thiền tại Bắc Kinh cũng công bố bài phát biểu ăn miếng trả miếng, liệt kê mười tội danh của Đạt Lai để phản công. Cuộc tranh phong giữa Đạt Lai và Ban Thiền bỗng chốc nổi lên ở nội địa, trở thành một đề tài lớn trong giới chính trị và cửa Phật lúc bấy giờ. Có bài báo chất vấn Tưởng Giới Thạch: Chính quyền đã đóng vai trò gì giữa hai vị Phật?
Ngày 17 tháng 12 năm 1933, Đạt Lai đời thứ mười ba viên tịch tại cung Potala. Ban Thiền đang nếm trải nỗi buồn thương trên thảo nguyên Nội Mông không khỏi bàng hoàng chấn động. Với tư cách là lãnh đạo tôn giáo, ngài lập tức phát điện văn tới các đại tự viện trong toàn quốc, không phân biệt Hán Tạng, cùng tụng kinh lớn, truy điệu sự tích của Đạt Lai, liên tục mười ngày bày tỏ sự thương tiếc rộng rãi, đồng thời quyên góp bảy mươi ba nghìn hai trăm đồng đại dương làm chi phí tụng kinh cho các tự viện ở khắp nơi như Tây Tạng, Thanh Hải, Tây Khang, Nội Mông. Nhất thời, hương đăng bày biện, Phạn âm văng vẳng; trong tiếng pháp hiệu gầm vang, từng vị tăng nhân lớn tuổi lần lượt gõ những chiếc trống đầu người. Mấy ngày sau, Ban Thiền lại thân chinh đến Nam Kinh tham dự đại hội truy điệu do chính quyền Quốc Dân Đảng tổ chức.
Tây Tạng không thể không có ánh sáng – nhân gian mất đi mặt trời, vạn dân lại càng ngóng trông vầng trăng trong đêm tối. Ban Thiền ngày đêm nhớ mong Tây Tạng giờ đây đang định trở về nhà.
Chính quyền Cáp Xá gửi điện cho Ban Thiền: Từ khi Đạt Lai viên tịch, toàn thể tăng tục phụ rễ già trẻ lớn bé ở Tây Tạng không ai là không mong ngóng Phật Ban Thiền sớm ngày trở về đất Tạng.
Thế nhưng có điều kiện, điều kiện này là duy nhất, cũng là tuyệt đối: Mong Phật tọa chớ mang theo quan binh Mông Hán, để tránh như dầu thấm giấy, gây nguy hại cho chính giáo Tây Tạng. Đây là ý nguyện chung của toàn thể nhân dân Tây Tạng, nếu không dung nạp, nhất định sẽ kiên quyết kháng cự.
Là một nhà chính trị, Ban Thiền đương nhiên không thể chấp nhận điều kiện như vậy. Ngài nhận thức được rằng bản thân ở Tây Tạng tuy là bậc chí tôn trong đạo được vạn dân ngưỡng mộ, nhưng nếu không có quân đội đại diện cho chính quyền trung ương hộ vệ, thì trước mặt chính quyền Cáp Xá đang nắm giữ đại quyền quân chính, ngài chẳng qua chỉ là một con rối. Thậm chí ngài còn nghĩ đây có lẽ là âm mưu của Cáp Xá, dụ dỗ ngài vào Tây Tạng, sau đó khống chế hoặc thủ tiêu ngài, để tránh việc ngài bị người khác lợi dụng, hình thành khí hậu, lớn mạnh thế lực vào lúc Đạt Lai chưa chuyển thế hoặc sau khi chuyển thế còn nhỏ tuổi chưa thể nhúng tay vào chính sự.
Ban Thiền mượn bức điện trả lời của chính quyền trung ương cũng kiên quyết không kém: Đặc sứ do trung ương phái tới cùng lực lượng tùy tùng và đội nghi giá, lần này hộ tống Đại sư vào Tạng, Cáp Xá không được gây khó dễ cản trở. Lại nói: Nếu không thể hoàn toàn chấp nhận các ý kiến trên, thì Cáp Xá đối với Phật của chúng ta chắc chắn vẫn không có thành ý.
Tháng 6 năm 1936, Ban Thiền đời thứ chín rời Nam Kinh, đến Thanh Hải, chuẩn bị các sự việc quay về Tạng. Ban đầu ngài ở lại chùa Tháp Nhĩ, sau đó lại tiến về phía tây đến Hướng Nhật Đức thiết lập hành dinh. Lúc này chiến tranh kháng Nhật đã bùng nổ. Ban Thiền chắt chiu từ khoản kinh phí ít ỏi của mình ra ba mươi nghìn đồng quyên góp cho tiền tuyến, lại lấy ra hai mươi nghìn đồng mua trái phiếu. Ngài răn dạy toàn thể quan chức tăng tục trong hành dinh rằng cơm ăn ít đi một bữa, áo mặc bớt đi một chiếc, ai nấy đều phải quyên góp để uý lạo tướng sĩ tiền tuyến, cứu tế những người tản cư rời hương bỏ xứ. Sau khi Phật đặt chân đến Hướng Nhật Đức, người Mông Cổ và người Tạng ở hai tỉnh Cam Thanh nghe tin liền động lòng, kéo nhau tới triều bái. Các vương công thiên hộ cùng nhau trích ra một phần người du mục làm thần dân của Ban Thiền, quy thuộc trực tiếp dưới quyền quản lý của hành dinh Ban Thiền. Sau đó, bộ phận người du mục này dần dần hình thành một bộ lạc ở Hướng Nhật Đức, tự gọi mình là Hương Gia Kỳ.
Đầu tháng 12, đoàn người Ban Thiền rời Hướng Nhật Đức, ngày 18 tiến vào Ngọc Thụ, Thanh Hải. Chính quyền Cáp Xá từ lâu đã có đại biểu túc trực ở đây, một mặt nghênh đón, mặt khác dưới hình thức công văn của Cáp Xá đưa ra yêu cầu: Ban Thiền về Tạng với lực lượng khinh kỵ, không mang theo quan binh phía Hán. Hành dinh Ban Thiền bắt buộc phải phục tùng mệnh lệnh của chính quyền Lạp Tát. Ban Thiền đánh điện báo cáo trung ương, trung ương gửi điện tới: Dự định thỉnh Phật tuân theo lời khuyên của trung ương, tạm hoãn vào Tạng. Ban Thiền lập tức gửi thư cho đặc sứ hộ tống Triệu Thủ Ngọc: Phía Cáp Xá hoàn toàn không có thành ý nghênh đón, trái lại còn muốn khiến Ban Thiền cắt đứt quan hệ với trung ương, nghe theo sự chỉ huy của họ. Ban Thiền đến phương Đông mười lăm năm, may mắn nhận được sự dựa dẫm của trung ương, ơn trạch vô cùng hậu hí, lòng hằng mong mỏi ngũ tộc đoàn kết, cùng yên phòng biên giới, hy vọng đền đáp đảng quốc một phần vạn, thà hy sinh cá nhân, dốc sức lo cho đại cục, chứ không muốn uy tín của trung ương lâm vào cảnh suy đồi, nên xin tuân theo lệnh trước, tạm hoãn đi về phía tây để chờ đợi tương lai.
Đoàn người Ban Thiền đã lưu lại Ngọc Thụ của người Khang Ba trọn vẹn một năm.
Ngày 4 tháng 11 năm 1937, Đại sư Ban Thiền đột nhiên cảm thấy cơ thể khó chịu, bèn gọi ngự y tùy tùng người Tạng đến chẩn khám. Ngự y nói: Phật gia, ngài đây là lao lực thành bệnh rồi, ngài đây là uất ức thành bệnh rồi, đây là cái khổ do cảnh bôn ba lưu lạc, ở không nơi nương tựa tạo thành đấy. Ngự y cho ngài uống mười ba loại kim sắc trị bệnh dạ dày và khối u, nhưng bệnh tình không thấy chuyển biến khá hơn. Mấy ngày sau đó, Ban Thiền khó lòng nạp thức ăn, miễn cưỡng ăn một chút là nôn ra ngay. Hơn nữa sườn trái đau buốt dữ dội, không thể nằm yên, hai bàn chân cũng bắt đầu sưng vàng, ngày càng nghiêm trọng. Đến ngày 26, tình trạng sưng vàng đã lan qua đầu gối, đại tiện ra máu, miệng khô đắng vô cùng, ho và khó thở đến mức gần như không thể nói chuyện. Rạng sáng ngày 1 tháng 12 lúc 2 giờ 50 phút, Ban Thiền đời thứ chín Cát Tôn Lạc Tang Khúc Kiệt Ni Ma Cách Lặc Lãng Kiệt Ba Tang Bố đã viên tịch trong cung Lạp Gia Phả Chương tại chùa Ngọc Thụ dưới chân núi Ba Nhan Khách Lạp, Thanh Hải, thọ năm mươi lăm tuổi.
Pháp sự truy điệu được cử hành một cách cô quạnh trên thảo nguyên Ngọc Thụ cách xa nội địa vô cùng và cũng cách xa Lạp Tát vô cùng. Đây là một ngày tuyết bay lả tả, dòng người người du mục chiêm ngưỡng di nhan kéo dài như Vạn Lý Trường Thường vượt núi băng đèo, một nghìn ngọn đèn bơ thắp sáng lòng người, hàng trăm vị lạt ma áo đỏ tụng kinh râm ran, tiếng trống đầu người lại một lần nữa vang lên.
Đây là sự tiếc nuối vĩnh hằng – Ban Thiền đời thứ chín kể từ khi trốn khỏi Nhật Khách Tắc vào tháng 11 năm 1923, đã lưu vong ở nội địa ròng rã mười bốn năm mươi lăm ngày, rốt cuộc vẫn không thể thực hiện được tâm nguyện quay về cố hương.
Năm 1940, được sự đồng ý của Cáp Xá, một bộ phận hơn bốn trăm người của hành dinh Ban Thiền đã hộ tống linh cữu Ban Thiền vào Tạng, đi đến tự viện Trát Thập Luân để xây tháp cúng dường. Một bộ phận khác cũng hơn bốn trăm người của hành dinh Ban Thiền chuyển đến sinh sống tại Hướng Nhật Đức, khai hoang lập ấp trên phần đất của bộ lạc thần dân Ban Thiền, đồng thời cử người bắt đầu đi tìm kiếm linh đồng chuyển thế của Ban Thiền đời thứ chín.
Lại là Hướng Nhật Đức, Ban Thiền đã trở về.
Ban Thiền trở về chính là Ban Thiền ngạch lật ni Khúc Cát Kiên Tán. Giống như kiếp trước của mình, lý do ngài đến Hướng Nhật Đức vẫn là để đi về phía Tây Tạng. Xung quanh chùa Hương Gia, những người du mục dưới giáo hóa của Ban Thiền đã quỳ lạy những bước lạy dài cầu phúc khắp núi đồi.
Họ nói: Mười lăm năm trôi qua, Phật gia của chúng ta ngày càng trẻ ra.
Sự chuyển thế, trong mắt họ, là một sự tiếp nối không chết cũng không sinh, giống như sinh mạng không ngừng trượt trên một quỹ đạo hình số 8, không tồn tại trên hay dưới, cũng không có trước hay sau, thời gian chẳng qua chỉ là một hồ nước cao thâm, nước chuyển động, thậm chí có lúc còn cuồn cuộn sóng trào, thế nhưng, vẫn ở trong hồ thôi, chẳng hề trôi đi chút nào, đây chính là sự vĩnh hằng, là sinh mạng của Phật gia. Mọi thứ đều có thể thay đổi, sinh mạng của Phật gia thì không đổi. Không giống như người phàm, người phàm phải luân hồi hết kiếp này đến kiếp khác, chịu đựng đau khổ hết lần này đến lần khác, luân hồi đủ rồi mới có thể bước vào thiên đường. Thế nên phải thành kính bái Phật, bái Phật chính là nỗ lực cả đời nhằm giảm bớt đau khổ thể xác, giảm bớt số lần luân hồi.
Sau khi Ban Thiền đời thứ chín viên tịch, chính quyền Cáp Xá Tây Tạng, tự viện Trát Thập Luân ở Nhật Khách Tắc, cùng hành dinh Ban Thiền đang lưu lại Hướng Nhật Đức, Thanh Hải, đều bắt đầu không quản ngại khó khăn để tìm kiếm linh đồng chuyển thế của Ban Thiền đời thứ chín.
Chẳng bao lâu sau, hành dinh Ban Thiền đã tìm kiếm được mười bảy vị linh đồng thông minh sáng láng trong vùng An Đa rộng lớn, rước vào chùa Tháp Nhĩ ở Thanh Hải, tiến hành phân biệt và lựa chọn từng người trong một nghi lễ tôn giáo long trọng, sáu vị linh đồng nổi bật hẳn lên. Qua gieo quẻ hỏi thần, người ta xác định Giáng Nhiệt Gia Tố có trí tuệ siêu việt, chính là linh đồng chuyển thế của Ban Thiền đời thứ chín.
Thế nhưng dường như là có ý nhường ngôi, Giáng Nhiệt Gia Tố nhanh chóng đổ bệnh rồi chết yểu. Hành dinh Ban Thiền đành phải sàng lọc lại lần nữa. Họ lại viết tên của năm vị linh đồng khác lên thẻ kinh, bọc lại bằng tsampa bơ, bỏ vào trong bình vàng, do một đội lạt ma hộ tống đến Đại Kim Ova Điện, thắp đèn đốt hương, cùng nhau cầu nguyện, sau đó lắc bình vàng, lắc mãi thì có một viên tsampa nhảy ra. Vị lạt ma chủ trì bóc ra xem, cái tên bên trên là Ôn Đô Cống Bố Tài Đán. Đây là một đứa trẻ đến từ gia đình nông dân nghèo ở hương Ôn Đô, huyện Tuần Hóa, Thanh Hải.
Tháng 12 năm 1946, đội ngũ tìm kiếm của tự viện Trát Thập Luân đến chùa Tháp Nhĩ, hội bàn với hành dinh Ban Thiền, đôi bên không có chút dị nghị nào mà xác định Cống Bố Tài Đán chính là linh đồng chuyển thế của Ban Thiền đời thứ chín, đồng thời trình báo lên chính quyền Quốc Dân Đảng phê chuẩn. Cùng lúc đó, chính quyền Cáp Xá Tây Tạng cũng tìm kiếm được hai vị linh đồng chuyển thế tại huyện Lý Đường và huyện Xương Đô Bát Túc của tỉnh Tây Khang.
Vấn đề nhanh chóng trở nên phức tạp, ba nơi Thanh Hải, Tây Khang, Tây Tạng lần lượt xuất hiện ba vị linh đồng chuyển thế, rốt cuộc ai mới là Ban Thiền chuyển thế đích thực? Một cuộc tranh cãi kéo dài suốt năm năm từ đó bắt đầu. Phía Cáp Xá cho rằng nên nghênh thỉnh cả ba vị linh đồng đến Lạp Tát, áp dụng biện pháp rút thăm bình vàng để quyết định cuối cùng. Hành dinh Ban Thiền phản đối, cho rằng Cống Bố Tài Đán có dị bẩm siêu phàm, tướng mạo đường đường, linh đồng chuyển thế chắc chắn là cậu ta, không cần phải làm thủ tục rút thăm bình vàng nữa. Đôi bên giằng co không dưới, hy vọng chính quyền Quốc Dân Đảng biểu thái.
Mùa xuân năm 1947, hành dinh Ban Thiền phái người đi Nam Kinh, thuyết khách các yếu nhân đảng chính lúc bấy giờ như Viện trưởng Hành chính viện Tôn Khoa, Viện trưởng Khảo thí viện Vương Vân Ngũ, Viện trưởng Giám sát viện Vu Hữu Nhậm, Viện trưởng Lập pháp viện Đới Truyền Hiền, Ủy viên trưởng Ủy ban Mông Tạng Hứa Thế Anh, đồng thời tặng rất nhiều vàng bạc, cổ vật, dược liệu mang từ Tây Tạng tới. Thế nhưng những vị đại thần này chỉ nhận lễ mà không làm việc, cứ đùn đẩy hết lần này đến lần khác. Cuối cùng, đại diện Hành chính viện là Tưởng Giới Thạch đưa ra biểu thái: Việc xác định linh đồng cần phải có sự thừa nhận của chủ giáo chủ Tây Tạng mới được, hiện tại chưa thích hợp để đưa ra quyết định ngay lập tức.
Đầu năm 1949, Tưởng Giới Thạch từ chức, Lý Tông Nhân làm quyền tổng thống, chính quyền Quốc Dân Đảng dời đô về Quảng Châu. Hành dinh Ban Thiền đuổi theo đến Quảng Châu thỉnh cầu Lý Tông Nhân phê chuẩn linh đồng chuyển thế. Lý Tông Nhân lập tức đồng ý thỉnh cầu của hành dinh Ban Thiền. Thế là ngày 3 tháng 6 năm 1949, chính quyền Quốc Dân Đảng ban hành mệnh lệnh: Linh đồng Thanh Hải Quan Bảo Từ Đan, tính tuệ trong sáng tròn đầy, dị bẩm sớm biểu lộ, xét thấy chính là Ban Thiền ngạch lật ni đời thứ chín chuyển thế, nay chuẩn bị miễn bốc thăm, đặc biệt kế nhiệm làm Ban Thiền ngạch lật ni đời thứ mười. Ngày 10 tháng 8, do đặc sứ Quan Cát Ngọc và Chủ tịch tỉnh Thanh Hải Mã Bộ Phương chủ trì, trước điện Phổ Quan Văn Thù trong chùa Tháp Nhĩ, tại đại giảng kinh viện, đã cử hành đại điển ngồi tòa long trọng cho Ban Thiền đời thứ mười. Thế nhưng những người trong giới tôn giáo đều biết rằng, nếu không có sự công nhận của tăng tục nhân chúng Tây Tạng, chỉ dựa vào sắc lệnh của chính quyền Quốc Dân Đảng thì danh phận của Ban Thiền không thể vững chắc được.
Mọi sự chuẩn bị để quay về Tây Tạng dưới sự lãnh đạo của chính quyền mới đã bắt kịp tiến độ khẩn trương, bao gồm quân đội hộ tống, bao gồm lương thực mà Ban Thiền gửi tặng cho người dân chịu đói kém ở Tây Tạng, bao gồm cả những con lạc đà thồ vật tư.
Vị Đạt Lai Lạt Ma mười sáu tuổi ở mãi cung Potala chẳng bao lâu sau đã biết tin Ban Thiền sắp trở về. Sau khi tham vấn ý kiến của các yếu nhân Cáp Xá, ngài đã có thái độ minh trí đối với việc này. Tháng 6 năm 1951, Đạt Lai đánh điện báo cho Ban Thiền: Điềm báo tốt lành mà tôi bói ra cho thấy ngài quả thực là hóa thân của Ban Thiền tiền bối. Sau khi quyết định đã công bố ở Trát Thập Luân xong. Nay hy vọng ngài lập tức lên đường về chùa, con đường đi qua sau khi quyết định xin hãy đánh điện báo trước. Đây là lần ăn ý đầu tiên giữa Đạt Lai và Ban Thiền trong suốt hai mươi chín năm kể từ khi cuộc đối kháng giữa thần và thần, tranh đấu giữa người và người giữa Đạt Lai đời thứ mười ba và Ban Thiền đời thứ chín bùng nổ. Nó cho thấy tính hợp pháp của Ban Thiền trong lĩnh vực tôn giáo đã được một vị lãnh đạo tôn giáo khác công nhận thông qua việc bói toán.
Không còn bất kỳ vấn đề gì nữa, từ tôn giáo cho đến chính trị, Ban Thiền đời thứ mười sẽ bằng sự bảo đảm đáng tin cậy nhất, một cách đường hoàng và kiêu hãnh mà quay trở về một cái quê nhà cũ mà ngài chưa từng đặt chân đến. Ngày 19 tháng 12 năm 1951, Ban Thiền đời thứ mười rời Tây Ninh, bước lên con đường dài đằng đẵng đi về Tây Tạng.
Lại là Hướng Nhật Đức.
Lại là mùa đông của Hướng Nhật Đức. Lạc đà ngợp trời dậy đất, chưa từng thấy nhiều lạc đà đến thế. Người du mục ngẩn ngơ: Lạc đà của Phật gia kìa. Lạc đà đến từ Cam Túc, Thiểm Tây, Tân Cương, Thanh Hải. Lạc đà cũng giật mình: Sao trên đời lại còn lắm lạc đà thế này?
Chẳng mấy chốc đã xuất hiện thần thoại: Một vị thần vương dẫn theo vô số lạc đà đi về thiên quốc, mà trước khi đến thiên quốc, thần vương và lạc đà tất yếu phải đi qua một nơi thuận tiện để lưu lại truyền thuyết cho nhân gian, đó chính là Hướng Nhật Đức.
Hàng trăm người thuộc hành dinh Ban Thiền cùng gần ba vạn con lạc đà hộ tống Ban Thiền vào Tạng, cùng vài nghìn phu dắt lạc đà đã dừng chân ở Hướng Nhật Đức hai tuần liền, để người du mục xung quanh cũng như người du mục từ xa nghe tin chạy đến được mãn nhãn tận mắt chứng kiến kỳ quan này trong lịch sử nhân loại.
Khi rời khỏi Hướng Nhật Đức, rất nhiều người du mục đi theo phía sau. Bởi vì họ kiên quyết tin rằng đi theo sẽ nhận được phúc báo, đó là đường tắt để thoát khỏi bể khổ luân hồi. Thậm chí họ còn nghĩ, nói không chừng chuyến đi này của Ban Thiền chính là để bước vào Shambhala không đau thương không sầu khổ, nếu không thì tại sao lại có nhiều lạc đà đi theo như vậy – từ trước đến nay họ vẫn luôn cho rằng trong việc giải thoát khỏi đau khổ, loài người luôn kém linh tính hơn động vật.
Duyên dáng uốn lượn tiến bước. “Đội ngũ vào Tạng nhìn không thấy bờ, biển lạc đà bay lên tận trời, cuồn cuộn tràn qua núi Đường Cổ Lạp, ngồi trên đỉnh mây chính là Ban Thiền.” – Đây là một bài ca dao Tạng được lưu truyền lại.
Ngày 28 tháng 4 năm 1952, sau hơn bốn tháng vất vả lặn lội, đoàn người Ban Thiền đã đến Lạp Tát. Trên hành trình độ cao hơn hai nghìn cây số, họ đã gặp phải những gì? Núi tuyết, sông băng, sông lớn, gió cuồng, thiếu oxy, bệnh tật cùng sự đe dọa của cái chết. Xác chết, có của người, cũng có của lạc đà; nấm mồ, có của người, cũng có của lạc đà; tiếng khóc, có của người, cũng có của lạc đà. Rất nhiều năm sau, người ta vẫn có thể nhìn thấy xương trắng của lạc đà, xương trắng của phu dắt lạc đà dọc theo tuyến đường quốc lộ Thanh Tạng. Một dải kéo dài đằng đẵng, dải xương người và lạc đà dài hơn hai nghìn cây số, lạnh lẽo, lạnh lẽo làm sao. Ở núi Côn Lôn, ở núi Đường Cổ Lạp, ở cao nguyên Tạng Bắc, ở núi Niệm Thanh Đường Cổ Lạp, ở núi Cương Đê Tư, những bộ xương ấy đã lạnh giá vĩnh viễn.
Xuất phát từ Hướng Nhật Đức, Ban Thiền và những con lạc đà của ngài đã đến Lạp Tát. Các lạt ma, những người tục sùng đạo, quỳ xuống nghênh đón, vô số người dập đầu. Thánh thành Lạp Tát trống không người vắng. Chiều hôm đó, Ban Thiền lập tức đi đến cung Potala, tại điện Thái Dương chói lọi ánh vàng, yết kiến Đạt Lai Lạt Ma. Trời ấm lên, cỏ xanh tươi. Người Tạng không ai là không cười, ngay cả những kẻ ăn xin, ngay cả những người đang đau ốm bệnh tật, ngay cả những thể xác sắp sửa được đưa lên đài thiên táng, đều cười.
Hơn một tháng sau, ngày 9 tháng 6, Ban Thiền rời Lạp Tát, vượt qua sông Lạp Tát, vượt qua sông Y Lỗ Tang Bố, đi đường Giang Tử, quanh co mất nửa tháng, cuối cùng đã quay về thành thánh Nhật Khách Tắc của Hậu Tạng. Đây là cố hương mà Ban Thiền năm nay mười bốn tuổi đã rời xa gần ba mươi năm. Hôm nay là ngày 23 tháng 6 năm 1952, đây là một trang được viết bằng bột vàng trong lịch sử của Nhật Khách Tắc.
Đâu đâu cũng là lều trại, người du mục từ khắp mọi ngả đường của thảo nguyên Hậu Tạng đã đến từ xa và chờ đợi ở đây hơn hai tháng nay. Biết bao nhiêu người già xúc động đến mức nước mắt đầm đìa. Di ảnh của Mao Trạch Đông, di ảnh của Ban Thiền và bức tượng Vô Lượng Quang Phật được đặt song song, cúng bái ở trung tâm thần đàn. Tương truyền trên nóc vàng của tự viện Trát Thập Luân, vào ngày này đã có hai trăm linh sáu con thiên nga trắng bay xuống.
Vô Lượng Quang Phật và cảnh sát Trát Tây
Chu Ninh cho rằng trống đầu người chỉ có giá trị tối cao và ý nghĩa thực tiễn nhất trong thế giới lạt ma bao la vạn tượng, nếu không thì nó chỉ là đồ cổ mà thôi, và kẻ vướng bận không dứt với đồ cổ chỉ có thể là đạo mộ tặc chứ không phải tăng nhân.
Trương Văn Ngọc Hóa nói: Nó chắc chắn không chỉ là một món đồ cổ.
Tôn Học Minh nói: Thế nên cuộc điều tra của chúng ta ở Hướng Nhật Đức bắt buộc phải đặt trọng tâm vào những di tích của hai đời Ban Thiền, nếu không thì chẳng khác nào mò kim đáy bể.
Thế nhưng di tích ở đâu? Chúng tôi đi trên con phố lớn của trấn Hướng Nhật Đức, ngó đông ngó tây.
Xung quanh là chốn Gobi bao la bát ngát chẳng kém gì thế giới lạt ma. Phía bắc có một dải màu xanh, đó là nông trại Hướng Nhật Đức, một ốc đảo tựa như giấc mơ do các tù nhân cải tạo xây dựng nên. Phía nam là núi, trên sườn núi phẳng phỉu phóng khoáng thấp thoáng có mấy căn nhà, đó là nơi Ban Thiền từng đặt chân đến, những con người ở đó từng là thần dân của Ban Thiền. Người Tạng bản địa có câu hát rằng: “Nhà trên trời, Hương Gia dưới đất.” Hương Gia là sự rút gọn của bộ lạc thần dân Ban Thiền – Hương Đốn Tư Cát Ba Gia Bảo, ý nghĩa là Vô Lượng Quang Phật xưng vương xưng tôn ở đây. Tên gọi của bộ lạc rực rỡ huy hoàng như vậy, thì việc có một ngôi chùa Hương Gia nổi tiếng gần xa cũng là điều thuận lý thành chương. Vị tôn Phật chủ chánh được thờ cúng trong chùa Hương Gia chính là Vô Lượng Quang Phật, mà trong hệ thống thần phật của Tạng truyền Phật giáo, Ban Thiền ngạch lật ni chính là hóa thân chuyển thế của Vô Lượng Quang Phật.
Tôn Học Minh nói: Chia làm hai đường, một đường đi chùa Hương Gia, một đường ở lại trấn Hướng Nhật Đức điều tra tất cả các cửa hiệu, bởi vì dù sao đây cũng là trạm dịch, đủ mọi thành phần hạng người đều sẽ dừng chân.
Chu Ninh, Trương Văn Ngọc Hóa, tôi cùng tài xế Lưu Quốc Ninh ngồi xe Cherokee rời khỏi trấn Hướng Nhật Đức. Chiếc xe chạy ngoằn ngoèo hướng về phía ngọn núi đằng xa.
Một tiếng sau chúng tôi đến chùa Hương Gia.
Quy mô chùa Hương Gia rất nhỏ, nhưng từ trong ra ngoài đều vô cùng tinh xảo. Quay lưng về hướng tây hướng về hướng mặt trời mọc, chính là Bảo Quang Điện chủ yếu, bốn bức tường tựa nhà điêu khắc, mái nhà tựa cung điện nhà Hán. Vừa bước chân vào cửa là Tam Phương Phật: Ở chính giữa là giáo chủ thế giới Ta Bà Thích Ca Mâu Ni; bên trái là Đông phương Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, tức Dược Sư Phật; bên phải là chủ tôn của bổn tự – giáo chủ thế giới Cực Lạc phương tây A Di Đà Phật, cũng chính là Vô Lượng Quang Phật chuyển thế thành Ban Thiền. Vô Lượng Quang Phật ánh mắt sắc bén, kiết già ngồi ở trung tâm đài sen vàng, hai tay song song đặt chồng lên hai đầu gối, nâng một chiếc bát lớn phong cách Ấn Độ bằng ấn thiền định. Ba ngọn đèn bơ bằng đồng đường kính khoảng năm mươi phân đang lặng lẽ cháy, khiến người ta có cảm giác ban ngày của toàn bộ Hướng Nhật Đức đều do chúng chiếu sáng.
Một vị lạt ma mặc cà sa đỏ đang ngồi trầm ngâm trước Phật.
Trương Văn Ngọc Hóa bước lên bắt chuyện, lạt ma thần tình nhạt nhẽo gật đầu, không thốt một lời.
Trương Văn Ngọc Hóa nói: Cậu ấy hình như không nghe hiểu tiếng Hán.
Lạt ma bất chợt đứng phắt dậy, cộc lốc nói: Phật không bái sao? Không bái thì ra ngoài.
Chúng tôi vội vã chắp tay trước ngực, cúi đầu thật sâu trước ba vị đại Phật.
Lạt ma mỉm cười. Chúng tôi cũng cười.
Chu Ninh nói: Sư phụ, chúng tôi muốn hỏi thăm ngài vài người, ngài đã thấy ba vị lạt ma ở Xuyên Tây nào chưa? Ngài đã thấy một nhóm người Cam Nam đi triều bái Lạp Tát nào chưa? Ngài đã thấy hai tín đồ dắt lạc đà mang tù và nào chưa? Ngài đã thấy một phu phen người Nhật Khách Tắc nào chưa?
Lạt ma ngẩn người một lúc lâu không phản ứng gì. Chu Ninh hỏi lại một lần nữa. Lạt ma nói: Không có, không có.
Chúng tôi nhìn nhau. Trương Văn Ngọc Hóa nhỏ giọng nói: Không thể cứ bỏ qua như vậy được. Lại hỏi lạt ma, chúng tôi đến chùa Hương Gia là để tìm kiếm trống đầu người, trống đầu người chắc ngài biết chứ? Nghe nói đó là pháp khí của Vu Thánh Đại Hắc Thiên, ở đây các ngài có không?
Trống đầu người? Lạt ma ngẩn ngơ lắc đầu.
Chu Ninh nói: Là thế này, nói thế nào nhỉ, ngài có biết vô ký niết bàn không? Biết cao tăng nổi tiếng người Tạng thế kỷ XV Nhật Đặc Na Long Ba không? Nhật Đặc Na Long Ba đã khắc in một loạt phục tàng, chính là kinh điển Phật giáo cổ đại được khai quật từ dưới lòng đất, trong đó có một bộ , bên trong nói rằng, cách làm của một số người nằm giữa hai nghiệp đen trắng, không thể định đoạt là thiện, cũng không thể định đoạt là ác, nếu tự cảm thấy hổ thẹn với đời, thản nhiên quy tịch, thì cũng có thể vãng sinh tịnh độ, không chịu khổ đau luân hồi. Tất cả kinh văn trước đây đều bỏ sót điểm này, cho nên gọi là vô ký niết bàn. Điểm bị bỏ sót cần phải được bổ sung, cách bổ sung chính là gõ vang trống đầu người, trống vang Phật biết, chiếc thang thiên đường để sinh linh bình thường niết bàn cũng từ đó mà dựng lên. Chúng ta đều là những sinh linh bình thường, chúng tôi đến đây triều bái trống đầu người, chính là để tìm kiếm chiếc thang thiên đường giác ngộ.
Lạt ma càng thêm ngẩn ngơ lắc đầu.
Trương Văn Ngọc Hóa nói: Ý là thế này, trong kinh Phật có nói, chỉ cần gõ vang trống đầu người, linh hồn liền có thể thoát khỏi bể khổ. Nếu trong chùa Hương Gia thờ cúng trống đầu người, vậy xin ngài lấy ra cho chúng tôi gõ vài cái.
Lạt ma cuối cùng cũng nghe hiểu, nheo mắt nói: Đầu của ai cũng có thể làm trống, tự mình gõ đầu của chính mình đi, gõ cho đầu óc tỉnh táo rồi thì có thể thoát khỏi bể khổ, đi gõ trống của người khác làm gì? Càng gõ càng khổ.
Trương Văn Ngọc Hóa nói: Những gì ngài nói rất sâu sắc, thế nhưng thế nhưng thế nhưng, trống đầu người là bảo vật của thần nhân, đầu óc của những kẻ phàm phu tục tử chúng tôi đều là xương thối thịt hèn, gõ chẳng có ích gì.
Lạt ma nói: Vậy thì các người gõ đầu của tôi đi, tôi không phải xương thối thịt hèn, tôi làm trống cho các người, các người nếu cảm thấy có thể được cứu rỗi, có gõ nát thì cũng chẳng sao.
Chu Ninh nói: Không dám không dám, chỉ có lạt ma xoa đỉnh đầu, chứ không có người phàm động thổ trên đầu lạt ma. Hay là chúng tôi xem trống đầu người đi, không cho gõ thì thôi không gõ nữa, bái một cái được không?
Lạt ma nói: Muốn bái thì cứ bái đi, ở đây có Tam Phương Đại Phật, mọi chuyện trên đời đều có thể cầu. Nói xong, ngài khoanh chân ngồi xuống, cử động đôi môi đọc kinh.
Chúng tôi thở dài chán nản, biết rằng có dây dưa tiếp cũng vô ích, bèn qua loa dập đầu mấy cái, bước ra khỏi Bảo Quang Điện, đến sân chùa Hương Gia, nơi này dạo vòng, nơi kia ngó nghiêng, chẳng phát hiện dấu vết của những người mà chúng tôi đang tìm kiếm, vừa định rời đi, liền nghe thấy một tiếng động vật kêu vang lên từ phía sau Bảo Quang Điện.
Chu Ninh nói: Thứ gì đang kêu thế? Trông không giống bò, không giống ngựa, không giống cừu, cũng không giống chó.
Lưu Quốc Ninh nói: Có lẽ là lạc đà.
Trương Văn Ngọc Hóa nói: Đúng rồi, lạc đà của hai tín đồ. Nói xong, cắm cổ chạy về phía sau Bảo Quang Điện.
Tôn Học Minh dẫn theo Vương Tiêu Tiêu đi từ đầu đông đến đầu tây trấn Hướng Nhật Đức, không có ai bảo với họ rằng từng nhìn thấy ba vị lạt ma ở Xuyên Tây, một nhóm người Cam Nam triều bái, hai tín đồ dắt lạc đà mang tù và, một phu phen người Nhật Khách Tắc. Tôn Học Minh thầm nghĩ chẳng lẽ bọn họ đều không đi qua đây? Hay là đều đi qua vào ban đêm, mà không ai nhìn thấy? Không thể nào, lạt ma phải khất thực ở đây, những người hành hương lạy những bước lạy dài bằng thân người suốt dọc đường phải hồi phục thể lực ở đây, người dắt lạc đà phải trọ quán, phu phen người Nhật Khách Tắc phải ăn cơm, không thể nào không có ai nhìn thấy. Đã như vậy, thì chỉ có một khả năng duy nhất: Họ nhìn thấy nhưng không nói.
Tại sao?
Bất ngờ, Vương Tiêu Tiêu hét lên: Chiội đội Chuyển Vượng Tây Tạng.
Đó là một chiếc xe việt dã đầu bò, trên thân xe in mấy chữ Chi đội Tạng Ngao. Họ bước về phía đầu bò, vừa đến gần cửa xe, phía sau liền có người gọi: Này, làm gì đấy?
Một cảnh sát bám theo phía sau đã gọi họ lại. Rõ ràng vừa rồi lúc họ đi hỏi thăm khắp nơi đã thu hút sự chú ý của anh ta.
Tôn Học Minh nói: Chúng tôi tìm người. Lại nói lại những người cần tìm một lượt.
Cảnh sát nói: Các người là ai? Tìm những người này làm gì? Xem giấy tờ của các người xem nào.
Tôn Học Minh nói: Giấy tờ thì không cần xem đâu, cố vấn Hứa Tân Quốc của chi đội Tạng Ngao các anh là bạn của chúng tôi.
Cảnh sát nói: Thế thì càng cần phải xem hơn, trên vùng hoang mạc ngày nay, kẻ lừa đảo và trộm cắp quá nhiều.
Tôn Học Minh nói: Đúng, lời nhắc nhở này hay đấy, ai có thể bảo đảm anh không phải kẻ lừa đảo chứ? Anh lấy giấy tờ của anh ra cho tôi xem trước đi.
Cảnh sát nói: Nói qua nói lại thế quái nào anh lại thành cảnh sát quản tôi thế. Vừa nói vừa định lục giấy tờ, đột nhiên lại dừng lại nói, Không được, dựa vào cái gì mà tôi phải lấy cho anh?
Tôn Học Minh nói: Vậy được, chúng ta cùng lấy ra đi. Nói xong liền hô: Một, hai, ba.
Cảnh sát và Tôn Học Minh đồng thời trưng ra giấy tờ của mình.
Tôn Học Minh cười ha hả: Đồng chí Trát Tây, hóa ra cậu chính là đồng chí Trát Tây, con chó ngao dũng cảm nhất trong chi đội Tạng Ngao, từng nhiều lần truy bắt đạo mộ tặc và kẻ buôn lậu văn vật, chiến quả huy hoàng, người chúng tôi tìm chính là cậu đây mà. Vừa nói vừa bắt tay anh ta.
Cảnh sát Trát Tây ngẩn người, trừng mắt nhìn tấm thẻ công tác của đối phương rồi nói: Đồng chí... đồng chí Tôn Học Minh, xin chào xin chào, anh đến lúc nào thế?
Tôn Học Minh nói: Vừa tới, chẳng phải cậu vừa thấy rồi sao? Đi đi đi, cùng đi uống chén trà nào.
Cảnh sát Trát Tây mù mịt không hiểu mình gặp phải hạng người gì, thấy đối phương nhiệt tình như vậy, bèn dùng sự nhiệt tình gấp mười lần để đáp lại: Trà trên phố không ngon, về nhà tôi uống đi.
Tôn Học Minh hỏi anh ta: Nhà cậu ở đâu?
Anh ta nói: Không xa không xa đâu.
Chiếc Jeep Bắc Kinh của Tôn Học Minh bám sát chiếc đầu bò của cảnh sát Trát Tây, xuyên qua một con hẻm nhỏ trên phố thị trấn, chạy thẳng vào vùng hoang mạc, rồi sau đó phóng đi như ngựa hoang.
Chạy rất lâu, nhà vẫn chưa tới, hơn nữa càng chạy càng không thấy bóng người.
Vương Vương Tiêu Tiêu nói: Anh ta có lừa chúng ta không?
Trương Trường Thọ nói: Chỉ vì uống một ngụm trà mà chạy đường xa thế này thì không đáng đâu, cẩn thận kẻo người ta cướp sạch chúng ta đấy, trên bãi hoang heo hút thế này, có giết chúng ta thì cũng chẳng ai biết.
Tôn Học Minh nói: Thật sự có nguy hiểm này sao? Vậy thì chén trà này chúng ta uống chắc rồi. Cảnh sát Trát Tây mà là kẻ gian, chứng tỏ chúng ta cách trống đầu người không còn xa nữa.
Chạy suốt hai tiếng đồng hồ, họ mới thấy chiếc đầu bò phía trước khựng lại phanh gấp kít một tiếng. Thế nhưng đây vẫn không phải là nhà của Trát Tây. Nơi này không có nhà cửa, nơi này chỉ có một gò đất và một cái lò gạch. Hai hán tử mặt đen mặc Hán phục chui từ trong cái lò dưới gò núi ra, vừa gào thét vừa bổ nhào về phía chiếc xe ô tô. Trương Trường Thọ đạp phanh chân chết cứng. Vương Tiêu Tiêu bất giác tóm lấy Tôn Học Minh. Tôn Học Minh nói: Đừng dừng lại, lái tiến lên phía trước.