Thảo nguyên Khorchenko phảng phất trôi đi
Vào buổi tối uống rượu, thương cảm, rơi lệ và ca hát trên thảo nguyên Khorchenko, Khorchenko đã nói với chúng tôi rằng:
Cho dù trong thời đại phương tiện giao thông phát triển cực độ như ngày nay, tôi cũng không thể đo lường lãnh địa của tổ tiên mình rộng lớn đến nhường nào, bởi vì năm tháng đã khiến tất cả các đường biên giới trở nên mờ mịt không rõ. Thêm vào đó là các yếu tố như băng tan, sông đổi dòng, núi dịch chuyển, sa mạc lấn tới, dân tộc lùi tàn, địa danh thay đổi, v.v., tôi hầu như không tin rằng thảo nguyên Khorchenko trong lời truyền khẩu lại rộng lớn và kì diệu đến thế. Nhưng lời truyền khẩu thì không thể bị bào mòn, thảo nguyên Khorchenko, gia tộc của chúng tôi, những con người tựa núi, những câu chuyện tựa nước, vẫn được lưu truyền như mặt trăng lặn mặt trời mọc. Chỉ cần trên thảo nguyên còn một người du mục, thì vẫn sẽ nhắc đến tên tổ tiên tôi, vẫn sẽ thành kính bái lãng những vị thần đã che chở cho chúng tôi, che chở cho những câu chuyện ấy giống như chúng tôi vậy.
Trong lời truyền khẩu, đường biên giới phía bắc lãnh địa của tổ tiên tôi — thảo nguyên Khorchenko từng vắt ngang một đường thẳng tắp qua đài thiên táng Ngự Khúc Tông Liệt. Từ đây, chúng ta có thể nhìn thấy bóng lưng dần khuất dạng của dãy Côn Lôn, có thể nhìn thấy dòng sông đong đưa giữa trời đất mềm mại kỳ lạ tựa bông mây, có thể nhìn thấy sự kéo dài vô tận của dãy Bayan Har. Thế núi khoáng đạt và cao ngất, cuồn cuộn tựa sóng lớn, màu xanh lục, màu vàng, màu xanh thẫm, màu xám nhạt, từng lớp chồng lên nhau. Nơi cao nhất là màu xanh lam, là thứ màu xanh lam sạch sẽ và tươi tắn. Phía trên màu xanh lam chính là đỉnh băng chóp tuyết, đó là cung điện trên trời, trắng xóa đến mức khó lòng diễn tả bằng lời.
Màu trắng xóa chính là cội nguồn của những con sông. Phía bên này cung điện băng tinh là thượng nguồn Hoàng Hà, là Tinh Túc Hải nơi Ban Đạt Lạp Mẫu tắm gặt; phía bên kia cung điện băng tinh là thượng nguồn sông Nhã Lung và sông Kim Sa, hai con sông hợp lại ở hạ lưu trở thành Trường Giang. Vượt qua hai con sông đi về phía nam lại là thượng nguồn sông Lan Thương, nơi đó rất gần đèo Tanggula, gần đến mức cưỡi ngựa đi một tháng là tới.
Tanggula, vươn tay là bắt được trời. Ngay tại nơi có thể bắt lấy bầu trời này, lãnh địa của tổ tiên tôi đã vươn dài đường biên giới phía nam của nó. Đi về phía tây dọc theo đường biên giới này chính là hoang nguyên Changthang, nơi đó địa thế cao rộng, không một bóng người. Tổ tiên tôi đã gõ trống sọ người, không chỉ một lần bước vào đó, rồi lại không chỉ một lần bỏ lại một số người và súc vật chết để đi ra, cho đến một lần ông nội Ngang Nhật Kim Khải của tôi trở về rồi mắc một thứ bệnh quái ác, toàn bộ bộ tộc mới dừng việc thám hiểm biên giới phía tây. Ông nội Ngang Nhật Kim Khải nói: Ta đã đi đến tận cùng của đất và trời, ta nhìn thấy đất và trời dính liền vào nhau, đi qua đó không rơi xuống địa ngục thì cũng bước vào thiên đường. Còn ta, công đức chưa viên mãn, không vào được thiên đường đành phải quay về.
Ông nội Ngang Nhật Kim Khải khi ấy mới hai mươi lăm tuổi, ông tràn ngập sợ hãi trước những nốt mụn nhọt đầy người sau khi từ chuyến thám hiểm phía tây trở về, bèn mời lạt ma ở Thạch Thành đến chẩn trị. Lạt ma tỉ mỉ quan sát một lượt, đoạn ngồi kiết già niệm kinh, niệm xong liền đứng dậy định đi. Ngang Nhật Kim Khải nói: Lạt ma sao ngài không cho thuốc? Lạt ma cười nói: Sợ không có, sợ không có. Ngang Nhật Kim Khải suy kiệt nói: Thế nhưng ta đau mà. Lạt ma nói: Đợi ngươi chết thì sẽ không đau nữa. Ngang Nhật Kim Khải bật khóc: Lạt ma ngài nói ta sẽ chết sao? Lạt ma nói: Sẽ chứ, sẽ chứ, ai rồi cũng phải chết. Ngươi trẻ thế này mà đã phải chết, sắp hoàn thành một lần luân hồi rồi, tốt lắm, bớt chịu chút khổ sở.
Ông nội Ngang Nhật Kim Khải không muốn rời khỏi thế giới này sớm như vậy, ông dùng một con dao bánh xe bảy tấc khêu lấy sợi bấc đang cháy từ trong bơ ra rồi ấn lên nốt nhọt, nghe tiếng xèo xèo, nghiến răng nghiến lợi nói: Ngươi bắt ta chết, ta bắt ngươi chết trước. Sau đó, ông không thèm kêu một tiếng, dùng dao và lửa để từng nốt nhọt một phải chết đi. Đợi đến khi phía trước cơ thể không còn nốt nhọt nào sống sót nữa, thì hai chiếc răng cửa đã bị ông cắn nát. Ông đứng dạng chân, mở cái miệng đỏ lòm hướng về bức tượng bổn tôn Bạch Mã Hát Lạp La (Đại Hắc Thiên màu trắng) được thờ trong nhà để cầu nguyện: Bổn tôn vĩ đại ơi, con muốn sống thật hạnh phúc, con muốn sống hạnh phúc dưới sự bầu bạn của thảo nguyên Khorchenko, dưới sự bầu bạn của người phụ nữ, dưới sự bầu bạn của thịt cừu bốc tay và tsampa phết bơ. Lúc này, cơn đau buốt toàn thân lại khiến ông quỳ xuống, khiến ông sấp mình, khiến ông lăn lộn khắp mặt đất: Hỡi Bạch Mã Hát Lạp La từ bi, con sẽ không bao giờ đi đến tận cùng của trời đất nữa, sẽ không bao giờ đi bắn giết linh ngưu linh dương ở đó nữa. Xin hãy cho con được sống, con là Ngang Nhật Kim Khải, Ngang Nhật Kim Khải do thảo nguyên Khorchenko nuôi lớn.
Ngang Nhật Kim Khải có nghĩa là bậc trí giả của núi tuyết, ông lặp đi lặp lại, là muốn để Bạch Mã Hát Lạp La nghe thật rõ ràng cái tên này.
Ngay lúc ông nội Ngang Nhật Kim Khải bị những nốt nhọt khắp người hành hạ đến sống dở chết dở, mà bản thân ông cũng hành hạ những nốt nhọt ấy đến sống dở chết dở, thì tháng Tám đã đến. Hàng năm vào tháng Tám, chủ nhân của thảo nguyên Khorchenko đều phải dùng khung cảnh náo nhiệt tựa như đón năm mới để chào đón Giáp Bá Cát Bổ cùng thương đội do ông ta dẫn đầu trở về từ trọng trấn Khang Khu. Họ đã đi thồ trà, họ rời khỏi quê nhà trọn vẹn mười tháng, tháng Tám này là sắp về rồi.
Giáp Bá Cát Bổ chính là thủ lĩnh cướp, y là cao cấp quân sự trưởng quan do chủ nhân ủy nhiệm, cũng là đãi ngộ cao nhất của vô số tên cướp trên thảo nguyên Khorchenko. Chuyến đi xa thồ trà lần này của Giáp Bá Cát Bổ chính là chồng của Giang Ưng Phổ Mẫu, em gái của Ngang Nhật Kim Khải. Ngay khi tháng Tám vừa bắt đầu, Giang Ưng Phổ Mẫu đã vui mừng hớn hở đi khắp nơi nói rằng: Giáp Bá Cát Bổ sắp về rồi. Nói chán rồi lại hát: Trà gạch chất thành núi non, chẳng cản nổi bầu trời xanh thẳm ở phương xa, cướp lấy Phổ Mẫu làm bát gỗ, bưng nàng lên, cưỡi ngựa, một roi chạy bay qua thảo nguyên. Tiếng hát này tràn ngập sự du dương hoang dã, tự do tự tại tựa gió thổi. Thiếu nữ Diệu Âm đôi mươi tuổi xuân phơi phới trên thảo nguyên ngập tràn hoa cỏ vào tháng Tám.
Khi ấy, thảo nguyên Khorchenko là nơi nổi tiếng trong vùng Tây Tạng chuyên sinh ra mỹ nhân. Giang Ưng nãi nãi của tôi đương nhiên cũng không thể thiếu sự chiếu cố của vị thần sắc đẹp. Đúng như những người du mục thường hát: Cánh hoa, cánh hoa, nụ cười của Giang Ưng Phổ Mẫu; vì sao, vì sao, đôi mắt của Giang Ưng Phổ Mẫu. Còn trong tâm trí tôi, thiếu nữ Diệu Âm — Giang Ưng nãi nãi của tôi xinh đẹp như ngựa con, xinh đẹp như thiên nga, xinh đẹp như hươu sao, xinh đẹp y như Ban Đạt Lạp Mẫu thần nữ mà tôi từng thấy với đoan mỹ pháp tướng Bạch Lạp Mẫu.
Thiếu nữ Diệu Âm xinh đẹp đang ngóng chờ người đàn ông của mình từ phương xa trở về, đến mức đứng ngồi không yên. Ngày nào nàng cũng cưỡi ngựa phi nước đại càn quấy hướng về phía bến đò sông Kim Sa. Nàng vứt bỏ người hầu, vứt bỏ yên ngựa, mặc sức quất roi giục ngựa. Thảo nguyên phóng khoáng đến điên cuồng, nói với nàng rằng ngươi cứ phi đi, chỉ cần ngươi không sợ ngựa chiến kiệt sức mà chết thì ngươi cứ phi đi.
Thời gian cứ thế trôi qua trong tiếng vó ngựa phi nước đại, đã đến giữa tháng Tám, toán tiên phong mang trà mới đến báo tin vẫn chưa xuất hiện, thứ xuất hiện lại là thương nhân trẻ tuổi Đức Cát Đan Ba đến từ Lhasa. Đức Cát Đan Ba nói: Ta đi theo cô mấy ngày nay rồi, quay đầu ngựa lại mau chóng về đi thôi, mọi việc trên đời như nước chảy khắp nơi, đến lúc nên về thì khắc sẽ về. Giang Ưng Phổ Mẫu mặt đỏ bừng, trừng mắt lườm hắn một cái rồi nói: Sao anh lại cứ bám theo tôi? Hắn cười hì hì: Ta thấy cô cưỡi ngựa không dùng yên nên mới đi theo cô đấy. Giang Ưng Phổ Mẫu trừng mắt liếc ngang, quất một roi vào con ngựa của hắn. Con ngựa nhảy lách sang một bên, hắn vội vàng siết cương, lúc ngoảnh đầu lại nhìn thì nàng đã bay đi xa ngoài một mũi tên. Đức Cát Đan Ba thèm thuồng đưa mắt tiễn theo bóng nàng, lẩm bẩm nói: Bạch Mã Hát Lạp La hãy giúp ta, cho ta cưới được một người phụ nữ thế này đi. Nói đoạn liền phóng ngựa đuổi theo nàng.
Giang Ưng Phổ Mẫu lại một lần nữa chìm đắm trong cảm giác đê mê khi phi nước đại, đây là kết quả của việc cưỡi ngựa không dùng yên — khi chiếc lưng ngựa nhô cao chạm vào cơ thể nàng trong lúc chuyển động, cảm giác nôn nóng mong ngóng người đàn ông xuất hiện kể từ đầu tháng Tám sẽ hóa thành một dòng nhiệt ấm áp và được xoa dịu. Được xoa dịu chính là hạnh phúc. Tên Đức Cát Đan Ba đáng chết kia biết được việc xoa dịu là hạnh phúc nên hắn mới bám theo nàng. Nàng rất tức giận, điên cuồng quất roi vào vật cưỡi. Con ngựa cất vó bay lên. Lúc này nàng phát hiện ra, ráng chiều đã rực lửa như lửa cháy, lại một đêm hè cô độc nữa sắp bao trùm lên thảo nguyên.
Mà ở phía trước mặt nàng, thương nhân trẻ tuổi Đức Cát Đan Ba đến từ Lhasa lại một lần nữa xuất hiện.
Tại bãi cỏ Ôn Ba A Đôn (Tịnh địa thợ săn) phẳng lặng ở phía đông nam thảo nguyên Khorchenko, theo lệnh của ông cố tôi — Ngang Nhật Sơ Nan Nhân Khâm, người ta đã dựng lên những chiếc lều để đón tiếp đội vận chuyển trà ngay khi tháng Tám vừa bắt đầu. Ở giữa là chiếc lều trung tâm, hai bên là sáu chiếc lều lớn của họ hàng tộc Khorchenko, lùi xuống một lớp là lều của các thủ lĩnh bộ tộc từ ngàn hộ trở lên, sát đó là trăm hộ, ngoài trăm hộ là các mục chủ, rồi mới đến những người du mục tụ họp từ bốn phương tám hướng. Lều của người du mục có màu đen, tạo thành một mảng lớn vô biên mờ mịt. Người ta đồn rằng đứng trên Thạch Thành A Khúc Hữu Bôn, có thể nhìn thấy những chiếc lều màu đen ấy cuồn cuộn trôi như triều nước xung quanh những chiếc lều màu trắng.
Những chiếc lều màu trắng là ngọn núi băng nhô cao, được bố trí một cách hiên ngang khí phách, một tầng ánh ngọc phát ra chiếu thẳng lên bầu trời xanh. Những họa tiết cát tường bát bảo màu tím trên lều trắng bồng bềnh trôi nổi với dáng vẻ biến hóa trên lớp ánh ngọc ấy, lượn lờ bay lên tận trời cao. Đó là điềm báo các Không Hành Mẫu đang thoăn thoắt lướt trên đỉnh đầu, các vị lạt ma trên Thạch Thành phóng tầm mắt nhìn bầu trời xa xăm, gõ trống sọ người, không ngừng niệm kinh cầu nguyện.
Thế nhưng đội vận chuyển vốn dĩ muộn nhất là vào giữa tháng Tám sẽ trở về mãi vẫn chẳng thấy tăm hơi, những con người ngóng cổ chờ mong ở trong lều không thể ngồi yên nổi nữa, thậm chí ngay cả các Không Hành Mẫu cũng bắt đầu mất kiên nhẫn. Đột nhiên vào một ngày nọ, người ta nhìn thấy các họa tiết cát tường bát bảo không còn lượn lờ bay lên trời cao nữa, ánh ngọc tản ra từ những chiếc lều trắng cứ thế mờ dần đi. Tiếng kinh kệ và tiếng trống sọ người của các vị lạt ma trên Thạch Thành khựng lại một lát, rồi lại đột ngột vang dội lên.
Các ngàn hộ bất an tiến lại gần chiếc lều trung tâm, muốn thu được chút khải thị nào đó từ chỗ Tông Bổ. Quản gia nói: Các người chớ có lớn tiếng, Tông Bổ đang trong trạng thái tĩnh tọa suy ngẫm. Tông Bổ chính là chủ nhân của mười vạn hộ mục dân — tức ông cố của tôi, khi ấy ông đã bảy mươi bảy tuổi, ngoại trừ việc ăn uống và ban bố các mệnh lệnh cần thiết ra, thì toàn bộ thời gian trong ngày ông đều dùng để tĩnh tọa suy ngẫm. Người trong gia tộc nói: Lão gia gia sắp thành Phật rồi, còn chưa đợi đến lúc thăng thiên thì ngài đã sắp thành Phật rồi. Tĩnh tọa suy ngẫm là con đường duy nhất để thành Phật, điều này là kiên định không dời đổi trong tín ngưỡng của gia tộc.
Mãi cho đến buổi sáng ngày thứ ba sau khi các Không Hành Mẫu biến mất, chủ nhân Sơ Nan Nhân Khâm — người sắp sửa thành Phật — mới từ trong trạng thái tĩnh tọa suy ngẫm quay trở về thảo nguyên Khorchenko do ngài thống trị. Ngài mở mắt ra, duỗi một chân đang khoanh tròn trên tấm đệm da báo ra, hờ hững nhìn xung quanh rồi cất tiếng hỏi: Đội vận chuyển đến chưa? Vẫn chưa phải không? Vậy thì phái người đi đón đi. Tam tử của ngài — người kế nhiệm của Khorchenko Tông Bổ, năm nay đã năm mươi hai tuổi, chính là ông cố Đương Zhou Quần Bội của tôi vội vàng hỏi: A ba, phái ai đi đây? Chủ nhân của mười vạn hộ mục dân nói: Ngang Nhật Kim Khải không đi được sao? Đương Chu nói: A ba, Ngang Nhật Kim Khải không đi được đâu, những nốt nhọt khắp người nó vừa mới khỏi, đi thế này e là không may mắn. Chủ nhân nói: Nó nhận được sự bảo hộ của Bạch Mã Hát Lạp La, gặp nạn mà không chết, đó là điềm báo đại cát đại lợi, cứ để nó đi đi.
Ông cố của tôi sinh năm Hổ, các lạt ma ở Thạch Thành A Khúc Hữu Bôn đã đặt cho ông cái tên chính là vị hoằng pháp năm Hổ — Đương Zhou Quần Bội. Vị hoằng pháp năm Hổ tuân theo sự sắp xếp của chủ nhân, đã phái người gọi ông nội tôi — con trai của ngài là Ngang Nhật Kim Khải đến.
Ngang Nhật Kim Khải ôm chiếc trống sọ người, vừa bước vào lều đã nói: Con đã xỏ đôi bốt không sợ mòn, cưỡi con ngựa hoa Cách Cát không sợ đường xa rồi, a ba nếu ngài không yên tâm, thì cho con thêm một túi tsampa nữa rồi quất con một roi đi. Đương Chu nhìn người con trai vạm vỡ, tướng mạo đường hoàng này, sắc mặt nghiêm nghị nói: Ta đúng là muốn quất ngươi một roi, để ngươi ghi nhớ lần này tại sao lại phái ngươi đi chứ không phải phái người khác. Ngươi định mang theo bao nhiêu người? Ngang Nhật Kim Khải nói: Chỉ mang theo một người thôi. Đương Chu hỏi: Ai? Hắn đáp: Cái bóng của con. Đương Chu nói: Chỉ dựa vào câu nói này thôi là đáng quất ngươi một trăm roi rồi, ngươi có biết tại sao đội vận chuyển đến giờ vẫn chưa về không? Ngang Nhật Kim Khải nói: Những gì a ba đoán ra cũng chính là những gì con đoán ra, nhưng nếu không dựa vào sức mạnh của bổn tôn, uynhưỡng của hộ pháp cùng âm thanh vô địch của trống sọ người, thì phái bao nhiêu người đi nữa phỏng có ích gì? Đương Chu nói: Ta tin bổn tôn của ngươi, tin tất cả các vị hộ pháp, tin uy lực của trống sọ người, nhưng ta cứ không yên tâm về ngươi. Ngang Nhật Kim Khải nói: Bổn tôn ở ngay trong tim, hộ pháp ở ngay trên đầu, trống sọ người ở ngay trong tay, a ba ngài cứ yên tâm uống rượu ăn thịt đi. Vừa nói vừa đưa chiếc roi ngựa sang. Đương Chu ngẫm nghĩ một lát, đón lấy chiếc roi giơ lên quất mạnh cho hắn một cái. Ngang Nhật Kim Khải nghiến răng chịu đựng qua đi. Tsampa, lấy một túi tsampa mau. Đương Chu quát lớn với người hầu, rồi ném chiếc roi lại cho Ngang Nhật Kim Khải.
Cho hắn một roi là để hắn ghi nhớ sứ mệnh của gia tộc mà mình đang gánh vác, phải luôn luôn cảnh tỉnh không được lơi lỏng; cho hắn một túi da đựng tsampa là để nhắc nhở hắn ơn nuôi dưỡng của thảo nguyên Khorchenko, vì ơn huệ vô thượng này, đến lúc phải hy sinh tính mạng thì cứ hy sinh đi. Đương Chu Quần Bội hiểu rằng Ngang Nhật Kim Khải không phải là kẻ nông nổi nhẹ dạ, chiếc roi và túi tsampa đã đủ để hắn đong đếm được sự nặng nhẹ của sứ mệnh rồi. Ngài đứng tiễn con trai rời đi, bước ra bãi cỏ, nhìn thấy ca múa đã nổi lên, tiếng đàn sừng bò du dương tựa nước hòa quyện với tiếng hát hào sảng của người dẫn vũ, thế nhưng tiếng bước chân của đội múa lại hơi hỗn loạn; nhìn thấy những dải tay áo dài muôn màu của nam thanh nữ nữ bay lượn trong không trung, trên không có gió thổi làm bay loạn những đường nét vốn dĩ phải vô cùng mỹ lệ; nhìn thấy cảnh tượng làm nền ở phía sau đã chẳng còn là bầu trời quang đãng màu xanh biếc nữa, một vệt mây xám xịt tựa như đàn trâu rừng từ ngoài chân trời phi nước đại kéo đến. Ngài thầm kêu không ổn, bầu trời được các Không Hành Mẫu chiếu cố tuyệt đối không nên có hình ảnh thế này.
Ông cố của tôi vì thế mà buồn bực không thôi, trầm tư bước lững thững quay trở lại lều, chợt nhớ ra một người, đó chính là thương nhân trẻ tuổi Đức Cát Đan Ba đến từ Lhasa.
Một canh giờ sau, Đức Cát Đan Ba được người hầu cung kính mời vào trong lều. Hắn quỳ một chân dâng một chiếc khăn kadag lên chiếc bàn thấp trước mặt Đương Chu. Đương Chu Quần Bội ngồi trên đệm ngồi khom lưng ra hiệu cho hắn ngồi xuống, rồi bảo người hầu dâng trà.
Lúc uống trà, Đương Chu nói: Nghe nói cậu tuổi còn trẻ mà đã sáu lần đến Khang Định rồi, chắc cậu rất quen thuộc chuyện đường xá nhỉ? Đức Cát đáp: Thưa thượng nhân, đúng thế ạ. Đương Chu nói: Hôm nay ta mời cậu đến, là muốn nhờ cậu làm một việc công đức vô lượng cho thảo nguyên Khorchenko chúng ta, như cậu đã biết đấy, Giáp Bá Cát Bổ của chúng ta là tên cướp dũng cảm nhất, đã vậy thì không cần thiết phải phái những tên cướp khác đi nữa, chỉ có cậu — vị Đan Ba hạnh phúc kết giao rộng rãi với bạn bè thiên hạ, mới có thể mang trà sữa hạnh phúc đến cho thảo nguyên.
Đức Cát Đan Ba đặt chén trà trong tay xuống nói: Ơ hay chà chà, bảo con đi kết giao bạn bè rộng rãi cơ á? Sứ mệnh tốt đẹp nhường này sao lại rơi lên đầu con chứ? Chắc chắn là do kiếp trước con kính trọng Tam Bảo nên mới tu được đại đức đấy. Thế nhưng con còn trẻ thế này, danh vọng và uy tín nông cạn tựa như con cừu mới sinh, sao có thể gánh vác trọn vẹn chén trà sữa hạnh phúc của cả thảo nguyên Khorchenko lên vai được cơ chứ? Đương Chu nói: Ngựa non thì chạy xa, chim ưng non thì bay cao, người có uy tín có ngàn vạn kẻ, nhưng người mà ta coi trọng lại chính là cậu.
Đức Cát Đan Ba quỳ một chân chồm dậy nói: Hôm nay là ngày gì thế này, con phải ghi nhớ nó, tạ ơn Bạch Mã Hát Lạp La ban phước, vậy thì con đi kết giao bạn bè đây. Đương Chu nói: Bây giờ cậu hãy đi tìm kiếm niềm vui đi, cậu có mong muốn gì cứ nói ra, trên lãnh địa của gia tộc Khorchenko, không có gì là không thể đáp ứng được cả. Đức Cát nói: Thượng nhân chỉ bảo thật hay, niềm vui có thể mang lại cát tường, thảo nguyên Khorchenko mà không có niềm vui thì dưới gầm trời này chính là một biển khổ mênh mông. Thượng nhân, con là một chú ngựa đực trẻ tuổi, ngài biết niềm vui của con là gì mà. Nói đoạn liền đứng dậy. Đương Chu cười nói: Vậy cậu mau đi đi, trong ngày tốt đẹp này, tất cả các thiếu nữ xinh đẹp đều là của cậu.
Đức Cát Đan Ba đã đi. Chẳng ai biết rằng vào đêm trước ngày lên đường ấy, vị thương nhân hạnh phúc này đã trải qua niềm vui với bao nhiêu cô gái, chỉ nghe đồn rằng vào mùa xuân năm sau, hầu như trong cùng một tháng, ba thiếu nữ đã sinh ra những đứa con của họ, và cái tên được đặt cho chúng đều là Đức Cát Đan Ba.
Trong ba thiếu nữ ấy, có một người chính là em gái của Ngang Nhật Kim Khải, là nãi nãi của tôi, là vợ của Giáp Bá Cát Bổ — thiếu nữ Diệu Âm Giang Ưng Phổ Mẫu.
Người đàn ông của Giang Ưng Phổ Mẫu là Giáp Bá Cát Bổ đã trở về. Hắn mất ngựa, mất súng, mất thuộc hạ, mất toàn bộ số trà, chỉ mang theo mỗi cái mạng của mình cùng vài tên tùy tùng gãy tay què chân trở về. Đương Chu Quần Bội hỏi hắn có gặp Ngang Nhật Kim Khải không? Hắn đáp: Không. Hỏi hắn có gặp Đức Cát Đan Ba không? Hắn đáp: Không. Lại nói, phái bọn chúng đi thì có ích gì chứ? Quân Tạng đánh không lại đâu, người và ngựa của quân Tạng đông lắm.
Chẳng mấy chốc, Ngang Nhật Kim Khải đã trở về. Hắn ôm chiếc trống sọ người bị đánh thủng, mỉm cười, mang theo chút ý vị khúc khải hoàn. Hắn nói nếu không nhờ sức mạnh vô cùng cường đại của bổn tôn Bạch Mã Hát Lạp La, nếu không nhờ hắn tung ra những lời nguyền độc ác nhất, nếu không nhờ trống sọ người gọi được Đại Vy-thế Uý-khủng Kim Cương đến, thì cái mạng của Giáp Bá Cát Bổ sớm đã chẳng còn, mà bản thân hắn cũng khó lòng toàn thây trở về được.
Người cuối cùng trở về chính là thương nhân trẻ tuổi Đức Cát Đan Ba. Hắn mang về toàn bộ số người và ngựa bị Giáp Bá Cát Bổ vứt bỏ, mang về toàn bộ số trà bị thất lạc, và cũng mang theo cả những người bạn mới kết giao của hắn. Hắn nói may nhờ có những người bạn mới giúp đỡ, những thứ đã mất mới được cướp lại từ tay quân Tạng.
Cũng trong năm đó, chủ nhân của mười vạn hộ mục dân trên thảo nguyên Khorchenko — ông cố của tôi, vị Tông Bổ bảy mươi bảy tuổi Ngang Nhật Sơ Nan Nhân Khâm đã rời khỏi cõi đời trong trạng thái tĩnh tọa suy ngẫm, ngài đã thành Phật, đã thăng thiên, ngài tuân theo tín ngưỡng của gia tộc, bước đến điểm cực hạn của cuộc đời, bước sang một thế giới khác. Ngài không còn là chủ nhân của thảo nguyên Khorchenko nữa, toàn bộ gia tộc Khorchenko từ nay cũng không còn là chủ nhân của thảo nguyên Khorchenko nữa.
Chiếc trống sọ người bị đánh thủng ấy từ đó không bao giờ vang lên tiếng gõ nữa.
Chiêm bái đền Giác Hồn
Uống say rồi, tỉnh lại rồi, chúng tôi ai nấy đều vô cùng hối hận, tối qua sao lại phải uống nhiều thế cơ chứ? Làm lỡ cả hành trình. May là dự cảm tốt lành vẫn còn đó, sự thôi thúc bí ẩn muốn được nhìn thấy bảy viên Vô Đích Pháp Vương Thạch Chân Ngôn Nhân Đầu Cổ vẫn còn đó. Tôn Học Minh nói: Vậy thì mau chóng lên đường thôi, trời không còn sớm nữa đâu.
Khorchenko nói: Đừng vội, anh vẫn chưa viết xong lời tựa cho tôi kìa.
Tôn Học Minh nói: Được rồi được rồi, viết ngay bây giờ đây, cậu lấy máy ghi âm ra đi.
Khorchenko lấy máy ghi âm từ trong chiếc xe Honda của anh ta ra, đặt lên trước mặt Tôn Học Minh. Tôn Học Minh nằm xuống chiếc giường trải dưới đất trong lều, vừa suy nghĩ vừa đột nhiên cất cao giọng hùng hồn nói lớn, vậy mà lại khớp gần như y hệt với những gì anh ta nghĩ đến vào cái đêm ở trạm tiếp phẩm Đà Đà Hà khi anh ta suýt chết đi sống lại.
Xong xuôi chúng tôi lên đường, đường sá gập ghềnh, hơn một trăm cây số mà đi mất gần bốn tiếng đồng hồ.
Chùa Cáp Ô Ba tức đền Giác Hồn cũng giống như rất nhiều ngôi chùa khác, nằm tọa lạc trên sườn núi. Chúng tôi đi dọc theo những bậc thang bước lên, chẳng nhìn thấy một bóng người nào. Cửa chùa mở toang hoác, chúng tôi vừa đảo mắt nhìn hai bên vừa bước vào trong, vẫn chẳng thấy một bóng người nào cả. Trong sân không có người, trong đại điện cũng chẳng có người. Các tăng lữ đâu rồi? Thậm chí ngay cả Khorchenko cũng thấy lạ lùng, cất giọng lớn gọi rằng: Có ai không? Tiếng vang vọng o o o.
Không những không có người, mà còn chẳng có đèn, chẳng có âm thanh, trong đại điện tĩnh mịch đến kỳ lạ. Chúng tôi đều bảo sao mà tối thế này. Mờ ảo có thể nhìn thấy các bức tượng ở bốn vách tường: tóc dựng ngược, mặt mày dữ tợn. Chu Ninh phải áp sát gần như dán vào mới phân biệt rõ ai với ai. Anh ta nói: Đây là Ma thần áo đen, đây là Tôn thượng Mục chiến thần, đây là Tiên tri Quả chiến thần, đây là Tiên tri Thiên nữ chiến thần, đây là Hàng ma bảo tái chiến thần, đây là Hắc đầu nhân chiến thần, đây là Thủy giới phong chiến thần; năm vị này là năm vị Thủ xá thần: Địa thần, Dương thần, Sinh mệnh thần, Âm thần, Thiện thần; đây là Du hồn; đây là bốn vị Dạ-xoa; đây là Tán thần trên trời, đây là Niệm thần trên mặt đất, đây là Lỗ thần dưới lòng đất; đây là Du hồn, cái này vẫn là Du hồn, ở đây... thật sự nhìn không rõ nữa, chắc là u linh rồi.
U linh? Chúng tôi di chuyển qua lại như những bóng u linh trong đại điện tối tăm, chợt nghe thấy một thứ âm thanh chưa từng nghe thấy bao giờ, tức thì cảm thấy da đầu tê rần, cứ như thể những vong hồn và u linh đó đều đang gào thét cựa quậy động đậy cả lên.
Mọi người đều ngây người đứng chết trân ở đó, nhìn nhau, rồi lại sờ soạng lẫn nhau.
Vương Tiêu Tiêu phát hiện ra có một cái bóng đen đang vô thanh vô thức di chuyển về phía này, có thể nhìn thấy khuôn mặt bộ xương trắng của nó rồi, có thể nhìn thấy thân hình to lớn sừng sững tựa vách núi của nó rồi, có thể nhìn thấy hai tay tua tủa cành nhánh, chiếc lưỡi dài ngoèe thè ra từ trong miệng của nó rồi. Nàng run lên bần bật, đang định thét lên thì bóng u linh ấy sà tới ôm chầm lấy nàng.
Tiếng thét chói tai khiến tất cả mọi người sợ ngây người. Theo bản năng, ai nấy đều muốn chạy trốn, nhưng hễ chạy là lại đâm sầm vào thứ gì đó. Vương Tiêu Tiêu vẫn đang hét chói tai.
Tôn Học Minh lao vụt tới, hét lên một tiếng: Tiêu Tiêu đừng sợ.
Vương Tiêu Tiêu oà khóc nức nở. Bóng u linh dường như đã buông tay ra.
Có người hỏi: Không sao chứ? Sao hai người lại nhát gan thế nhỉ?
Chu Ninh nói: Không sao đâu, chúng ta mau ra ngoài thôi, đây là Điện Lệ Thần, sắp có chuyện xảy ra rồi đấy.
Có người nói: Đừng sợ, không có chuyện gì xảy ra đâu.
Tôn Học Minh nói: Ở đây toàn là quỷ thôi, đi mau đi.
Có người nói: Cẩn thận đấy, đừng chạm vào chiếc án sắt kia, ở đó có quỷ kiếm đấy.
Hầu như đồng thời, tất cả chúng tôi đều phát ra một thứ âm thanh: Hả —?
Hầu như đồng thời, tất cả chúng tôi đều nói: Cậu là ai thế? Cậu là Trương Văn Hóa ư? Cậu là người hay là quỷ vậy?
Hầu như đồng thời, chúng tôi lao bổ về phía cái bóng u linh đã dọa chúng tôi sợ mất mật ấy.
Haha. Ngay trong sân đền Giác Hồn, chúng tôi cười ha ha, Khorchenko cũng cười ha ha hùa theo.
Trương Văn Hóa gỡ chiếc mặt nạ quỷ xuống, cởi bộ y phục quỷ ra, phấn khích hệt như một đứa trẻ: Nhận định của tôi không sai đâu, thế nào các người cũng sẽ đến đây mà.
Chúng tôi cũng phấn khích hệt như những đứa trẻ: Bọn tôi cứ tưởng cậu chết rồi chứ, suýt thì quay về Bắc Kinh để phát tang luôn rồi đấy.
Trương Văn Hóa nói: Sao mà về được chứ? Kém nghị lực quá vậy. Tôi có chết thì các người cũng phải tiếp tục tìm kiếm trống sọ người chứ, phải kế thừa di chí của tôi chứ nhỉ? Bây giờ chúng ta nên giao kèo với nhau đi, sau này dù cho bất cứ ai có chết đi chăng nữa, thì cũng không được phép bỏ cuộc giữa chừng.
Tôn Học Minh nói: Đúng thế, trừ khi chết sạch cả lũ.
Chu Ninh nói: Chết sạch cả lũ thì vẫn phải tiếp tục tìm, đằng nào chúng ta chẳng còn bảy cái u linh nữa cơ mà.
Haha. Tôn Học Minh nói: Hèn chi mà từ nãy đến giờ chúng ta đều có một dự cảm vô cùng mãnh liệt — chuyện tốt sắp đến rồi, ngờ đâu thứ tìm thấy lại chẳng phải là trống sọ người, mà là Trương Văn Hóa. Mặc dù trên người Trương Văn Hóa không hề khảm bảy viên Vô Đích Pháp Vương Thạch, mặc dù cái đầu của cậu ta hoàn toàn chẳng phải là một chiếc trống, mặc dù có đánh thủng cái bụng phệ của cậu ta thì cũng chẳng gõ ra được âm thanh trống giận nào, thế nhưng, Trương Văn Hóa dẫu sao cũng là con người, giá trị của Trương Văn Hóa với tư cách là một con người lẽ nào lại nhỏ hơn giá trị của một chiếc trống sọ người hay sao? Câu trả lời của chúng tôi chính là: Không.
Chu Ninh nói: Quá chuẩn luôn, chỉ cần có con người, chiếc trống sọ người bị chôn vùi dưới lòng đất có thể đào lên được, chiếc trống sọ người bị thất lạc có thể tìm lại được, cùng lắm thì làm ra cái mới là được chứ gì.
Haha. Trương Văn Hóa nói: Vào cái ngày ở hồ Vinh Quang Thiên Nữ, ban đầu tôi nhìn thấy ánh đèn, nghe thấy tiếng người nói chuyện, nhưng sau đó ánh đèn và tiếng nói chuyện lại biến mất. Tôi đi tìm nhưng không tìm thấy, lúc quay ngược trở lại thì chẳng còn thấy các người đâu nữa. Tôi nghĩ chắc mình đi nhầm đường rồi, tuyệt đối không được đi nhầm, đi nhầm là toi đời đấy. Càng nghĩ thế lại càng sốt ruột, càng sốt ruột lại càng dễ sai sót. Tôi hình như đã đi ngược hoàn toàn đường rồi, phong cảnh băng giá trên hồ chỗ nào cũng giống nhau, các vì sao trên trời cũng y hệt vậy, đông tây nam bắc không phân biệt được, đi từ đâu tới về đâu đi không rõ, tôi nghĩ không thể đi càn quấy nữa, nên lấy nơi này làm trung tâm để tìm kiếm xung quanh, nhưng kết quả của việc tìm kiếm là tôi chẳng tìm nổi cái trung tâm đâu nữa, tôi lại có thêm một cái trung tâm mới rồi.
Haha. Cứ thế tôi đi tìm các người mãi cho đến tận sáng bạch, càng tìm lại càng cách xa các người hơn. May là tôi nhìn thấy vết bánh xe ô tô trên mặt băng, thế là tôi cứ bám theo nó mà đi, đi đến chiều thì nhìn thấy có người. Bọn họ là một nhóm người Tát Lạp Nhĩ đến đây để kéo những khối băng, họ bảo băng ở đây có chứa sa kim, kéo về An Đa làm tan ra, thì có thể lắng đọng xuống một lớp bột vàng. Tôi nói tôi đến đây để tìm phật băng, đến để tìm những người du mục đi nhiễu quanh núi, đến để tìm một người công nhân từ Nhật Khách Tắc đến, đến để tìm trống sọ người. Bọn họ chẳng có chút hứng thú nào với những thứ tôi muốn tìm cả, bọn họ chỉ có hứng thú với mỗi mình tôi thôi. Bọn họ nói nhìn là biết tôi là một người có học thức, không biết tôi có thể giúp họ viết vài bức thư nhà được không. Tôi bảo chuyện này đối với tôi không khó, nhưng cũng có điều kiện đấy, các người phải chở tôi đến An Đa.
Haha. Thế là tôi đã đến được An Đa. An Đa có người, có xe cộ, có cửa hàng, vừa đến đó là chẳng còn mối đe dọa tử thần nào nữa. Nào ngờ ở An Đa tôi lại chạm mặt cảnh sát Trát Tây. Tôi nhiệt tình hừng hực tiến lên chào đón, thế mà hắn lại đối xử với tôi lạnh tanh như băng, hàn huyên vài câu là hắn liền giả vờ có việc rồi vội vã chuồn đi mất. Tôi biết là hắn đang né tránh tôi, và tôi cũng đành phải né tránh hắn thôi — chứ nào tôi có thiết tha gì muốn cho hắn biết tôi định đi đâu đâu. Tôi muốn đến Na Xúc, nhưng lại nghĩ chắc các người không đời nào ở ì lại đó đâu, thế là tôi dò la đường đi nước bước, bỏ ra năm trăm đồng thuê một chiếc xe máy của người Tạng ở An Đa. Quê nhà của người Tạng đó nằm ngay trên thảo nguyên Khorchenko, vừa nghe nói người tôi cần tìm là hai tín đồ Bôn giáo mang tù và, liền chở thẳng tôi đến đây luôn.
Haha. Đáng tiếc là ở đây chưa từng có hai tín đồ Bôn giáo mang tù và nào hành hương qua cả. Nhắc đến trống sọ người, các tăng lữ đều lắc đầu, bảo rằng chiếc trống sọ người của họ sớm đã bị đánh thủng từ lâu rồi, thậm chí cả khung trống, đinh trống lẫn đồ trang trí trống đều đã bị thiêu rụi. Năm đánh thủng chiếc trống sọ người là năm 1967, các tăng lữ đền Giác Hồn muốn dùng chú độc và trống sọ người để chống lại Hồng vệ binh từ Lhasa đến, kết quả là Hồng vệ binh thế như chẻ tre, trống sọ người bị thiêu hủy, rất nhiều thứ trong chùa cũng bị thiêu rụi, các tăng lữ cũng bị áp giải đến Đại tuyết sơn Hương Ba. Trên Đại tuyết sơn Hương Ba, tại chùa Hương Ba có giam giữ rất nhiều tín đồ Bôn giáo đến từ vùng Tây Tạng, Hồng vệ binh nói bọn họ là vật tiêu bản của ngưu quỷ thần rắn, muốn trưng bày cho nhân dân toàn quốc đến đây tham quan. Nhưng sau đó, tình hình đã xoay chuyển ngược lại, những tên Hồng vệ binh canh giữ bọn họ từng tên một mắc bệnh mù tuyết, có kẻ đã bị mù rồi. Hồng vệ binh vội vã rút lui, trước khi rút lui đã xua đuổi giải tán toàn bộ các lạt ma và tín đồ Bôn giáo đi. Thế giới lại biến thành thế giới của ngưu quỷ thần rắn, thế nhưng chiếc trống sọ người bị đánh thủng kia thì mãi mãi không thể khôi phục lại nguyên trạng ban đầu được nữa.
Trương Văn Hóa nói: Cho dù vậy thì tôi cũng không đến đây uổng công đâu, các tăng lữ ở đây nói cho tôi biết, tăng lữ của chùa Hương Ba cũng đang tìm kiếm trống sọ người, hơn nữa mấy chục năm nay vẫn luôn kiên trì tìm kiếm không ngừng nghỉ. Tôi nghĩ chiếc trống sọ người mà bọn họ muốn tìm chắc chắn không phải là chiếc trống sọ người mà chúng ta cần tìm, thế nhưng, biết đâu trong quá trình tìm kiếm, bọn họ lại có thể chạm trán với bảy viên Vô Đích Pháp Vương Thạch Chân Ngôn Nhân Đầu Cổ thì sao; biết đâu hai tín đồ Bôn giáo mang tù và biết chuyện chùa Hương Ba đang tìm kiếm trống sọ người, nên mới trộm chiếc trống sọ người đó đi, và giờ thì đang định mang chiếc trống sọ người ấy đến đó giao nộp thì sao; biết đâu cảnh sát Trát Tây né tránh tôi, nơi hắn muốn đến chính là chùa Hương Ba; biết đâu là... Dù sao thì cũng có ý nghĩa đó đấy, Đại tuyết sơn Hương Ba đối với chúng ta mà nói có giá trị vô song.
Haha. Tôn Học Minh cười cười, lên tiếng tán thành phân tích của Trương Văn Hóa.
Đúng lúc này, mấy tên tín đồ Bôn giáo tuân theo sự sắp xếp của Trương Văn Hóa trốn đi để chơi khăm chúng tôi, chẳng biết từ xó xỉnh nào bỗng chốc chui tút ra, mỉm cười đứng ở cách đó không xa. Một người đàn ông đầu đội mũ vấn đang bước về phía chúng tôi.
Trương Văn Hóa nói: Đó là trụ trì chùa Tái Nhật Đóa, tôi và ngài ấy đã là bạn bè rồi, hôm nay ngài ấy muốn thiết đãi tôi và những người bạn của tôi.
Chúng tôi bước tới đón, cúi gập người hành lễ chào hỏi người bạn mới của Trương Văn Hóa.
Trụ trì Tái Nhật Đóa sắp xếp bữa ăn ngay trên bãi cỏ trước đền Giác Hồn, phong cảnh tuyệt đẹp, ánh nắng tuyệt đẹp, thịt bốc tay tuyệt đẹp, sữa chua tuyệt đẹp. Trên thảo nguyên Khorchenko, bất kể là vào thời điểm nào — mấy chục năm trước hay trong mấy chục năm qua, lúc nào cũng luôn có thịt bốc tay tuyệt vời, sữa chua tuyệt vời cùng với ánh nắng tuyệt vời, phong cảnh rực rỡ sắc màu. Lại còn có cả rượu thanh khoa chính hiệu, sánh đặc sền sệt như cháo loãng, ngửi một cái thôi là đã muốn say mèm rồi.
Khorchenko là kẻ uống nhiều nhất, anh ta bảo loại rượu này ủ còn ngon hơn cả rượu ở nhà chúng tôi nữa. Đứng thứ hai là Vương Tiêu Tiêu, cô nàng uống đến mức phải đi vệ sinh tận ba lần, có hơi say sưa một chút, cứ tì sát cả người vào Tôn Học Minh.
Trương Văn Hóa nói: Đây là thánh địa tôn giáo đấy, hai người chú ý một chút đi.
Tôn Học Minh vội vàng biện minh: Không sao đâu, đây là ngôi chùa Bôn giáo, tín đồ Bôn giáo là được phép kết hôn mà.
Chu Ninh nói: Hai người quấn quýt lấy nhau thì liên quan gì đến việc tín đồ Bôn giáo được kết hôn chứ?
Trương Văn Hóa nói: Lẽ nào hai người cũng muốn kết hôn hả?
Chu Ninh nói: Hai người các cậu có phải cũng muốn làm tín đồ Bôn giáo luôn rồi không?
Khi tiệc tùng ăn uống sắp kết thúc, trên những bậc đá trước cửa đền Giác Hồn đột nhiên xuất hiện một cụ già. Khoảnh khắc Trương Văn Hóa nhìn thấy ông cụ, như thể phản xạ có điều kiện, cậu ta tung người nhảy vót lên, hét lớn: Tôi gặp các người xong là lú lẫn cả đầu óc luôn rồi, sao lại có thể quên mất lão hộ pháp cơ chứ? Tôi và lão hộ pháp tối ngày hôm qua còn ngủ chung một phòng đấy, đã là những người bạn tâm giao thân thiết lắm rồi cơ mà.
Trương Văn Hóa chạy xộc tới, đỡ lấy cụ già bước về phía này. Trụ trì Tái Nhật Đóa thiết đãi chúng tôi cùng vài tên tín đồ Bôn giáo đều đứng dậy ra chào đón. Chúng tôi cũng đồng loạt đứng dậy ra chào đón.
Cụ già cười cười đẩy Trương Văn Hóa ra nói: Tự... tự tôi đi được. Các người muốn đến chùa Hương Ba ư? Tôi... tôi cũng muốn đi.
Trương Văn Hóa nói: Cụ cũng muốn đi chùa Hương Ba á? Này, mấy người nghe thấy chưa, lão hộ pháp cũng muốn đi chùa Hương Ba kìa.
Trụ trì Tái Nhật Đóa không hề ngăn cản.
Tôn Học Minh nói: Cụ ấy đi rồi thì lúc về thế nào? Chúng ta đâu thể quay về theo con đường cũ được chứ.
Trương Văn Hóa nói: Đúng thế nhỉ, cụ đi rồi thì lúc về thế nào? Mấy trăm cây số đường cơ mà.
Lão hộ pháp nói: Tôi không về nữa.
Trụ trì thở dài một hơi nói: Lão hộ pháp đã nói từ mười năm trước rồi, đến lúc ông ấy sắp chết thì ông ấy có thể quay trở về chùa Hương Ba, xem ra ông ấy sắp chết thật rồi đấy. Ông ấy vốn dĩ là lạt ma của chùa Hương Ba, vậy thì cứ để ông ấy về đi, phiền các cậu dẫn theo ông ấy nhé.
Chúng tôi không đành lòng, đã đưa cụ đến chùa Hương Ba là để chết, vậy chi bằng cứ để cụ ở lại đây chẳng phải có thể sống thật tốt hay sao?
Trụ trì lắc đầu, mang theo nỗi bi thương vô tận nói: Đây là số mệnh của ông ấy, mười năm trước ta đã tính ra rồi, ông ấy sẽ rời khỏi chùa Cáp Ô Ba đúng vào ngày hôm nay.
Chúng tôi ai nấy đều vô cùng chấn động, nói như vậy, tức là từ mười năm trước bọn họ đã biết hôm nay chúng tôi sẽ đến đây rồi sao. Ngẩn người một lúc, tất cả chúng tôi đều nghĩ đến một vấn đề: Vậy thì, vận mệnh sau này của chúng tôi sẽ ra sao? Tôn Học Minh nói: Phiền trụ trì bói cho mỗi người bọn tôi một quẻ đi.
Trụ trì nói: Các cậu có phải là người Bôn giáo đâu, mệnh của các cậu ta không bói ra được.
Chu Ninh nói: Thế thì khỏi bói vậy, đằng nào vạn vật cũng là số mệnh, hay là nói chuyện trước mắt đi, khi nào chúng ta lên đường đây?
Tôn Học Minh nói: Lên đường ngay lập tức, ăn no uống say rồi, cũng đến lúc phải nói lời chia tay thôi. Vừa nói anh ta vừa rút ra một tờ một trăm đồng, dâng cúng cho trụ trì Tái Nhật Đóa như tiền công đức cúng chùa.
Bên trong đền Giác Hồn, toàn bộ các tăng lữ đều đến tiễn biệt. Bọn họ đến để tiễn đưa lão hộ pháp. Lão hộ pháp sắp đi rồi, sẽ không bao giờ quay lại nữa. Lão hộ pháp đã ở lại đây ròng rã ba mươi ba năm trời (từ năm 1967 cho đến năm 2000), nay lại sắp sửa quay trở về ngôi chùa mẹ của ông — chùa Hương Ba trên Đại tuyết sơn Hương Ba. Các tăng lữ nghiêm nghị thành kính niệm những bài kinh cầu chúc bình an. Lão hộ pháp lại mỉm cười, đông ngó tây nhìn, trông cứ như đang tìm kiếm thứ gì đó vậy.