Đảo Khải Tự Chiến Ký

Lượt đọc: 67 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 02
Sa Mạc Gió Và Lửa

❊ ❊ ❊

I

Vương quốc sa mạc Phất Lôi Mỗ—— thế nhưng cái tên như vậy có lẽ đã không còn thích hợp nữa rồi.

Phất Lôi Mỗ đã hợp nhất hai đô thị tự trị là Mạn Ni và Lâu Lan ở vùng trung tâm Lôi Đức Tư, đồng thời cũng hấp thu các đô thị tự trị liên hiệp vùng Tây Bắc lấy Lệ Đinh làm trung tâm. Cộng thêm vùng đồng bằng phì nhiêu vốn là bãi săn bắn thuộc sở hữu của Ma long Tiêu Đinh Tư của núi Hỏa Long cũng đã trở thành lãnh thổ của Phất Lôi Mỗ.

Ngày nay, vùng địa hình sa mạc đã chưa đầy một phần ba tổng diện tích toàn quốc. Mà "Sa mạc Gió và Lửa" cũng đã dần lấy lại sức mạnh tinh linh của nước và đại địa, nơi đây nay đã thường xuyên có mưa, dù chậm chạp nhưng đang dần được phủ xanh.

Về phần dân chúng vương quốc, người sa mạc nay đã trở thành thiểu số, ngược lại những người khai hoang di cư đến để trốn tránh chiến loạn, cùng với thị dân của các quốc gia đô thị và quốc gia tự trị trước kia mới chiếm đa số.

Vua của Phất Lôi Mỗ, người nay không còn được gọi là Vua lính đánh thuê mà phần lớn được ca tụng là Vua anh hùng Tạp Tu, đã bổ nhiệm tộc trưởng tộc Gió là Tát Đạt Mỗ giữ chức Tổng đoàn trưởng kỵ sĩ đoàn, đồng thời cưới em gái út của ông làm Vương phi. Ngoài ra, ông cũng trọng dụng nhân tài ưu tú trong và ngoài vương quốc, nhằm củng cố thể chế của vương quốc.

Thế nhưng, một vương quốc có lãnh thổ bành trướng với tốc độ chóng mặt, những vấn đề mà nó sở hữu tuyệt đối không ít.

Chiến tranh Thần tà giáo trước kia đã tiêu tốn một khoản kinh phí vô cùng khổng lồ, mà vấn đề thiếu hụt nhân tài cũng vô cùng nghiêm trọng. Sự đối lập giữa hai tộc sa mạc Gió và Lửa vẫn còn đó, giữa người di cư mới và cư dân bản địa cũ cũng thường xảy ra rất nhiều vấn đề cùng tranh chấp.

Dù hiện tại đúng là vương quốc lớn nhất và mạnh nhất Lôi Đức Tư, nhưng để đạt được sự ổn định thì vẫn còn rất xa vời.

Còn vương quốc Phất Lôi Mỗ lúc này, đang chuẩn bị nghênh đón lãnh chúa của vùng đất trực thuộc Hắc ám chi đảo Mã Mô.

Công vương Mã Mô là Sử Phái Khắc rời khỏi lãnh địa, bắt đầu chuyến hành trình du ngoạn khắp các vương quốc tính đến nay đã trải qua khoảng ba tháng trời.

Sử Phái Khắc bắt đầu từ điểm dừng chân đầu tiên là vương quốc ngàn năm Á Lạp Ni Á, lần lượt ghếng thăm Ca Nông, Phạt Lợi Tư, Hải Lan Đức, cho đến tận khi cuối cùng đặt chân đến bổn quốc Phất Lôi Mỗ.

Họ đi qua đô thị cảng Lệ Đinh trước, cùng với đô thị Tiêu Đinh Tư mới được xây dựng tại bãi săn bắn của hỏa long, và vừa mới đến được kinh đô Phất Lôi Mỗ Bôi Lê Đức.

Trước mắt họ lúc này, chính là vương cung tạm thời của Phất Lôi Mỗ.

Vương thành Phất Lôi Mỗ "Á Khố Lô Đức" vốn được xây dựng ở trung lưu sông Cát, thành bích đã bị dòng nước cuốn sập sau trận mưa lớn nửa năm trước, dòng nước thậm chí còn tràn lên đến tầng hai của lâu đài, vì thế buộc lòng phải quyết định từ bỏ nơi đó.

Đây là cái giá sau khi sức mạnh tinh linh nước hồi phục.

Vùng đất trũng trong thành nay cũng thường xuyên ngập lụt, thế nên đa phần cư dân cũng đành phải từ bỏ chỗ ở ban đầu của mình.

Thành mới cùng với việc kiến thiết đô thị mới, đã được chọn dời đến vùng cao nguyên ở ngoại ô phía tây thành phố, và công tác xây dựng đang được tiến hành khẩn trương.

Thế nhưng để thể hiện sự hùng mạnh của Phất Lôi Mỗ trước trong và ngoài nước, vương thành mới bắt buộc phải to lớn và kiên cố, vì thế công trình có lẽ sẽ mất đến vài năm trời.

Vương cung tạm thời trong khoảng thời gian trước đó, chính là sử dụng một phần đã hoàn thành của vương thành mới, vua Phất Lôi Mỗ Tạp Tu sinh sống và làm việc tại đây.

Công vương Mã Mô Sử Phái Khắc cùng những đồng hành cùng anh du hành, hiện đang đứng trước cổng thành của vương cung mới.

Những người đồng hành bao gồm đội trưởng kỵ sĩ thân vệ Cái Lạp Khắc cùng mười tên kỵ sĩ thân vệ thuộc quyền. Ngoài ra còn có vợ của Cái Lạp Khắc, tức là Lôi Na - người phụ trách quản lý mật thám của công quốc Mã Mô, ma thuật sư cung đình Á Đức·Nặc Oa, cùng "bạn tốt của công vương" là Lị Phù, v.v. Bên cạnh đó, tế ti thần điện chiến thần Mạch Lý là Cổ Lý Ba Tư, cùng thị tế của Đại mẫu thần Mã Pháp là Ni Tư cũng cùng đi chung.

Đây là một chuyến hành trình không chỉ dài đằng đẵng mà còn đầy rẫy những sóng gió hiểm nguy.

Tại quốc gia ghé thăm đầu tiên là Á Lạp Ni Á, tù trưởng tộc người lùn phương bắc, tức là Vua Đá của vương quốc Sắt đã đưa ra thử thách cho họ là bình ổn cơn giận dữ của hai đại tinh linh vương ở dãy núi Bạch Long.

Sử Phái Khắc và đồng đội đã phải đối mặt với bão tuyết cùng những trận lở tuyết do động đất xảy ra thường xuyên, thực sự đánh cược bằng cả tính mạng của mình, vượt qua muôn vàn khó khăn trắc trở rồi mới hoàn thành được thử thách.

Thu hoạch từ việc hoàn thành thử thách, chính là nhận được sự đồng thuận cho ba ngàn người lùn di cư đến Mã Mô sinh sống. Hơn nữa, tộc trưởng mới của cộng đồng này sẽ do anh hùng đời chiến tranh Ma thần - "Vua Sắt" Phất Liệt Bối đảm nhiệm.

Các sản phẩm thủ công do thợ thủ công tộc người lùn chế tạo sở hữu giá trị cực kỳ cao, đối với một nơi thiếu thốn ngành nghề như Mã Mô mà nói thì đây là những mặt hàng mậu dịch cực kỳ quan trọng. Đặc biệt là gồ sứ màu xanh thẫm làm từ hủ ngân, có thể sẽ trở thành một trong những đặc sản của Mã Mô.

Điểm ghé thăm tiếp theo sau Á Lạp Ni Á là Ca Nông, tại đây họ đã hỗ trợ tiêu diệt tàn dư của đế quốc Mã Mô đã biến thành đạo tặc, đồng thời thực hiện tham gia chiến đấu trên thực tế.

Do trúng mưu kế của kẻ địch, vốn dĩ suýt chút nữa đã rơi vào bước đường cùng, nhưng nhờ sự xuất hiện của vị cứu tinh ngoài dự kiến, Sử Phái Khắc và đồng đội cuối cùng đã thoát khỏi nguy cục. Mà vị cứu tinh được nhắc đến chính là kỵ sĩ Lôi Đức Tư Phan Ân, cùng người bạn đồng hành vĩnh cửu của anh ta là Đề Đức Lị Đặc.

Nhận được sự hỗ trợ của hai người, Sử Phái Khắc cùng đồng đội tập kích căn cứ của đám đạo tặc, hơn nữa còn bắt giữ thủ lĩnh là cựu hắc ám kỵ sĩ cùng vài tên địch binh.

Và khi trở về vương thành Ca Nông, Sử Phái Khắc đã thỉnh cầu với vua Ca Nông Lôi Âu Nạp vì muốn cứu lấy tính mạng của những kỵ sĩ và binh lính đế quốc Mã Mô này. Anh hy vọng không xem họ là đạo tặc, mà hãy coi họ là quân đội chính quy của Mã Mô chiến đấu kháng chiến từ sau đại chiến trước đến nay.

Nhận được sự cho phép của vua Ca Nông, Sử Phái Khắc liền lập tức chuẩn bị chiến thuyền, đưa tất cả bọn họ trở về đảo Mã Mô. Những người trở thành tù binh này, dù sẽ phải ở lại ngục tối dưới vương thành Mã Mô Vấn Đức Lôi Tư Đặc một thời gian, nhưng sẽ dựa vào nhân cách cùng biểu hiện của họ để quyết định xem có tiếp tục giữ lại trong ngục hay không, thậm chí là phóng thích họ hoặc tuyển dụng làm kỵ sĩ của công quốc.

Còn tại quốc gia ghé thăm thứ ba là Phạt Lợi Tư, họ đã vấp phải sự khiển trách dữ dội từ một nữ thần quan của chí cao thần Pháp Lý Tỉ Tư. Cô ấy chỉ ra rằng đối với tín ngưỡng đối với hắc ám thần Pháp Lạp Lợi Tư, thủ đoạn trấn áp của công quốc Mã Mô thực sự quá mức nương tay.

Sử Phái Khắc bèn giải thích rằng trong cảnh giới Mã Mô, tín ngưỡng hắc ám thần vẫn cắm rễ sâu trong lòng người dân, thế nên anh không tiến hành cấm đoán cưỡng chế, mà hy vọng thông qua sự phổ biến của tín ngưỡng Quang chi ngũ đại thần, từ đó làm giảm bớt tín đồ của hắc ám thần.

Dù vị nữ thần quan này không thể hoàn toàn chấp nhận luận điểm của Sử Phái Khắc, nhưng cô ấy cũng vì thế mà bày tỏ ý định muốn tự mình đến Mã Mô, truyền bá giáo lý của chí cao thần đến cư dân nơi đó.

Sử Phái Khắc chấp nhận thỉnh cầu của cô ấy, đồng thời hứa hẹn với cô ấy sẽ cho xây dựng thần điện của chí cao thần.

Còn tại Phạt Lợi Tư, Sử Phái Khắc còn gặp được một nhân vật quan trọng.

Đó là một vị thảo dược sư cao tuổi sống bên trong lãnh địa thuộc sở hữu của vương phi Phạt Lợi Tư Phỉ An Na. Vị lão thảo dược sư này có mấy đệ tử trẻ tuổi đang theo học dưới môn hạ của ông.

Dưới sự cho phép của vương phi Phỉ An Na, Sử Phái Khắc đưa ra thỉnh cầu với vị lão thảo dược sư, và được cho phép mời một vị đệ tử đến Mã Mô.

Vị đệ tử này tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã hoàn toàn lĩnh hội được tri thức và kỹ thuật cần thiết của một thảo dược sư.

Đợi khi Sử Phái Khắc trở về Mã Mô, anh sẽ hợp tác với vị thảo dược sư trẻ tuổi này, thành lập vườn thảo dược và phòng khám bệnh cấp quốc gia.

Những loại dược phẩm được bào chế ra, chắc chắn sẽ cùng với đồ gốm do người lùn chế tạo, trở thành đặc sản của đảo Mã Mô và dùng làm mục đích mậu dịch.

Tiếp theo đó, họ đi ghé thăm vương quốc Hải Lan Đức, để có được lời khuyên từ đại hiền giả Ốc Đặc, mà đi xuyên qua phế tích của vương quốc Đá "Đại hầm ngỏ của người lùn" đã bị ma thần tiêu diệt từ hơn năm mươi năm trước.

Họ chiến đấu nhiều lần với lũ quái vật cư ngụ bên trong, cho đến cuối cùng thì cũng gặp được Ốc Đặc. Thế nhưng vị đại ma thuật sư này lại ra lệnh cho Sử Phái Khắc, bảo anh phải đi đến tận cùng sâu thẳm nhất của "mê cung sâu thẳm nhất" nằm ở phần đáy tháp đá nơi ông ta sinh sống hằng ngày.

Mà người được phép đi cùng duy nhất chỉ có Ni Tư.

Sử Phái Khắc và Ni Tư thông qua ma thuật huyễn giác mà Ốc Đặc đã yểm lên toàn bộ mê cung, đã tự mình trải nghiệm trận quyết chiến cuối cùng của cuộc chiến tranh Ma thần đó.

Đó thực sự là một trận chiến thảm khốc vượt ngoài tưởng tượng, nhưng đối với Sử Phái Khắc mà nói thì đó cũng là một trải nghiệm trân quý.

Sử Phái Khắc nhờ đó mà thấu hiểu toàn bộ chân tướng của chiến tranh Ma thần, đồng thời cũng hiểu được ý chí của hai vị anh hùng trong thời đại chiến tranh Anh hùng là "Hoàng đế tóc đỏ" Bối Lỗ Đức cùng "Vua bạc" Faen. Dù con đường hai người chọn khác nhau, nhưng ý chí muốn mang lại hòa bình cho Lôi Đức Tư thì lại giống nhau.

Những con người ôm ấp suy nghĩ giống nhau lại buộc phải trở thành kẻ thù của nhau, sự thật này đối với Sử Phái Khắc mà nói mang tính chấn động vô cùng to lớn. Những kẻ khiến cho đế quốc Mã Mô hồi sinh ấy, nói không chừng cũng là vì hắc ám chi đảo Mã Mô cùng cư dân nơi đó mà đưa ra hành động như vậy.

Để hiện thực hóa lý tưởng của bản thân, thì bắt buộc phải xung đột với những kẻ sở hữu lý tưởng khác. Thế nhưng nếu không có lý tưởng, sẽ chẳng có cách nào thay đổi hiện trạng cả.

Mà Sử Phái Khắc không hề có ý định dung túng cho hiện trạng của Mã Mô. Thế nên dù có dẫn đến tranh chấp, anh vẫn quyết định phải hiện thực hóa lý tưởng của mình.

Chỉ là lý tưởng này, so với lúc ban đầu thì có sự thay đổi vi tế, hơn nữa sau này cũng có khả năng tiếp tục thay đổi. Nhưng Sử Phái Khắc cho rằng cho dù là vậy cũng chẳng sao cả.

Dựa vào chuyến hành trình du ngoạn các nước, Sử Phái Khắc hiểu được các nước có kỳ vọng như thế nào đối với công quốc Mã Mô, nhưng cũng tự nhận thức được rằng bản thân anh không thể đáp lại tất cả mọi kỳ vọng.

Sử Phái Khắc sắp sửa yết kiến vua của bổn quốc Phất Lôi Mỗ là Tạp Tu.

Tạp Tu chắc chắn cũng sẽ có kỳ vọng đối với công quốc Mã Mô, và đối với bản thân Sử Phái Khắc. Anh muốn một lần nữa xác nhận rốt cuộc đó là kỳ vọng gì.

Anh chỉ hy vọng câu trả lời lát nữa đây, sẽ không có sự cách biệt với lý tưởng mà bản thân đang ôm ấp.

Sử Phái Khắc là người sa mạc, cũng là một phần tử của Phất Lôi Mỗ. Thế nhưng hiện tại, những gì anh buộc phải bảo vệ chính là hòn đảo mang tên Mã Mô cùng cư dân trên đảo.

Đây là sứ mệnh của chính anh với tư cách là công vương Mã Mô. Trước khi yết kiến Tạp Tu, Sử Phái Khắc cứ thế tự nhấn mạnh với bản thân như vậy.

II

“Sử Phái Khắc, lâu lắm rồi không gặp nhỉ.” Sau khi hành lễ cung kính, vua Phất Lôi Mỗ Tạp Tu nở nụ cười nhìn Sử Phái Khắc đang từ từ ngẩng đầu lên.

Vua lính đánh thuê nay đã bước qua tuổi bốn mươi, trên gương mặt tinh anh xuất hiện những nếp nhăn sâu thẳm, mái tóc màu nâu đen cũng có cảm giác đã hơi phai màu.

Thế nhưng vị chiến sĩ mạnh nhất được mệnh danh là "Thợ rèn kiếm" này hoàn toàn không hề cảm thấy dấu hiệu suy lão nào về mặt thể xác lẫn tinh thần, cho dù là những cử động vô tình cũng tràn đầy tinh thần và lực lượng.

“Đã lâu không được bệ hạ triệu kiến rồi ạ.” Sử Phái Khắc đáp lễ Tạp Tu rồi lại cúi đầu xuống lần nữa.

Nơi này là đại sảnh yết kiến của vương quốc Phất Lôi Mỗ.

Dù gọi là cung điện tạm thời, nhưng các trọng thần của vương quốc Phất Lôi Mỗ đều có mặt ở trong đại sảnh. Bao gồm Vương phi Na Phụ Kha, cùng Tát Đạt Mỗ mang chức vụ tể tướng kiêm quản hạt tộc Gió, ma thuật sư cung đình Sử Lôi Nhân. Ngoài ra còn có ba vị đoàn trưởng kỵ sĩ đoàn và đội trưởng kỵ sĩ thượng cấp, cùng các quan văn cấp cao như quan thu thuế hoặc quan tư pháp.

Còn về phía Sử Phái Khắc, thì chỉ dẫn theo đội trưởng kỵ sĩ thân vệ Cái Lạp Khắc và ma thuật sư cung đình Á Đức·Nặc Oa đến yết kiến bệ hạ Tạp Tu.

“Việc cai trị hắc ám chi đảo có thuận lợi không?” Tạp Tu dùng giọng điệu thoải mái hỏi như thế.

“Rất tiếc là không thể nói là thuận lợi.” Sử Phái Khắc không hề che giấu mà đáp.

Tuy nhiên, Tạp Tu không thể nào không biết hiện trạng của công quốc Mã Mô. Không chỉ Sử Phái Khắc định kỳ tiến hành báo cáo, Tạp Tu chắc chắn cũng có những kênh tình báo khác để nắm bắt tin tức.

Dù tính cách có vẻ hào sảng, nhưng bệ hạ Tạp Tu thực chất là một nhà cai trị vô cùng cẩn trọng. Ông hỏi như thế không phải vì hình thức, thì chắc là có mưu đồ khác.

“Thế lực của đế quốc Mã Mô cũ vẫn còn tồn tại, vì đất đai cằn cỗi, cư dân vì cảm giác bất lực nên căn bản sẽ không chăm chỉ làm việc. Thêm vào đó, tín ngưỡng của hắc ám thần cắm rễ sâu trong lòng người, trong cảnh giới hiện tại vẫn còn cư ngụ rất nhiều yêu ma và ma thú.” “Thì ra là thế!” Tạp Tu nghe xong lời này của Sử Phái Khắc liền gật đầu.

“Ấy đấy, chuyện này cũng chỉ có thể từ từ tính thôi, trẫm cũng biết việc cai trị Mã Mô thực chất rất khó khăn. Chỉ là……” “Chỉ là sao cơ?” Nhìn thấy vị vua Tạp Tu hiếm hoi úp úp mở mở, Sử Phái Khắc không kìm được mà giục ông mau nói tiếp.

“Do dòng người tị nạn đổ vào và việc di dời phố xá, tài chính và lương thực của Phất Lôi Mỗ đã không còn dư dả nữa. Muốn cung cấp sự hỗ trợ miễn phí giống như trước sẽ vô cùng khó khăn.” (Thì ra là chuyện này...) Cuối cùng thì cậu cũng hiểu được ý đồ của vua Tạp Tu.

Dù không phải là một tin tức tốt đẹp gì, nhưng xét theo một khía cạnh nào đó thì thực ra cậu đã sớm chuẩn bị tâm lý từ trước rồi.

Do việc xây dựng thành mới và di dời phố xá, bắt buộc phải gánh vác khoản chi phí cao ngất ngưởng.

(Những người xây nhà ở khu phố chủ yếu là nhân vật có thế lực của tộc Gió, chi phí di dời đại khái đều phải do vương quốc chi trả nhỉ.) Nói một cách đơn giản chính là so với người dân Mã Mô, việc viện trợ cho tộc Gió phải được đặt lên ưu tiên hàng đầu. Dù tình trạng của Mã Mô nghiêm trọng hơn... thế nhưng tộc Gió là trung tâm của Phất Lôi Mỗ, cho nên việc được hưởng đặc quyền ở mức độ nhất định cũng là điều đương nhiên.

Sử Phái Khắc đành phải chấp nhận điều đó. Thế nhưng cậu vẫn không kìm được mà khẽ siết chặt tay thành đấm.

“Trông ngươi có vẻ không phục lắm nhỉ!” Một vị lão nhân nhìn thấy cảnh đó liền dùng giọng nói sắc bén hỏi lên.

Đó là Á Địch Lạp - người vừa mới được phong tước Bá tước Lệ Đinh, một trong những nhân vật có thế lực của tộc Gió.

“Ngươi có thái độ đáp lại phán quyết của bệ hạ quốc vương như thế này quả thật quá mức thất lễ rồi!” Bá tước Lệ Đinh ngạo mạn nói với Sử Phái Khắc.

Câu nói này khiến Sử Phái Khắc cảm thấy hơi khó chịu, liền xoay hẳn mặt về phía bá tước.

“Đảo Mã Mô vô cùng nghèo khó, vẫn cần đến sự viện trợ từ bổn quốc. Cho nên cảm thấy không phục cũng là điều đương nhiên chứ! Thế nhưng chính vì thấu hiểu tình trạng của bổn quốc, cho nên tôi mới không đưa ra dị nghị. Chỉ là nếu bệ hạ trách phạt thì cũng đành đi, bị Bá tước Lệ Đinh nói thế này thì tôi ngược lại thấy vô cùng bất mãn.” Dù khoảng cách tuổi tác rất lớn, nhưng Sử Phái Khắc là tộc trưởng tộc Lửa, cộng thêm việc còn là công vương sở hữu quyền kế vị ngai vàng, cho nên địa vị trong cung đình cao hơn lão nhân này.

“Ngươi, ngươi dám……” Nghe câu trả lời với ngữ điệu vô cùng bình tĩnh mà nội dung lại quả quyết như thế, Á Địch Lạp lập tức đỏ bừng cả mặt.

“Công vương Mã Mô nói không sai, người có thể quở trách công vương Mã Mô chỉ có bệ hạ Tạp Tu mà thôi.” Tát Đạt Mỗ với tư cách là tộc trưởng tộc Gió, đồng thời cũng là Công tước Hi Nhĩ Đặc liền an ủi trưởng lão tộc mình như thế.

“Thế nhưng thưa tộc trưởng, công vương Mã Mô đã đuổi đi đội trưởng kỵ sĩ Á Pháp Đức của tộc chúng ta, trong trận chiến với đế quốc Mã Mô trước đó, anh ta cũng để cho các kỵ sĩ tộc chúng ta đảm nhận vị trí tuyến đầu nguy hiểm, hại cho mấy chục người chúng ta bỏ mạng đấy ạ!” “Ông Á Pháp Đức không hề bị đuổi đi, mà là dựa vào ý chí của bản thân để trở về bổn quốc. Còn trong trận chiến trước đó, sở hữu việc để cho tộc Gió đảm nhận tuyến đầu, cũng là do đoàn trưởng kỵ sĩ Ngũ Đinh hy vọng như thế. Tôi tuyệt đối không hề đối xử bất công với tộc Gió!” Sử Phái Khắc tăng thêm giọng điệu nói với Á Địch Lạp.

Những lời cậu nói hoàn toàn là sự thật không thể chối cãi. Thế nhưng vì thế mà có thể đại khái nhận ra, những người tộc Gió ở bổn quốc đang có suy nghĩ gì đối với đảo Mã Mô và Sử Phái Khắc.

“Đối với công vương Mã Mô lặn lội đường xa tới đây, anh cư xử như thế thực sự quá mức vô lễ rồi, tuy anh có rất nhiều chuyện muốn nói, nhưng bây giờ vẫn nên kiềm chế lại đi.” Tạp Tu nở nụ cười khổ quát mắng Bá tước Lệ Đinh như thế.

Sử Phái Khắc cũng hiểu được, sở dĩ vua Tạp Tu để cho Bá tước Lệ Đinh nói đến cùng là để cho cậu biết được cảm giác khủng hoảng mà tộc Gió hiện đang ôm ấp.

(Còn phiền phức hơn cả lúc đi thăm các quốc gia khác nữa nhỉ.) Sử Phái Khắc không kìm được mà muốn thở dài một hơi.

Những quốc gia ghé thăm cho đến nay tuy đưa ra nhiều yêu cầu khác nhau, nhưng cũng sẽ bày tỏ sự đồng tình với hiện trạng của công quốc Mã Mô, và hứa hẹn sẽ cung cấp sự chi viện.

Ngược lại, bổn quốc Phất Lôi Mỗ thì ngay từ đầu đã đưa ra chỉ trích.

Đây chính là bằng chứng tốt nhất cho thấy những người thuộc tộc Gió cho rằng công quốc Mã Mô thuộc về tộc Lửa.

Thế nhưng kỵ sĩ tộc Lửa thực chất có hơn một nửa ở lại bổn quốc, mà tộc Gió cũng lấy Ngũ Đinh làm đầu tàu, có mấy trăm người được phái cử đến đảo Mã Mô. Cho nên việc họ nghĩ như thế, có lẽ chỉ là ảo giác do lo sợ tộc Lửa vì thế mà độc lập, rồi tiến một bước đối địch với họ gây ra mà thôi... Thế nhưng đây chỉ là suy nghĩ của những nhân vật có thế lực trong tộc Gió. Bản thân Sử Phái Khắc thì hy vọng công quốc Mã Mô có thể trở thành một quốc gia bình đẳng không phân biệt xuất thân, và trở thành hình mẫu tương lai cho bổn quốc Phất Lôi Mỗ.

Vua Tạp Tu chắc cũng có suy nghĩ này nên mới đưa ra quyết định như thế. Bởi vì ông cũng không thuộc tộc Gió, mà là lính đánh thuê vượt biển từ đại lục sang, thậm chí còn là người ngoài không phải xuất thân từ đảo Lôi Đức Tư. Thế nên ông hẳn sẽ không áp dụng chính sách so đo xuất thân cá nhân.

(Người tộc Gió hình như cũng trở nên có chút nhạy cảm rồi nhỉ.) Sử Phái Khắc thầm nghĩ trong lòng.

Cách đây không lâu còn bị khinh miệt là dã man tộc sa mạc, nay lại trở thành cốt lõi của vương quốc lớn nhất Lôi Đức Tư. Ý nghĩ khiến người ta kiêu hãnh như thế sẽ khơi mào cho sự kiêu ngạo, mà sự kiêu ngạo đồng thời cũng sẽ sinh ra quan niệm ép buộc. Do đó sẽ hoài nghi xem địa vị của chính mình có bất cứ lúc nào bị người ta dòm ngó hay không.

(Kẻ chiến thắng không biết tiến bộ có thể nói là đáng sợ nhất...) Sử Phái Khắc thầm nghĩ, cậu chỉ đành với tư cách là công vương Mã Mô, liên lạc chặt chẽ với bổn quốc hơn trước kia mà thôi.

Dù không phải là muốn nịnh hót tộc Gió, nhưng nếu nhận phải quá nhiều sự hiểu lầm, thì khó mà tránh khỏi việc gây cản trở cho việc cai trị hắc ám chi đảo.

Nếu Sử Phái Khắc chịu đựng thất bại ở đây, Mã Mô sẽ mãi mãi là một hòn đảo hắc ám, và trở thành mầm họa của đảo Lôi Đức Tư.

Cứ như thế thì việc tự nguyện trở thành lãnh chúa Mã Mô sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Sử Phái Khắc âm thầm hạ quyết tâm, đồng thời đối diện lần nữa với vua Phất Lôi Mỗ Tạp Tu.

Vua Phất Lôi Mỗ vốn cởi mở bình thường, cứ thế nở nụ cười ở khóe môi và đăm đăm nhìn Sử Phái Khắc. Hơn nữa còn gật đầu ra hiệu với cậu như thể vô cùng mãn nguyện.

Ông trông như thể nhìn thấu nội tâm của vị công vương trẻ tuổi Mã Mô vậy.

“Tối nay trẫm sẽ tổ chức tiệc chiêu đãi ngươi. Ngươi cứ tận hưởng cho thỏa thích ở mẫu quốc đã lâu không gặp đi. Bằng không đợi đến khi trở về Mã Mô, lại có một cuộc sống lãnh chúa đầy rẫy khổ nạn đang chờ ngươi đấy.” “Vô cùng cảm ơn nhã ý của bệ hạ.” Sử Phái Khắc cũng mỉm cười cúi đầu thật sâu.

Đúng vào lúc này.

“Xin bệ hạ tha tội cho sự thất lễ của thần!” Một vị kỵ sĩ vừa kêu lên vừa hoảng hốt bước vào đại sảnh yết kiến.

Tất cả mọi người trong đại sảnh đều hướng mắt nhìn vị kỵ sĩ đó.

“Có chuyện gì thế?” Công tước Hi Nhĩ Đặc Tát Đạt Mỗ cất lời hỏi như thể đại diện cho tất cả mọi người trong đại sảnh.

“Lại có thương đoàn bị tập kích ở sa mạc Gió và Lửa, theo tin báo thì có lẽ đã bị tiêu diệt hoàn toàn……” Vị kỵ sĩ cứ thế kính cẩn quỳ gối ngay cửa lớn cất cao giọng báo cáo như thế.

“Ngươi nói thương đoàn đã bị tiêu diệt hoàn toàn ư?” Sử Phái Khắc lộ vẻ kinh ngạc, đồng thời đưa mắt nhìn nhau với Cái Lạp Khắc và những người đồng hành.

“Chắc là do đạo tặc làm nhỉ.” Cái Lạp Khắc cũng nghiêng đầu. Thế nhưng dám làm càn ngay trong cảnh giới Phất Lôi Mỗ, nói là gan dạ chẳng bằng nói là hữu dũng vô mưu thì đúng hơn.

“Không phái binh lính bảo vệ cùng đi với bọn họ sao?” “Binh lính có lẽ cũng đã bị tiêu diệt hoàn toàn rồi.” Sau khi đáp lại câu hỏi của tổng đoàn trưởng kỵ sĩ Tát Đạt Mỗ, vị kỵ sĩ liền cúi đầu thật sâu trước Tạp Tu như thể đang chờ đợi phán quyết.

“Xem ra không thể khoanh tay đứng nhìn được rồi.” Tạp Tu cười khổ nói như thế, nhìn nhau gật đầu với Tát Đạt Mỗ và Sử Lôi Nhân.

“Coi như để tưởng niệm những người hy sinh đã khuất, lần này trẫm sẽ tự mình đi giải quyết. Chúng ta nhân cơ hội này, triệt để nhổ cỏ tận gốc đám quái vật đáng ghét đang cư ngụ ở sa mạc đi.” “Quái vật sa mạc—— chẳng lẽ là Sa tẩu ư?” Nghe thấy lời này của Tạp Tu, Sử Phái Khắc không khỏi kinh ngạc lên tiếng.

“Chính là chuyện đó đấy. Những con quái vật ăn thịt người đó đã di chuyển đến tuyến đường mậu dịch của thương đoàn rồi. Đây đã là thương đoàn thứ 3 bị tập kích, hơn nữa số người chết cũng đã tích tụ lên đến mấy chục người.” Sử Phái Khắc thực sự không thể tin nổi những lời này của Tạp Tu.

Tuyến đường mậu dịch cách xa nơi cư trú của Sa tẩu. Hơn nữa từ trước đến nay Sa tẩu chưa từng rời xa nơi cư ngụ của chúng.

Sự nghi vấn cuồn cuộn trong tâm trí Sử Phái Khắc.

Cậu muốn dùng chính đôi mắt của mình để xác nhận.

Cậu muốn biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì ở sa mạc Gió và Lửa. Chiến đấu với ma thú có thể nói là một thứ túc mệnh ở Mã Mô, thế nên vua Tạp Tu được ca tụng là Vua anh hùng sẽ xử trí ra sao, dù thế nào đi nữa cậu cũng muốn tự mình chứng kiến.

Suy nghĩ của cậu có lẽ đã viết hết lên mặt rồi nhỉ.

“Công vương Mã Mô cũng muốn đi cùng sao?” Vua Tạp Tu bỗng nhiên nở nụ cười mang hàm ý sâu xa.

“Xin ngài hãy cho phép tôi đi theo.” Sử Phái Khắc nhân cơ hội đáp lời.

“Vậy thì ngày mai xuất phát, nhưng tối nay vẫn tiến hành tiệc chiêu đãi theo đúng dự định. Ngoài việc chào mừng công vương Mã Mô ra, chúng ta cũng hãy chúc mừng trước cho việc tiêu diệt quái vật thành công đi!” Lời này của vua Tạp Tu đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ các kỵ sĩ thân vệ trong đại sảnh yết kiến.

Từ biểu cảm và ngữ điệu của họ, có thể cảm nhận được sự tín nhiệm tuyệt đối dành cho quốc vương của mình.

(Có một ngày tôi cũng sẽ...) Sử Phái Khắc âm thầm thầm nghĩ trong lòng.

Thế nhưng chính bản thân cậu cũng không thể tưởng tượng nổi, rốt cuộc ngày đó khi nào mới tới.

III

Phất Lôi Mỗ - vương quốc lớn nhất Lôi Đức Tư. Bữa tiệc xa hoa vô cùng xứng đáng với danh hiệu này đã bắt đầu từ lúc chạng vạng.

Bởi vì là một quốc gia mới nổi chưa có lịch sử lâu đời, thế nên không cần phải coi trọng hình thức gì sất, Sử Phái Khắc với tư cách là khách mời chính cũng ăn uống thỏa thích, hơn nữa còn hòa nhịp theo âm nhạc do các thi nhân lãng du tấu lên, cất cao giọng ca hát những bài hát của dân tộc sa mạc.

Cậu cũng được nữ quan của tộc Lửa mời, biểu diễn múa kiếm ngay trước mặt mọi người.

Đây là vũ đạo truyền thống của tộc Lửa, biểu tỷ của Sử Phái Khắc, đồng thời cũng là tộc trưởng tiền nhiệm Nát Địch Á, chính là một cao thủ của loại vũ đạo này.

Vũ đạo này được thể hiện bằng cách bôi mỡ lên lưỡi hai con dao cong rồi châm lửa, kết hợp với những động tác kịch liệt, từ rất lâu về trước đã được truyền bá thông qua một số đoàn biểu diễn lãng du rời khỏi tộc Lửa rồi đi lang thang khắp nơi, không chỉ lan truyền trên toàn đảo Lôi Đức Tư, mà thậm chí còn truyền đến đại lục Á Lệt Khắc Lạp Tư cách một vùng biển.

Đặc biệt là Ngải Lê Mễ Á - nơi được mệnh danh là "Vương quốc sa mạc", vì cùng là vùng đất sa mạc nên vô cùng yêu thích loại vũ đạo này, nó còn thịnh hành đến mức trở thành một trong những kỹ nghệ truyền thống của địa phương, lấy những vũ giả truyền thuyết được mệnh danh là "Kiếm cơ" làm đầu tàu, có khá nhiều danh gia nổi tiếng được mọi người biết đến.

Dù không thể nói là múa rất đẹp, nhưng Sử Phái Khắc không để cho kiếm rơi xuống đất, cuối cùng cũng múa xong bài kiếm vũ này.

Thế nhưng lúc cầm ly rượu của mình lên vì khát nước, lại có một vị kỵ sĩ trẻ tuổi tộc Giau cười nhạo rằng đây căn bản là trò chơi của phụ nữ.

Nếu là các đoàn biểu diễn lãng du khắp nơi, những người biểu diễn kiếm vũ quả thực chỉ có phụ nữ mà thôi. Thông thường đều ăn mặc khá hở hang, qua đó khơi gợi dục vọng trong lòng nam giới.

Thế nhưng trong tộc Lửa, bất kể nam nữ già trẻ đều sẽ múa loại vũ đạo này.

Nguồn gốc của vũ đạo này, là một loại huấn luyện nhằm khiến bản thân quen với việc dùng kiếm, đồng thời cũng là để khơi dậy chiến ý của bản thân, hoặc dùng làm vũ đạo chúc mừng sau khi giành chiến thắng.

Mà đối thủ chiến đấu cho đến mấy năm trước, không còn nghi ngờ gì chính là tộc Gió.

Sử Phái Khắc đương nhiên không phải không nghĩ đến điểm này. Thế nhưng vì bản thân hơi say, vốn dĩ sẽ không để tâm đến sự sỉ nhục này, vậy mà lại trở nên hoàn toàn không kìm nén được nữa.

Cậu cứ thế giáng cho tên kỵ sĩ đó một cú đấm thật mạnh, khiến hắn nằm bẹp dưới đất không động đậy nổi.

Mấy kỵ sĩ xuất thân từ tộc Gió thấy thế lập tức vô cùng tức giận, cộng thêm các kỵ sĩ xuất thân từ tộc Lửa và các đô thị đi tới khuyên can, khiến cho bữa tiệc suýt chút nữa biến thành một màn ẩu đả quần chiến.

Và người đứng ra ngăn cản chính là vua Tạp Tu.

Vị chiến sĩ mạnh nhất từng được mệnh danh là Vua lính đánh thuê này hào sảng cười nói rằng bản thân cũng muốn tham gia trận ẩu đả quần chiến này, hơn nữa còn rất nghiêm túc suy nghĩ xem mình nên đứng về phe nào.

Nói cách khác, Tạp Tu cố ý cho mọi người biết rằng, trận ẩu đả này chính là biểu hiện cụ thể của sự đối lập bên trong Phất Lôi Mỗ hiện tại. Quốc vương đứng về phe nào mang ý nghĩa vô cùng trọng đại về mặt chính trị. Cho dù chọn bất cứ phe nào đi nữa, thì cũng sẽ chôn vùi mầm họa cho tương lai.

Bầu không khí vốn dĩ tựa sát khí cũng tự nhiên nguội lạnh xuống, những kẻ gây rối cũng tỉnh rượu trong khoảnh khắc. Cuối cùng bữa tiệc cứ thế tự nhiên giải tán, Sử Phái Khắc cũng trong sự hối hận tột cùng, rời khỏi đại sảnh chuẩn bị trở về phòng của mình.

Thế nhưng nơi mà Sử Phái Khắc đang đứng lúc này, không hề là phòng ngủ thuộc về cậu.

Cậu đang ở một góc của công trường xây dựng vương thành mới chất đầy gỗ và đá. Dưới bầu trời đêm quang đãng, cậu ngồi trên một hòn đá đối diện với một thiếu nữ. Một thiếu nữ tóc đen phụng sự Đại mẫu thần, đồng thời cũng là con gái của ma thuật sư cung đình Phất Lôi Mỗ... (Tại sao lại thành ra thế này?) Để trấn an tâm trạng đập thình thịch dữ dội, Sử Phái Khắc ngước nhìn bầu trời đêm tìm chòm sao từ nãy đến giờ, hoặc nhìn mặt trăng tưởng tượng ra vài bố cục, thế nhưng lại hoàn toàn không thành công.

Ni Tư hiện tại đang mặc một chiếc lễ phục màu đỏ nhạt. Mái tóc đen dài búi lên trên đầu, trông trưởng thành hơn bình thường rất nhiều. Bởi vì cô ấy tham gia bữa tiệc không phải với tư cách là thần quan của Đại mẫu thần, mà là với tư cách là con gái của ma thuật sư cung đình.

Người mời Sử Phái Khắc đến đây chính là cô ấy.

Cô ấy giống như đang đợi Sử Phái Khắc bước ra ngoài, sau đó liền nửa cưỡng chế ôm lấy tay Sử Phái Khắc, im lặng kéo cậu đến nơi này.

Rồi cứ thế đăm đăm nhìn Sử Phái Khắc với vẻ mặt vui vẻ.

Nhận ra ánh mắt như thế của cô ấy, khiến cho nhịp tim của Sử Phái Khắc không khỏi tăng tốc.

“Múa đẹp lắm đấy.” Ni Tư mỉm cười nói với Sử Phái Khắc như thế.

Bởi vì không phải ở nơi công cộng, thế nên ngữ điệu của cô ấy có chút nửa đùa nửa thật, mà Sử Phái Khắc cũng chẳng hề bận tâm.

Hai người bọn họ đã có thể ở bên nhau tự nhiên đến nhường này rồi cơ chứ.

“Dù có hơi hoang dã, nhưng lại vô cùng nhiệt huyết. Nữ quan mời anh múa cũng cứ say sưa nhìn anh mãi đấy. Giống như lúc vừa nãy muốn kéo anh đi vậy, cô ấy còn bày ra vẻ mặt hơi giận dỗi nữa chứ... Chắc là cô ấy vốn dĩ cũng muốn hẹn anh đấy.” “Đừng nói chuyện múa may nữa mà……” Sử Phái Khắc bắt đầu cảm thấy mặt nóng bừng lên.

“Dù có hơi say một chút, nhưng không ngờ em lại biểu diễn vũ đạo đó, còn vì thế mà gây ra náo động trong bữa tiệc……” “Công vương của công quốc Mã Mô bị lăng mạ, em cảm thấy đây là hành động đương nhiên thôi. Anh không dùng kiếm chém tên kỵ sĩ đó thì hắn ta phải tạ ơn trời đất rồi ấy chứ.” “Ni Tư?” Nghe thấy những lời mà Ni Tư bình thường không thể nào thốt ra, Sử Phái Khắc không khỏi kinh ngạc nhìn chằm chằm gương mặt cô ấy. Ngay sau đó cậu liền nhớ lại, Ni Tư trước đó cũng từng nói một câu như thế này một lần.

Đó là lần suýt chút nữa bị vài tên thanh niên tập kích trong con hẻm tối ở công đô. Lúc đó cô ấy đã sử dụng thần thánh ma thuật trừng trị nghiêm khắc những tên thanh niên đó.

Dù cô ấy có mục đích riêng của mình mới làm như vậy, thế nhưng Sử Phái Khắc vẫn luôn cho rằng Ni Tư sinh ra đã là thánh nữ, vậy mà vẫn không kìm được mà hoài nghi đôi mắt cùng đôi tai của chính mình.

Cậu cho đến nay vẫn cho rằng Ni Tư là một vị thánh nữ, nhưng cũng cảm thấy cô ấy là một thiếu nữ phù hợp với lứa tuổi.

Trong nội tâm của Sử Phái Khắc, hai suy nghĩ như vậy hoàn toàn không có điểm mâu thuẫn nào.

Ni Tư mỉm cười vui vẻ, buông mái tóc được búi lên xuống, sau đó liền giống như sực nhớ ra điều gì mà tựa trán vào ngực Sử Phái Khắc, đồng thời thả lỏng toàn thân dựa vào người cậu.

Sử Phái Khắc vội vàng ôm lấy cơ thể mảnh mai của cô ấy.

Sử Phái Khắc lại một lần nữa nhớ ra, hiện tại hai người bọn họ đang ở một mình dưới bầu trời đêm, và vì thế cậu lại một lần nữa căng thẳng đến mức cứng đờ cả người.

Đúng lúc này Ni Tư bỗng nhiên ngẩng đầu lên.

Gương mặt của đối phương ở ngay sát bên.

“Sử Phái Khắc……” Ni Tư khẽ nói như thế, đồng thời từ từ đưa mặt sát lại gần. Lúc này cô ấy cũng đã nhắm mắt lại, và khẽ khép đôi môi của mình.

Môi của Sử Phái Khắc và Ni Tư khẽ chạm vào nhau. Sử Phái Khắc do dự trong chốc lát, rồi nhẹ nhàng nâng má Ni Tư lên để giữ khoảng cách giữa hai người.

“Chẳng lẽ em say rồi sao?” Vào khoảnh khắc đôi môi chạm vào nhau, có thể cảm nhận được thoang thoảng mùi hương của rượu vang.

“Em không say, chỉ là uống chút rượu thôi. Tối nay mẹ không có nhà, bố cũng về rất sớm, cho nên có rất nhiều nam sinh mời em uống rượu……” Sử Phái Khắc biết cô ấy nói thế tức là đã say rồi, nhưng cậu không nói ra điều đó.

Cậu chỉ bảo Ni Tư nên quay về thôi.

“Sử Phái Khắc anh thật là ngốc nghếch, em chính là vì muốn đợi anh, cho nên mới ở lại bữa tiệc đến tận cùng đấy chứ. Bằng không thì em đã sớm cùng bố về nhà rồi.” “Vì muốn đợi anh?” Sử Phái Khắc kinh ngạc hỏi ngược lại.

“Thế nhưng nếu muốn ở một mình, thực ra còn rất nhiều cơ hội mà……” “Cho nên mới nói anh ngốc mà. Lễ hội, tiệc tùng hoặc rượu có thể khiến con người ta trở nên hưng phấn, sẽ vì thế mà có dũng khí làm vài chuyện bình thường không dám làm, hoặc nói vài câu bình thường không dám nói.” Ni Tư bất mãn nói như thế, đồng thời ném ánh mắt hoài nghi về phía Sử Phái Khắc.

“Anh nghĩ về em thế nào? Em đã mười lăm tuổi rồi, độ tuổi này thậm chí đã có thể sinh con rồi đấy……” “Em hỏi anh nghĩ thế nào thì anh…” Câu hỏi bất thình lình này khiến Sử Phái Khắc có chút luống cuống. Thế nhưng câu hỏi này cậu cũng không biết đã tự hỏi bản thân bao nhiêu lần rồi.

“Anh cảm thấy em là một người rất đặc biệt... Anh không thể chỉ ôm ấp tình cảm thích hay yêu đối với em, bởi vì anh cũng rất tôn kính và tín nhiệm em... Thế nhưng nếu chỉ là thích, chúng ta lẽ ra phải càng tự nhiên hơn mới đúng chứ? Tỷ như hoàn toàn không cần bất cứ lý do gì, rất tự nhiên đã hy vọng có thể ôm chặt lấy nhau đại loại thế chứ……” “…… Nghe thấy những lời này em yên tâm rồi.” Ni Tư đặt tay lên ngực, rồi khẽ thở phào một hơi.

“Đối với em mà nói, điều này còn khiến em vui mừng hơn là việc chỉ nói thích em. Bởi vì em cũng xem Sử Phái Khắc là một sự tồn tại đặc biệt……” “Ni Tư cũng vậy sao?” Sử Phái Khắc kinh ngạc hỏi ngược lại.

“Em rất tín nhiệm anh, cũng rất tôn kính anh. Có lúc sẽ phiền anh giúp đỡ, có lúc cũng hy vọng có thể giúp được anh. Thế nhưng tình cảm như thích hay yêu, kỳ thực cũng tồn tại trong lòng em đấy.” “Anh đương nhiên cũng có tình cảm này rồi.” Sử Phái Khắc vội vàng dùng sức gật đầu.

“Em cho rằng thấu hiểu đối phương cũng là một hình thức của tình yêu, nhưng hình thức của tình yêu đương nhiên không chỉ có một loại……” Ni Tư cứ thế nói tiếp.

“Tỷ như rất tự nhiên sẽ ở bên nhau, đây hẳn là mối quan hệ nam nữ vô cùng tự nhiên nhỉ. Nói với nhau những chủ đề mình thích, cũng sẽ muốn thử biểu đạt thật chân thực tình cảm của mình cho đối phương.” “Đại khái giống như bạn bè rất thân, hoặc giống như quan hệ anh em nhỉ?” Nghe những lời này của Ni Tư, Sử Phái Khắc cứ thế lầm bầm một mình.

Hóa ra đây cũng là quan hệ nam nữ sao, cậu thực sự vô cùng cảm thán. Mà cậu cũng vì thế mà nhận thức lại rằng, bản thân thực sự rất xa lạ với những chuyện thế này.

(Kỳ thực em đang nói chuyện giữa anh và người đó đấy...) Nhìn thấy phản ứng của Sử Phái Khắc, Ni Tư không khỏi nở nụ cười khổ.

Trong mắt người khác nhìn vào, cậu có một người bạn khác giới vô cùng tốt.

“Hình thức của tình yêu còn có một loại khác……” Ni Tư vừa nói vừa rời khỏi vòng tay của Sử Phái Khắc, sau đó giống như đang đợi câu trả lời, lặng lẽ nhìn chằm chằm gương mặt của vị công vương trẻ tuổi công quốc Mã Mô.

“Anh không nghĩ ra……” Dù suy nghĩ một lúc lâu, nhưng Sử Phái Khắc hoàn toàn không có chút manh mối nào.

Mà đồng thời cậu cũng đưa ra kết luận rằng bản thân chỉ có thể yêu người khác theo cách của chính mình mà thôi. Dù có vẻ hơi vụng về, nhưng chỉ cần chân thành yêu Ni Tư, chắc là sẽ không có vấn đề gì đâu.

Sử Phái Khắc cảm thấy sự hoài nghi của mình hình như đã biến mất, thế là cậu cứ thế vươn hai tay ra, hy vọng có thể ôm lấy Ni Tư một lần nữa.

Thế nhưng Ni Tư lại không đáp lại cậu.

Dù nhìn không rõ lắm, nhưng trong ánh sáng mờ ảo được chiếu rọi bởi trăng sao, trên người cô ấy dường như có một bầu không khí bi thương.

Sử Phái Khắc thấy thế không khỏi khựng tay lại. Bởi vì sự bi thương của cô ấy không phải vì muốn cầu cứu, mà giống như đang tiêu cực từ chối một số thứ trên người mình.

Thế nên Sử Phái Khắc chỉ đành đợi Ni Tư nói tiếp.

“Bất chấp tất cả những thứ khác, thậm chí dù thế giới có bị hủy diệt đi chăng nữa cũng mặc kệ, một thứ tình yêu kịch liệt. Đây chính là một hình thức tình yêu khác……” Ni Tư dùng ngữ điệu giống như đang ngâm thơ nói như thế, đồng thời ném ánh mắt hoài nghi về phía Sử Phái Khắc một lần nữa.

“Anh nên nói thế nào đây…… thổn thức đáp lại.

“Dù cái này rất tồi tệ, nhưng đây có lẽ có thể gọi là hình thức tối cực của tình yêu cũng nên. Tình yêu dù phải hy sinh tất cả mọi thứ cũng mong muốn được hòa làm một. Chỉ là em không làm được đến mức độ này……” Dù không muốn thừa nhận tình yêu như thế, thế nhưng có thể yêu một người đến cảnh giới này, xét theo một khía cạnh nào đó thực sự rất lợi hại.

Nếu tình cảm của bản thân cũng kịch liệt như thế, có lẽ cậu sẽ không hoang mang với Ni Tư như thế này đâu.

“Thế nhưng em không cho rằng tình yêu này sẽ tồn tại ở hiện thực. Dù con người tuyệt đối không phải sinh vật lý tính, nhưng cũng sẽ không cảm tính đến mức độ này đâu.” “Anh sai rồi.” Ni Tư lập tức đáp lại.

Ngữ điệu kiên định như thế, thậm chí khiến Sử Phái Khắc cảm nhận được một luồng áp lực.

“Từ rất lâu về trước có một đôi nam nữ, vì để tình yêu của hai người có thể tồn tại vĩnh cửu, mà không tiếc hủy diệt thế giới này. Hơn nữa đôi nam nữ đó cho đến tận bây giờ, vẫn còn sinh tồn trên thế giới này……” “Cái này thì tuyệt đối không thể nào. Bởi vì con người đều số mệnh phải chết.” Sử Phái Khắc vội vàng phủ nhận lời của Ni Tư.

Thế nhưng sở dĩ cậu làm vậy, chính là vì cảm nhận được lời của Ni Tư che giấu sự thật. Bản năng tuyệt đối không được phép thừa nhận suy nghĩ này trong lòng cậu, đã đưa ra câu trả lời phủ định như thế.

“Tín đồ cao cấp nhất phụng sự một nữ thần nào đó, có thể tụng niệm một loại chú văn gọi là ‘Chuyển trung’. Người tụng niệm chú văn này cho dù có mất đi sinh mệnh, linh hồn cũng có thể chuyển dời sang một đứa trẻ sơ sinh khác để chuyển sinh một lần nữa. Đôi nam nữ đó cứ thế sống trong thời gian vĩnh cửu, tất cả những điều này đều là vì có thể yêu nhau, cũng như vì để hủy diệt thế giới này……” “Vì để hủy diệt thế giới?” Nghe xong lời này của Ni Tư, Sử Phái Khắc chỉ liên tưởng đến được một cái tên.

“Phá hoại nữ thần Ca Đề Tư……” “Chính là như thế. Đôi nam nữ đó chính là tế ti cao cấp và tế ti tối cao của Phá hoại nữ thần Ca Đề Tư. Nam tế ti cao cấp tên là Phí Á Nặc Tư, còn nữ tế ti tối cao chính là ‘Nữ vương của kẻ chết’ Na Ni Nhĩ. Mà sự chuyển sinh của người phụ nữ đó chính là em……” Ni Tư nói đến đây, giống như không nhịn được mà cúi đầu xuống.

“Em là... sự chuyển sinh của tế ti tối cao Phá hoại nữ thần……” Những lời mang tính chấn động của Ni Tư, khiến giọng nói của Sử Phái Khắc không khỏi trở nên khàn đặc.

“Không chỉ là sự chuyển sinh đơn thuần. Em và cô ta sở hữu cùng một linh hồn, thậm chí còn kế thừa ký ức của cô ta, gọi là bản thân Na Ni Nhĩ cũng không quá đáng đâu.” Ni Tư giống như đã chuẩn bị tâm lý từ trước, ngẩng đầu lên nói tiếp.

“Nhưng em lại là đứa con do thầy Sử Lôi Nhân và tế ti tối cao của Đại mẫu thần - ‘Vĩ đại’ Ni Tư sinh ra mà. Tại sao lại kế thừa linh hồn tà ác như thế chứ?” “Tà ác... linh hồn sao……” Khóe môi Ni Tư hiện lên nụ cười nhạt lạnh lùng, rồi cứ thế ngước nhìn bầu trời đêm.

“Chuyện này nói rất dài dòng……” Ni Tư dùng câu mở đầu này để bắt đầu nói.

“Phí Á Nặc Tư và Na Ni Nhĩ, tuân theo tín ngưỡng của Phá hoại nữ thần, liên tục tiếp diễn cuộc chiến muốn hủy diệt thế giới. Thế nhưng cuộc chiến mà họ dốc sức vào, lại bị những người không muốn thế giới bị hủy diệt ngăn cản và liên tục thất bại. Đặc biệt là giáo đoàn Sáng tạo nữ thần Mã Pháp chính là đại diện trong số đó. Phí Á Nặc Tư và Na Ni Nhĩ không biết đã bỏ mạng bao nhiêu lần, nhưng lần nào cũng chuyển sinh ở những nơi khác nhau, và châm ngòi cho chiến tranh mới một lần nữa……” Đó là thời điểm thống trị của vương quốc ma thuật Ca Tư Đồ Nhĩ kết thúc, thế giới bắt đầu bước vào thời đại của kiếm, giáo đoàn Phá hoại nữ thần thừa cơ hỗn loạn càn quét đảo Lôi Đức Tư.

Mã Mô và Ca Nông v.v. thê thảm bị giày xéo, tín đồ của Phá hoại nữ thần thậm chí còn tiến công đến tận thánh địa của giáo đoàn Mã Pháp là dãy núi Bạch Long.

Lúc này xuất hiện một vị anh hùng cùng một vị thánh nữ.

Tên của vị anh hùng là Ca Đức Mộ Tư, chiến sĩ sau này trở thành vua lập quốc Á Lạp Ni Á, mà tên của thánh nữ tuy không được mọi người biết đến, nhưng lại là tế ti cao cấp của giáo đoàn Mã Pháp.

Hai người hợp tác bắt được Na Ni Nhĩ nhưng không giết cô ta, mà phong ấn linh hồn của cô ta lại. Dù thánh nữ vì thế mà phải trả giá bằng sinh mệnh của mình, nhưng thử thách này cuối cùng cũng thành công.

“Na Ni Nhĩ bị phong ấn, trong hơn bốn trăm năm nay chưa từng xuất hiện lại ở Lôi Đức Tư. Thế nhưng trận động đất lớn ở dãy núi Bạch Long sau chiến tranh Ma thần, lại khiến cho phong ấn này bị phá vỡ……” Na Ni Nhĩ tuy hồi sinh, nhưng vẫn chưa hoàn toàn sống lại.

Mà Na Ni Nhĩ lúc đó, lại bị kẻ trộm mộ đột nhập vào ngôi mộ phong ấn — tức là các nhà mạo hiểm đánh bại.

Cứ như thế ma thuật chuyển sinh lại phát động lần nữa, khiến linh hồn của Na Ni Nhĩ chuyển dời sang một đứa trẻ sơ sinh thuần khiết.

“Mà đứa trẻ sơ sinh đó, chính là mẹ em — Lôi Lị Á……” Thế nhưng linh hồn Na Ni Nhĩ chuyển dời sang người Lôi Lị Á, lại không thể phát huy bản tính tà ác của cô ta. Bởi vì người tiếp nhận đứa trẻ sơ sinh này và nuôi dưỡng thành người, chính là thánh nữ được mệnh danh là ‘Con gái yêu của Đại mẫu thần’ - Ni Tư.

Ni Tư vĩ đại đã nuôi dưỡng đứa trẻ này bằng tình yêu thương vô bờ bến, để đứa trẻ này trưởng thành với linh hồn ban đầu của mình, chứ không bị linh hồn của Na Ni Nhĩ chiếm giữ.

Do đó linh hồn của Na Ni Nhĩ, rốt cuộc cũng không thức tỉnh trong thể xác của Lôi Lị Á.

“Dù có thể nói là sự trùng hợp bi thảm, nhưng năm mẹ mười bảy tuổi, đã bị ma thuật sư vương quốc cổ đại mang tên ‘Người áo xám’ cướp đi thể xác và tâm trí. Còn người giải cứu mẹ lại là tự do kỵ sĩ Phan Ân, thiếu nữ vĩnh cửu Đề Đức Lị Đặc, thần quan vương vương quốc thần thánh Phạt Lợi Tư - Ai Đặc, chiến sĩ tộc người lùn Cát Mộc, bố Sử Lôi Nhân cùng chú U Mộc. Mẹ Lôi Lị Á tuy muốn dùng sinh mệnh của mình để đền bù cho tội lỗi mà mình đã phạm phải khi làm ‘Người áo xám’, thế nhưng lại bị bố Sử Lôi Nhân ngăn cản, và quyết định cùng nhau chuộc tội bằng một phương thức khác, đó chính là khiến cho Lôi Đức Tư chiến loạn có được hòa bình trở lại……” Bố Sử Lôi Nhân để thực hiện lời hứa này, sau đó liền phụng sự vua Phất Lôi Mỗ Tạp Tu, cống hiến trí tuệ và ma thuật của mình để mang lại dấu chấm hết cho chiến tranh.

“Sau đó họ đã sinh ra em. Em là con gái ruột của bố Sử Lôi Nhân và mẹ Lôi Lị Á, thế nhưng linh hồn ở trong cơ thể em, lại là ‘Nữ vương của kẻ chết’ đang ngủ say trong cơ thể mẹ……” “Cái, cái này sao có thể chứ!” Sử Phái Khắc kích động vung tay kêu lên.

“Ni Tư có chỗ nào tà ác chứ? Rất nhiều người gọi em là thánh nữ, nhưng tuyệt đối không có ai gọi em là ma nữ cả. Em sao có thể là sự chuyển sinh của tế ti tối cao Phá hoại nữ thần chứ!” “Đây không phải là đang nói dối, em quả thực là Na Ni Nhĩ chuyển sinh, cho nên mới trở thành ‘cánh cửa’ khiến Phá hoại nữ thần Ca Đề Tư hồi sinh. Cũng chính vì chuyện quá khứ không nỡ nhìn lại này, mới khiến em hoàn toàn nhớ lại ký ức trước kia của Na Ni Nhĩ……” “Nhưng em là thị tế của Đại mẫu thần Mã Pháp, không phải là sứ đồ của Phá hoại nữ thần đâu! Cho dù em sở hữu ký ức của Nữ vương của kẻ chết……” Sử Phái Khắc túm lấy bả vai Ni Tư chất vấn dồn dập, đôi tay cũng tự nhiên tăng thêm lực.

Cơn đau khiến Ni Tư hơi nhíu mày, nhưng cô ấy không truyền đạt điều đó cho Sử Phái Khắc biết. Bởi vì việc tiếp xúc dùng sức như thế này, ngược lại khiến cô ấy cảm thấy an tâm hơn.

“Đó là bởi vì em không được sinh ra bằng chú văn chuyển sinh, mà là được sinh ra bằng phương thức tự nhiên. Linh hồn trong cơ thể em chỉ có một, chỉ có linh hồn của Nữ vương của kẻ chết Na Ni Nhĩ mà thôi. Đây chính là em…… là linh hồn của đứa con gái do Sử Lôi Nhân và Lôi Lị Á sinh ra.” Sử Phái Khắc cứ thế túm lấy bả vai Ni Tư, lắc đầu liên hồi như thể muốn phủ nhận tất cả mọi thứ.

“Bất kể linh hồn thế nào... em vẫn là chính em mà! Đã vậy thì không có vấn đề gì cả…… Ngay từ đầu đã không hề có bất kỳ vấn đề gì……” Sử Phái Khắc giống như không biết nên nói gì, cứ lặp đi lặp lại mấy câu này. Đồng thời cậu cũng tự hỏi bản thân, để xác nhận rằng bản thân quả thực có tâm ý này.

“Đúng vậy, em chính là em. Thế nhưng ký ức quá khứ trong lòng em cũng là thật. Ký ức Nữ vương của kẻ chết không ngừng chiến đấu để hủy diệt thế giới. Trong ký ức cũng có cả người nam nhân thề ước yêu nhau vĩnh cửu đó……” “Anh không hiểu, tại sao phải vì tình yêu mà hủy diệt thế giới? Nếu thế giới hủy diệt, thì tình yêu này chẳng phải cũng sẽ bị tiêu diệt cùng nhau hay sao?” “Anh sai rồi……” Ni Tư dùng giọng điệu lạnh lùng phủ nhận lời này của Sử Phái Khắc.

“Thế giới bắt đầu bằng cái chết của Cự nhân thủy nguyên, và kết thúc bằng sự ra đời của Cự nhân chung yên……” “Một đoạn trong thần thoại sáng thế……” Nghe Ni Tư nói như đang ngâm thơ, Sử Phái Khắc chỉ nhíu mày rồi gật đầu.

“Đúng vậy. Mà Cự nhân chung yên sau khi trải qua năm tháng đằng đẵng, sẽ trở thành Cự nhân thủy nguyên của thế giới tiếp theo. Thế giới chính là lặp đi lặp lại vô tận như thế. Phá hoại nữ thần, cùng những thứ ‘dẫn dắt sự hủy diệt thế giới’ khác, thực ra không hề sinh ra từ Cự nhân thủy nguyên, mà thuộc về một phần của Cự nhân chung yên, bọn chúng từ tương lai xa xôi quay về hiện tại để hủy diệt thế giới này. Bọn chúng có ước định với Cự nhân chung yên, khi thế giới bị hủy diệt, đồng thời thế giới tiếp theo được sinh ra nhờ cái chết của cự nhân, bọn chúng sẽ có thể tái sinh một lần nữa. Tỷ như Phá hoại nữ thần Ca Đề Tư, nói không chừng cũng sẽ trở thành Nữ thần sáng thế của thế giới tiếp theo, mà tín đồ của Phá hoại nữ thần cũng vì thuộc về Cự nhân chung yên, cho nên có thể tiếp tục chuyển sinh ở thế giới tiếp theo……” Ni Tư dùng ngữ điệu đè nén cảm xúc biểu thị rằng, Phí Á Nặc Tư và Na Ni Nhĩ ước định không chỉ thế giới hiện tại này, bọn họ sẽ yêu nhau vĩnh cửu ở cả thế giới tiếp theo nữa, cho nên mới trở thành thuộc hạ của Cự nhân chung yên.

“Mà đợi đến khi thế giới tiếp theo tới, bọn chúng có lẽ sẽ tiếp tục thuộc về Cự nhân chung yên tiếp theo. Bởi vì chỉ cần thế giới không ngừng bị hủy diệt, hai người có thể duy trì tình yêu vô tận, trốn tránh vận mệnh ‘cuối cùng cũng phải chết’ của con người. Dù đã không còn ký ức, nhưng nói không chừng hai người này — em và Phí Á Nặc Tư đã tồn tại từ thế giới trước đó rồi, thậm chí sinh tồn cho đến tận bây giờ từ những thế giới xưa cũ hơn rất nhiều……” Sử Phái Khắc thẫn thờ buông bả vai Ni Tư ra, cứ thế ngồi lên phiến đá chất đống ở bên cạnh.

Đột nhiên nghe thấy những lời này, bảo cậu lập tức tin tưởng có lẽ là chuyện vô cùng khó khăn. Thế nhưng những điều này đều do chính miệng Ni Tư nói ra, cho nên tuyệt đối không thể nào là một lời nói dối được.

Thế giới vốn dีกđược cho là tựa như giấc mộng khi cự nhân của sự khởi nguyên và tận cùng đang chìm vào giấc ngủ. Do quá mức hoàn mỹ, cự nhân đành phải chịu đựng sự cô độc. Thế giới trong mộng tuy không hoàn toàn nhưng lại vô cùng đa dạng. Dẫu cho vạn vật trong đó đều bắt nguồn từ cự nhân và rồi cũng sẽ quay về với cự nhân... Dẫu thừa nhận đây không phải là lời nói dối, nhưng đối với Sử Phái Khắc, những lời này của Ni Tư thật sự vượt ngoài thực tế, hắn hoàn toàn không thể lập tức lĩnh hội được hàm ý bên trong. Những thứ như thế giới của trước kia hay thế giới của sau này, điều đó đã vượt xa khỏi cảnh giới mà người phàm có thể biết.

Chính vì thế, Sử Phái Khắc chỉ chấp nhận một sự thật ở trong lòng.

Ni Tư ở vô hạn kiếp trước từng có một người yêu thương sâu sắc. Hơn nữa người này hiện tại, phỏng chừng cũng đã chuyển sinh đến thế giới này rồi.

"Em đã nằm mơ vào vài ngày trước khi cuộc hành trình này xuất phát, giống hệt như lúc được Hướng đạo sinh ám muội triệu hồi trước kia, một giấc mơ chân thực đến lạ... Trong mơ, em đã nhìn thấy một thiếu niên tóc đỏ. Em cũng biết cậu ấy chính là chuyển sinh của Phê Áo Ni Tư..." Ni Tư khẽ nói như vậy, tựa như đã thấu tỏ nội tâm của Sử Phái Khắc vậy.

"Thảo nào em lại tham gia chuyến hành trình lần này..." Đối với câu hỏi của Sử Phái Khắc, Ni Tư run rẩy bờ vai rồi gật đầu.

"Em rất sợ... Bởi vì em nhận ra bản thân nhìn thấy cậu ấy trong mơ, vậy mà lại có cảm giác hoài niệm đến thế, hơn nữa lại cảm giác vui mừng đến vậy..." "Cho nên đến nay em vẫn yêu cậu ấy phải không?" Sử Phái Khắc cần phải có dũng khí rất lớn mới hỏi ra được câu hỏi này. Thế nhưng suy cho cùng, đây cũng là vấn đề bắt buộc phải đối mặt.

"Em không biết... Hiện tại em vẫn chưa thể đồng tình với thứ tình yêu sẵn sàng bất chấp tất cả dẫu cho có hủy diệt thế giới này. Linh hồn em dẫu là Nữ hoàng của kẻ chết, nhưng lại là đứa con gái do cha mẹ sinh ra một cách tự nhiên và được nuôi dưỡng lớn lên. Em trở thành bề tôi của Nữ thần Đất Mẹ Mã Pháp, cũng có thể tiếp xúc với ý chí của thần. Thế nhưng trong lòng em vẫn có một thứ tình cảm yêu mến không tiếc để thế giới tiêu vong. Và vẫn có một người khác giới không cần lý do, nhưng linh hồn lại hút lấy lẫn nhau đang gọi mời đối phương. Nếu như gặp lại người đó, nói không chừng em sẽ khôi phục lại thành Na Ni Nhĩ của trước kia..." Ni Tư ôm lấy bả vai mình, biểu thị rằng điều nàng sợ nhất chính là kết quả như vậy.

Sử Phái Khắc thầm nghĩ nhất định phải khiến một người như nàng cảm thấy an tâm. Thế nhưng bản thân hắn lại giống như thân tâm đều đã đông cứng lại, đến cử động cũng không thể cử động nổi.

Tâm ý cho rằng Ni Tư là sự tồn tại đặc biệt đối với mình tuyệt đối là sự thật. Thế nhưng hiện tại hắn cũng không biết đây có phải là tình yêu hay không.

Không cần bất kỳ lý do nào, tình yêu khiến linh hồn có thể hút lấy nhau, quả thực là một thứ tình yêu chân thực. Sử Phái Khắc cũng biết bản thân không thể thể hiện ra loại tình yêu như thế.

Không chỉ vậy, hắn thậm chí còn không thể khiến bản thân chỉ hành động dựa vào dục vọng. Ni Tư nói không chừng vẫn luôn hy vọng bản thân có thể làm như vậy... Nếu như trở thành mối quan hệ không chỉ gắn kết tâm hồn, có lẽ tình yêu sẽ trở nên xác thực hơn. Chính vì thế, Ni Tư mới mượn hơi men để mời Sử Phái Khắc đến nơi này.

Thế nhưng, việc Ni Tư làm như vậy không chỉ để trốn tránh đối tượng được gọi là nhân duyên tiền định xuất hiện trong giấc mơ.

Nàng từng nói Sử Phái Khắc là sự tồn tại đặc biệt đối với nàng, Sử Phái Khắc lúc này cũng đã tin tưởng lời nói ấy, đồng thời cũng biết đây là một hình thức tình yêu khác.

"Cho nên em căn bản không phải là thánh nữ gì cả. Dù cái thể xác này vẫn chưa từng tiếp xúc với khác giới, nhưng ở trong lòng em, lại có vô số ký ức yêu đương giữa Phê Áo Ni Tư và Na Ni Nhĩ..." Nói đến đây, Ni Tư liền xoay người quay lưng về phía Sử Phái Khắc như thể không thể chịu đựng nổi, hai tay che mặt và bờ vai khẽ run lên.

Khoảnh khắc nhìn thấy dáng vẻ ấy của nàng, Sử Phái Khắc tựa như được giải thoát khỏi xiềng xích, tự nhiên cử động.

Hắn ôm lấy thân hình nhỏ nhắn của Ni Tư từ phía sau, áp má lên mái tóc đen mượt mà của nàng.

"Người đàn ông dù có hủy diệt thế giới để yêu nhau cũng không hề gì, ta tuyệt đối sẽ không giao Ni Tư cho hắn. Chỉ là ta không hy vọng vì lý do như vậy mà vội vã tiến triển mối quan hệ giữa chúng ta. Chúng ta cứ ở bên nhau như bình thường là được. Nhưng những lời vừa rồi của em đã khiến ta bừng tỉnh đại ngộ, ta không đơn thuần là thích em trên phương diện lý trí. Dù lý do khiến ta thích em thực sự có quá nhiều, thế nhưng hiện tại những lý do đó đều không còn quan trọng nữa, bây giờ trong đầu ta chỉ có thể nghĩ đến chuyện về em..." Sở dĩ Sử Phái Khắc luôn hành xử bằng lý trí là để kìm nén bản thân quá mức cảm tính. Hắn vốn dĩ là một người mang tình cảm mãnh liệt như thế.

"Nhưng thứ ta hy vọng cũng không phải là tình yêu được lựa chọn chỉ dựa trên tình cảm của riêng mình. Người ta muốn yêu còn phải là một vị hiền thê sẽ trở thành Công phi Phất Lôi Mỗ, vì quốc gia mà suy nghĩ và yêu thương nhân dân. Hơn nữa ta tin rằng em thích hợp hơn bất kỳ ai..." Ni Tư đặt tay lên cổ tay Sử Phái Khắc đang ôm lấy mình, cứ thế lặng lẽ rơi lệ một lúc lâu, sau đó mới chậm rãi nói tiếp.

"Em bây giờ cũng hy vọng như vậy. Không làm công phi cũng không sao, em chỉ hy vọng trở thành trợ thủ của anh. Hy vọng có thể khiến nhiều người hạnh phúc hơn nữa. Em tuyệt đối không muốn có được thứ tình yêu chỉ mang lại đau khổ cho người khác..." Sau đó, Ni Tư khẽ hôn lên cánh tay rắn chắc của Sử Phái Khắc, rồi xoay người lại, thẹn thùng áp sát khuôn mặt lại gần.

"Em muốn dựa dẫm vào sự kiên cường và dịu dàng của Sử Phái Khắc... Lúc trước, anh đã không màng vi phạm vương mệnh, bất chấp hiểm nguy để cứu em ra ngoài. Chính vì thế em mới có thể cự tuyệt Nữ thần Hủy Diệt và lựa chọn Nữ thần Sáng Tạo..." Ni Tư dùng giọng nói nhỏ nhẹ nói như vậy, sau đó liền cùng Sử Phái Khắc trao nhau nụ hôn.

Ánh trăng của đất nước sa mạc dịu dàng phủ lên đôi nam nữ trẻ tuổi.

Hai chiếc bóng hòa làm một, cứ thế mãi không tách rời...

Ⅳ

Ngày thứ hai sau bữa tiệc tổ chức tại vương cung, Quốc vương Phất Lôi Mỗ - Tạp Tu liền dẫn dắt kỵ sĩ đoàn, lên đường thảo phạt Tả Tẩu trong sa mạc.

Lấy các kỵ sĩ thủ vệ vương thành làm trung tâm, khoảng một trăm kỵ sĩ đã được tuyển chọn. Cung đình ma pháp sư Sử Lôi Nhân cùng nữ tế ti Hạ Lị của đền thờ Mạch Lý cũng đi cùng.

Về phần Sử Phái Khắc, ngoại trừ Lai Na thì tất cả đồng đội đều gia nhập đội thảo phạt. Sở dĩ Lai Na không tham gia là vì cô ấy có việc phải đến đường Bố Lôi Đức để gặp một người. Người này hẳn có liên quan đến hội đạo tặc, cho nên Sử Phái Khắc cũng không hỏi thêm nhiều.

Đội ngũ thảo phạt từ vương đô đi vào sa mạc Gió và Lửa, sau đó dọc theo tuyến đường mậu dịch tiến vào thành thị ốc đảo Hách Văn.

Đến đây đã mất năm ngày. Tạp Tu quyết định lưu lại thành thị ốc đảo hai ngày để hồi phục thể lực sau chuyến hành trình sa mạc, đồng thời cũng thu thập tình báo liên quan đến ma vật.

Giờ đây, Tạp Tu cùng các nhân vật chủ chốt của đội thảo phạt đang tiến vào nội thành nơi lãnh chủ Hách Văn sinh sống để dùng bữa và tiến hành hội nghị quân sự.

"...Quái vật xuất hiện ở ngay phía trước cách đó không xa. Chúng dường như hành động theo bầy đàn, và không có địa điểm tập kích cố định. Hiện tại sa mạc này đã bị cấm qua lại, nhưng các thương đoàn bọn họ vẫn phải sinh sống." Tạp Tu biểu thị con đường mậu dịch không thể cứ tiếp tục phong tỏa như vậy được.

Thành thị ốc đảo Hách Văn vốn là căn cứ địa của Viêm chi bộ tộc. Trước Chiến tranh Anh hùng, họ đã bại dưới tay kỵ sĩ đoàn Phất Lôi Mỗ do Tạp Tu dẫn dắt và buộc phải rút khỏi nơi này, thế nhưng sau Chiến tranh Anh hùng, nhờ vào sức mạnh của thần hộ mệnh bộ tộc là "Ma thần Lửa" Y Phất Lợi Đặc, Viêm chi bộ tộc mới có thể đoạt lại nơi này một lần nữa.

Sau đó trải qua thêm mấy trận chiến, hai dân tộc sa mạc cuối cùng cũng chấm dứt nhiều năm chiến tranh và hòa giải với nhau.

Khi đó họ quyết định lấy Hách Văn làm nơi sinh sống của Viêm chi bộ tộc, và tình trạng này vẫn kéo dài cho đến nay. Người mang địa vị lãnh chủ cũng là Bá tước Á Khố Ba xuất thân từ Viêm chi bộ tộc, hiện tại ông ta cũng tham gia hội nghị quân sự lần này.

Đội hộ tống thương đoàn bị tiêu diệt hoàn toàn trước đó, chính là một kỵ sĩ dưới trướng ông ta cùng tùy tùng của người đó. Nói cách khác chính là người của Viêm chi bộ tộc.

Mặc dù với tư cách là tộc trưởng của bộ tộc, Sử Phái Khắc rất đau buồn vì chuyện này, nhưng hắn không vì thế mà căm hận Tả Tẩu thêm chút nào.

Dù xuất thân thế nào, sự thật về việc nhân dân Phất Lôi Mỗ hy sinh là không thể thay đổi. Hơn nữa kể từ khi hiểu chuyện, hắn đã biết Tả Tẩu là một loài ma vật nguy hiểm, và nó vẫn luôn tồn tại xung quanh chúng ta.

Chỉ cần không đến gần nơi cư trú của chúng, hầu như sẽ không bị chúng tập kích. Ngoài ra, loài sinh vật xảo quyệt như Tả Tẩu này, tuy sẽ phản ứng với một chút chấn động nhỏ và hành động tích cực, nhưng đối với những chấn động tương đối mạnh, chúng lại có đặc tính né tránh.

Cho nên chỉ cần là đông người hành động theo nhóm, mức độ nguy hiểm sẽ cực kỳ thấp.

Mặc dù khái niệm đông người thực ra rất khó nắm bắt, nhưng trước kia hễ là đội ngũ khoảng ba mươi người hành động theo nhóm thì đều chưa từng ghi nhận trường hợp nào bị tập kích.

Á Khố Ba cũng rất hiểu tập tính này của Tả Tẩu, thế nên đã phái rất nhiều người chịu trách nhiệm hộ tống. Do mục đích không phải là thảo phạt ma vật mà chỉ để ngăn ma vật đến gần, cho nên binh lính được phái đi không phải là thành viên của đội ngũ tinh nhuệ.

Mặc dù vì thế mà dẫn đến kết quả tồi tệ nhất, nhưng Sử Phái Khắc không muốn trách cứ phán đoán sai lầm của ông ta, bởi vì đối với Viêm chi bộ tộc mà nói, cách làm như thế là lệ thường và thường thức cho đến nay.

Nói cách khác, tình trạng hiện tại hoàn toàn là ngoại lệ.

Lắng nghe toàn bộ tình báo xong, Sử Phái Khắc không khỏi cho rằng có lẽ Tả Tẩu đã xuất hiện bất thường gì đó.

Và Tạp Tu dường như cũng đưa ra phán đoán tương tự.

"...Bắt buộc phải tiêu diệt toàn bộ số Tả Tẩu di chuyển đến tuyến đường mậu dịch." Tạp Tu đảo mắt nhìn quanh mọi người rồi nói với giọng điệu kiên định.

Toàn bộ người có mặt đều sâu sắc gật đầu đồng tình với lời nói này của Quốc vương Tạp Tu.

"Hay là nhân cơ hội này quét sạch những ma vật cư trú trong sa mạc luôn đi?" Kỵ sĩ trẻ tuổi của Phong chi bộ tộc nhân cơ hội này kiến nghị.

Chính là thanh niên bị Sử Phái Khắc đấm một cú trong bữa tiệc trước đó.

Tên của cậu ta là Á Mạc Nhĩ, cũng là đệ tử của thị tộc có thế lực thuộc Phong chi bộ tộc, chưa tròn hai tuổi đã được bổ nhiệm làm kỵ sĩ đội trưởng.

"Không chỉ sa mạc, nếu có thể thảo phạt toàn bộ ma vật trong lãnh thổ Phất Lôi Mỗ, uy tín của vương quốc và danh tiếng của bệ hạ nhất định sẽ ngày càng vang dội hơn." Nghe Á Mạc Nhĩ nói vậy, mấy vị kỵ sĩ đội trưởng đều đồng ý đây là một đề xuất khá hay.

(Chuyện này hẳn là nhắm vào mình rồi đây.) Sử Phái Khắc cười khổ trong lòng.

Khi Phất Lôi Mỗ tiếp quản Mã Mô, từng phái người đi săn lùng ma thú và yêu ma cư trú gần các thôn làng, thế nhưng lại không thu được kết quả khả quan lắm, ngược lại còn khiến rất nhiều người hy sinh, nếu nói đây là thất bại cũng chẳng ngoa.

Nếu là để tiêu diệt ma thú ở chốn hoang vu rừng thẳm, phỏng chừng sẽ xuất hiện kết quả thê thảm hơn nữa. Muốn trục xuất hoàn toàn ma thú và yêu ma khỏi Mã Mô, trên thực tế có thể nói là chuyện bất khả thi.

Nhưng nếu giống như nửa năm trước, ma thú chạy đến nơi con người sinh sống làm loạn, thì đương nhiên là không thể không xử lý... Thế nhưng Sử Phái Khắc không có ý định chỉnh đốn lại phát ngôn của Á Mạc Nhĩ bọn họ. Bởi vì bản thân hắn khi quyết định ở lại Mã Mô, cũng từng có suy nghĩ giống y như cậu ta.

Quyết định trục xuất hoàn toàn bóng tối của Mã Mô.

Hắn giờ đây đã biết đây là chuyện bất khả thi. Không chỉ vậy, hắn thậm chí còn bắt đầu cho rằng suy nghĩ như thế căn bản là sai lầm.

Bởi vì bóng tối tồn tại ở Mã Mô có rất nhiều thứ đối với Mã Mô mà nói thực ra vô cùng tự nhiên. Dù không có ý định để Mã Mô mãi mãi là một hòn đảo hắc ám, nhưng hắn cho rằng Mã Mô thực sự không thể biến thành giống như bản đảo La Đức Tư được, hơn nữa cũng không cần phải hoàn toàn giống hệt bản đảo.

Mấy vị kỵ sĩ đội trưởng cứ thế tán đồng ý kiến của Á Mạc Nhĩ, thế nhưng Tạp Tu hay Sử Lôi Nhân, cùng một vài kỵ sĩ đội trưởng lớn tuổi dường như lại chẳng mấy quan tâm đến điều đó.

Đó là bởi vì họ từng tham gia chiến dịch săn lùng ở Mã Mô, và cực kỳ hiểu rõ kết quả sau đó phải không.

Na Uy nói chuyện tương lai sang một bên, điều quan trọng nhất hiện tại hẳn là con quái vật xuất hiện trên con đường mậu dịch nhỉ." Nam giới trung niên từng đảm nhận chức đội trưởng lính đánh thuê của quốc gia đô thị Mã Ni, nay đã là kỵ sĩ đội trưởng lên tiếng phát biểu, đồng thời đề nghị phải bắt đầu thảo luận về chiến lược tác chiến cụ thể.

"Chính là như vậy." Tạp Tu cũng rất đồng tình với đề xuất này. Đại khái là định phớt lờ ý kiến của kỵ sĩ đội trưởng trẻ tuổi kia đi thì phải.

Vì không biết quái vật ở đâu, cho nên có nên chia thành mấy tiểu đội để tiến hành tìm kiếm không..." Cảm thấy dường như đã bị gạt ra khỏi cuộc họp, Á Mạc Nhĩ liền vội vàng đưa ra ý kiến như vậy.

"Tôi đồng ý với ý kiến chia đội. Nhưng nếu chiến đấu với Tả Tẩu, không có mười người đối phó với một con thì sẽ cực kỳ nguy hiểm. Cho nên mỗi đội nên có bao nhiêu người lại là một vấn đề." Sử Phái Khắc chú ý đến phản ứng của các kỵ sĩ lớn tuổi, rồi hưởng ứng ý kiến của Á Mạc Nhĩ như vậy.

Thế nhưng Á Mạc Nhĩ lại lộ ra vẻ mặt khó chịu, dường như đã hiểu lầm ý của Sử Phái Khắc. Có lẽ việc ý kiến của mình bị bổ sung thêm khiến cậu ta không vui chăng.

(Thật là hết cách với cậu ta mà.) Không thể làm gì khác hơn, Sử Phái Khắc đã không muốn nói thêm gì nữa.

Hắn thậm chí còn bất an thầm nghĩ, tương lai nếu một kẻ như vậy nắm quyền thống trị bổn thổ Phất Lôi Mỗ thì phải làm sao đây.

Nhìn từ sự kiện trong bữa tiệc trước đó, Phong chi bộ tộc có vẻ như đã bị cô lập, trong khi Viêm chi bộ tộc và các kỵ sĩ xuất thân từ đô thị khác lại bắt đầu hợp tác... Làm thế nào để hợp nhất hai phái này lại, hẳn là đề tài quan trọng của Phất Lôi Mỗ trong tương lai.

(Cho nên Công quốc Mã Mô cũng không thể cứ mãi trở thành gánh nặng của bổn thổ được...) Hắn không muốn để Phong chi bộ tộc có cớ chỉ trích mình. Xem ra việc khiến những kẻ này cảm nhận được sự tồn tại của Công quốc là một mối đe dọa thì tốt hơn.

"Về loài sinh vật gọi là Tả Tẩu này, tôi có nghe ngóng được đôi chút tin tức và điều tra các tài liệu liên quan..." Lúc này, cung đình ma pháp sư Sử Lôi Nhân cất giọng đều đều quen thuộc mở lời trước.

"Nghe nói nơi này trước khi hai vị Tinh linh vương Gió và Lửa ký kết minh ước mà biến thành sa mạc, vốn dĩ là một vùng đất thảo nguyên. Dù nơi này không giống với bãi săn Hỏa Long ở phía tây, vốn dĩ là vùng đất tương đối khô hạn, tuy không phải là nơi không mọc nổi một ngọn cỏ, nhưng hẳn là cũng không thể nuôi dưỡng được những khu rừng rộng lớn." "Vậy điều anh muốn nói rốt cuộc là gì?" Tạp Tu khẽ nhíu mày nói.

Bởi vì lời nói này của Sử Lôi Nhân rất giống phong cách ăn nói của bậc hiền giả, tiền đề trước khi đi vào trọng tâm thực sự quá dài dòng.

"Chính là việc nơi này biến thành sa mạc tính đến nay thực ra cũng chỉ mới sáu trăm năm. Mà một số sinh vật đứng đầu là Tả Tẩu, liệu có phải đã cư trú ở vùng đất này từ trước đến nay không..." Sử Lôi Nhân đáp lại Tạp Tu như vậy, chỉ là nghe qua vẫn không giống như một kết luận.

"Tất cả sinh vật —— đương nhiên bao gồm cả con người —— đều vô cùng vĩ đại, có thể thích nghi với mọi sự biến đổi của môi trường để sinh tồn. Tả Tẩu nguyên thủy là ấu trùng của loài côn trùng bay khổng lồ, chúng ẩn nấp trong vùng cát khô hạn để săn mồi những sinh vật đi ngang qua. Sau đó trong mùa mưa vài năm mới có một lần, chúng sẽ cùng nhau hóa vũ và tiến hành sinh sản. Thế nhưng do nơi này biến thành sa mạc, khiến cho quanh năm hầu như không hề có mưa, thế nên ấu trùng không có cách nào hóa vũ, cứ thế dần dần giữ nguyên hình dáng ấu trùng mà biến đổi thành to lớn như thế này. Ấu trùng không hóa vũ sở hữu tuổi thọ gần như vô hạn, điều này có lẽ là do mùa mưa không xuất hiện theo chu kỳ chăng. Đại tự nhiên quả thực vô cùng đáng khâm phục. Điều này có lẽ là ý thần muốn để trên tất cả các vùng đất đều có thể sinh sống càng nhiều sinh vật càng tốt..." Nói đến đây, Sử Lôi Nhân liền gật đầu liên hồi như thể rất hiểu những gì mình vừa nói.

Rốt cuộc cậu muốn nói cái gì chứ?" Tạp Tu lần này lại lộ ra nụ cười khổ.

"Nói một cách khác chính là biết người biết ta trăm trận trăm thắng, và ngàn vạn lần không được sơ ý chủ quan. Xin Bá tước Hách Văn cũng hãy chọn ra mười người từ trong đội kỵ sĩ đi. Cứ như vậy tổng số người sẽ có khoảng một trăm hai mươi người, sau đó chia thành ba đội, mỗi đội bốn mươi người để tiến hành tìm kiếm. Nếu Tả Tẩu không dám đến gần, thì đổi thành nhóm ba mươi người chia thành bốn đội, vẫn không được thì chia hai mươi lăm người thành năm đội, thậm chí chia hai mươi người thành sáu đội. Do chia thành bảy đội thì số lượng người không thể chia đều, cho nên hy vọng trước bước đó có thể giải quyết được." Cách nói của Sử Lôi Nhân thực sự giống hệt như một bậc hiền giả.

Dù rằng đến cuối cùng, có lẽ cậu ta muốn đùa một chút, thế nhưng lại chẳng có ai cười nổi. Dù sao tổng số người của đội thảo phạt vốn dĩ không phải là một số chẵn, khi chia thành ba đội vốn dĩ đã không thể chia đều rồi, hơn nữa không phải số chẵn thì cũng chẳng phải vấn đề gì to tát lắm.

Mặc dù kết luận hoàn toàn không liên quan gì đến những gì đã nói trước đó, nhưng chúng ta cứ dùng cách làm như vậy đi. Vấn đề nằm ở chỗ ai sẽ đảm nhận chức đội trưởng của mỗi đội đây..." Nói xong, Tạp Tu liền đảo mắt nhìn quanh mọi người.

"Một trong các đội đương nhiên do ta dẫn đầu, cho nên vẫn còn lại hai đội. Đã yêu cầu đi cùng rồi, vậy thì giao một đội cho Công vương Mã Mô phụ trách đi." "Tại hạ rất vinh hạnh nhận nhiệm vụ này." Sử Phái Khắc lập tức đồng ý và hành lễ.

"Vì đây là vấn đề lãnh thổ thuộc quyền quản hạt của Bá tước Hách Văn, vậy đội còn lại xin làm phiền ngài nhé." "Tôi hiểu rồi." Dù Bá tước Hách Văn cũng lập tức chấp nhận, thế nhưng biểu cảm của ông ta lại có vài phần kinh ngạc. Phỏng chừng ban đầu ông ta cho rằng bản thân sẽ được biên vào đội của tộc trưởng Viêm chi bộ tộc, tức là đội của Sử Phái Khắc.

Cứ như vậy, hai trong số các đội đều do người của Viêm chi bộ tộc dẫn dắt.

Thế nhưng quyết định của Tạp Tu là tuyệt đối, cộng thêm việc sắp xếp như vậy quả thực có lý, cho nên các kỵ sĩ của Phong chi bộ tộc tuy không có dị nghị, nhưng trong lòng hình như vẫn không thể chấp nhận được.

Không khí trong phòng họp quân sự phảng phất một sự gượng gạo.

Thế nhưng Tạp Tu lại như thể hoàn toàn không hề hay biết, cứ thế tiếp tục quyết định nhân sự thuộc về mỗi đội.

"...Á Mạc Nhĩ dẫn dắt hai mươi người đảm nhận chức phó quan của Công vương Mã Mô." Tạp Tu điểm tên Á Mạc Nhĩ và hạ lệnh như vậy.

Bảo tôi đảm nhận chức... phó quan của Công vương Mã Mô á?" Á Mạc Nhĩ có vẻ vô cùng kinh ngạc đến mức nghẹn lời. Đại khái ban đầu cậu ta nghĩ mình sẽ ở trong đội của Tạp Tu chứ.

"Có bất mãn gì sao?" "Không, tôi không có ý nghĩ đó..." Bị Tạp Tu hỏi vậy, Á Mạc Nhĩ vội vàng hành lễ và lặp lại mệnh lệnh.

(Quyết định của Quốc vương Tạp Tu ra tay thật dứt khoát làm sao...) Sử Phái Khắc lại thầm cười khổ trong lòng.

Á Mạc Nhĩ mặt đỏ bừng trừng trừng nhìn hắn trân trối, nhưng hiện tại cứ coi như không thấy trước đã.

(Nếu ngáng chân thì sẽ rất phiền phức, nhưng bị cậu ta lôi kéo đi thì cũng rắc rối lắm đây...) Sử Phái Khắc tự nhủ với bản thân, đây là một cơ hội khảo nghiệm bản lĩnh của một nhà lãnh đạo.

Thế nhưng ở Công quốc Mã Mô, hắn đã từng trải qua một bài khảo nghiệm tương tự rồi. Vào buổi lễ đăng quang của Công vương, bọn họ suýt chút nữa là phải giao chiến với các kỵ sĩ của Phong chi bộ tộc.

Nếu Á Pháp Đức không đưa ra quyết định từ bỏ tư cách kỵ sĩ và rời khỏi Mã Mô, có lẽ khi đó Sử Phái Khắc đã bị giết tại nơi ở của hắn rồi.

Thế nhưng sau sự kiện đó, các kỵ sĩ Phong chi bộ tộc thuộc Công quốc Mã Mô cũng đã trở thành những bộ hạ đáng tin cậy hơn.

Dù không biết kỵ sĩ đội trưởng Á Mạc Nhĩ sẽ có thái độ thế nào, nhưng chỉ cần không sỉ nhục cậu ta thì hẳn sẽ không có vấn đề gì. Nếu ép buộc cậu ta hoặc cố ý làm mẫu trước mặt cậu ta, nói không chừng ngược lại sẽ gây ra phản tác dụng.

Đợi sau khi phân nhóm xong, hội nghị quân sự cũng theo đó giải tán.

Đội thứ nhất sẽ xuất phát vào sáng sớm ngày mốt, tiếp theo đó với khoảng thời gian cách nhau bốn ngày rưỡi, đội thứ hai và đội thứ ba cũng sẽ lần lượt xuất phát.

Mà đội do Công vương Mã Mô Sử Phái Khắc dẫn dắt, chính là đội thứ hai tiếp sau Bá tước Hách Văn.

Ⅴ

Sử Phái Khắc cùng các đồng đội đi cùng từ Mã Mô đến, cộng thêm đội ngũ do Á Mạc Nhĩ dẫn dắt tổng cộng hơn bốn mươi người, đã lên đường khởi hành tiến vào sa mạc theo thời gian đã định.

Và sau khi hành quân khoảng nửa ngày, họ đã đến hiện trường thương đoàn bị Tả Tẩu tập kích. Chỉ là dấu vết của thảm kịch sớm đã bị gió cát thổi bay đến không còn tăm tích.

"Trước khi Tả Tẩu xuất hiện, chúng ta có thể cứ liên tục qua lại trên tuyến đường mậu dịch..." Sử Phái Khắc mặc niệm cầu nguyện cho những người đã hy sinh một lát, sau đó liền nói với đội trưởng kỵ sĩ cận vệ Cái Lạc Khắc như vậy.

"Nhưng như vậy thì không hợp với cá tính của chúng ta cho lắm nhỉ." Cái Lạc Khắc cười đáp lại như thế.

Sử Phái Khắc gật đầu, đồng thời gọi kỵ sĩ đội trưởng Phong chi bộ tộc đảm nhận chức phó quan là Á Mạc Nhĩ lại gần.

Vị kỵ sĩ trẻ tuổi này với vẻ mặt không mấy tự nguyện đã cưỡi ngựa đi tới.

"Ta dự định lấy nơi này làm căn cứ điểm để tìm kiếm. Nhưng nói là tìm kiếm, chi bằng nói là chuẩn bị mồi nhử thì hơn..." "Là định nhử quái vật ra sao?" Á Mạc Nhĩ lộ ra vẻ mặt kinh ngạc.

Thay vì cứ liên tục qua lại, tôi cho rằng cách này chắc chắn hơn. Bởi vì Tả Tẩu vốn dĩ rất nhạy cảm với những chấn động yếu ớt, nếu cảm nhận được có người đơn độc cưỡi ngựa chạy trên đường, nhất định sẽ có phản ứng và đuổi theo." "Như vậy chẳng phải rất nguy hiểm sao?" Á Mạc Nhĩ đương nhiên đưa ra phản biện.

"Sợ nguy hiểm thì không thể chiến đấu với ma vật được đâu." Cái Lạc Khắc cười khổ đáp lại người thanh niên cùng bộ tộc này.

"Nếu vậy để tôi cử trinh sát ra ngoài hết cho." "Không, tôi cũng sẽ phái năm người từ trong số bộ hạ của mình ra." Nghe Cái Lạc Khắc nói vậy, Á Mạc Nhĩ vội vàng đáp lời.

Cậu ta cũng biết khi tộc trưởng Phong chi bộ tộc Tát Đạt Mỗ đảm nhận chức đội trưởng lính đánh thuê Phất Lôi Mỗ, vị kỵ sĩ cận vệ Mã Mô này thực ra từng là phó quan bí mật của Tát Đạt Mỗ.

Dù không xuất thân từ thị tộc có thế lực, nhưng vì là một mãnh tướng đã trải qua trăm trận chiến, cho nên cái tên Cái Lạc Khắc thực ra được biết đến rộng rãi trong Phong chi bộ tộc. Một người như vậy lại trở thành cánh tay đắc lực của tộc trưởng Viêm chi bộ tộc, sự thật này khiến trong lòng Á Mạc Nhĩ cảm thấy vô cùng phức tạp.

Có thể nói là cánh tay đắc lực khác của Công vương Mã Mô, cung đình ma pháp sư Á Đức Nặc Oa của Công quốc Mã Mô cũng là người của Phong chi bộ tộc, đồng thời còn xuất thân từ thị tộc có thế lực tương đối lớn.

Nói cách khác ở Mã Mô, Phong chi bộ tộc bị ép buộc phải phục tùng Viêm chi bộ tộc.

(Lúc thảo phạt ma vật tuyệt đối không được tụt lại phía sau Công vương Mã Mô!) Á Mạc Nhĩ thầm thề trong lòng.

Sử Phái Khắc cũng lờ mờ nhận ra suy nghĩ của cậu ta. Vì đối với Á Mạc Nhĩ mà nói đây là lần đầu tiên ra trận, Sử Phái Khắc đương nhiên cũng hy vọng có thể để cậu ta lập công, thế nhưng vì cũng không thể để cậu ta xem thường thực lực của Công quốc Mã Mô, cho nên Sử Phái Khắc sẽ không dễ dàng nhượng bộ đâu.

Sử Phái Khắc tuyển chọn tám tên trinh sát từ trong số những người tình nguyện chạy xung quanh, sau đó liền bắt đầu tiến hành chuẩn bị nghênh chiến Tả Tẩu. Bọn họ lên dây cung cho những chiếc nỏ đã được chuẩn bị sẵn từ trước, đồng thời dựng những cây trường thương ở khắp mọi nơi.

Tả Tẩu không thích hợp dùng kiếm để tấn công. Chúng có thể tự do tự tại tiềm hành dưới đáy cát, hơn nữa còn lộ phần nửa thân trên cứng cáp ra khỏi mặt cát để tập kích con mồi.

Nếu muốn tấn công phần bụng mềm mại, bắt buộc phải đâm vũ khí vào sâu trong cát, vì thế trường thương chính là vũ khí thích hợp nhất.

Và Sử Phái Khắc cũng hạ lệnh cho toàn quân xuống ngựa chuẩn bị chiến đấu.

Đây là nghĩ đến khả năng quái vật tấn công ngựa trước, cộng thêm việc chắc chắn sẽ biến thành hỗn chiến, chiến pháp kỵ mã không tiện tùy ý quay đầu không thể xem là có lợi.

Thế nhưng Á Mạc Nhĩ lại có ý kiến trái chiều với mệnh lệnh này.

"Chúng ta dù sao cũng là kỵ sĩ Phất Lôi Mỗ, sao có thể xuống ngựa chiến đấu!" "Nếu cậu cảm thấy cách này dễ đánh hơn thì không sao cả." Sử Phái Khắc cười khổ nhượng bộ.

Chính bản thân hắn cũng là lần đầu tiên chiến đấu với Tả Tẩu, cho nên không tự tin phán đoán của mình là chính xác. Dù đã cố gắng chuẩn bị đủ mọi phương án chuẩn bị, thế nhưng thực tế sẽ mang lại hiệu quả bao nhiêu vẫn chưa thể biết được.

Sau khi chuẩn bị xong xuôi mọi thứ, tiếp theo chỉ có thể chờ đợi. Sử Phái Khắc cùng những người khác cứ thế trốn dưới bóng ngựa để tránh cái nắng gay gắt của sa mạc và chờ đợi.

Sau đó tốp trinh sát đầu tiên cuối cùng cũng quay về, nhưng không hề chạm trán Tả Tẩu.

Dù có thử giậm chân trên mặt cát để nhử quái vật, nhưng rốt cuộc vẫn không phát hiện ra bóng dáng quái vật.

Thế nên Sử Phái Khắc lại phái một tốp trinh sát khác xuất phát. So với việc tìm kiếm mục đích vô định, cách này có lẽ chắc chắn hơn.

Thế nhưng tốp trinh sát thứ hai cũng ra đi tay không trở về.

Sử Phái Khắc phớt lờ tiếng cười nhạo của Á Mạc Nhĩ và các kỵ sĩ thuộc hạ của cậu ta, tiếp tục phái thêm một tốp trinh sát nữa xuất phát.

Nếu như vậy vẫn không thể tìm thấy Tả Tẩu, thì chỉ đành đổi địa điểm khác thôi. Bằng không cứ chờ đợi vô ích thế này, sẽ bị đại quân của Quốc vương Tạp Tu đuổi kịp mất.

Dù Sử Phái Khắc tin tưởng phác thảo này không sai, nhưng hắn vẫn phải tránh việc gặp mặt Quốc vương Tạp Tu trong tình trạng không có chút thành quả nào.

Thế nhưng tốp trinh sát thứ ba vẫn không phát hiện ra Tả Tẩu, cứ thế từng người một quay về báo cáo.

"Xem ra phỏng đoán đã sai rồi nhỉ..." Sử Phái Khắc cười khổ nói với Cái Lạc Khắc như vậy.

"Xem ra chỉ đành đổi chỗ khác thôi." Cái Lạc Khắc gật đầu đáp như thế, đồng thời bảo Á Mạc Nhĩ và những người khác, đợi tất cả trinh sát quay về thì sẽ xuất phát.

Hiện tại vẫn còn hai tên kỵ sĩ cận vệ được mang tới từ Mã Mô, thuộc hạ của Cái Lạc Khắc vẫn chưa quay về.

Phỏng chừng là cưỡi ngựa chạy đến nơi xa hơn cả địa điểm dự định rồi. Điều này có nghĩa là bọn họ rất muốn kế sách của Sử Phái Khắc thành công.

(Đây mới chính là kỵ sĩ cận vệ của Công quốc Mã Mô.) Cái Lạc Khắc không khỏi thầm nghĩ như vậy.

Kết quả có tìm được Tả Tẩu hay không cuối cùng vẫn phải dựa vào vận may. Lợi Phù thường ngày luôn miệng nói vận may của Sử Phái Khắc không tốt, cho nên xác suất chạm trán ma vật hẳn là rất cao, nhưng xem ra chỉ có lần này là ngoài dự liệu.

Kết quả là hai tên trinh sát cuối cùng không quay về, hầu như xuất hiện cùng một lúc từ những hướng khác nhau.

"Chuẩn bị xuất phát!" Cái Lạc Khắc lớn tiếng hạ lệnh.

Thế nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, Sử Phái Khắc lại dùng âm lượng át cả Cái Lạc Khắc để ngăn hắn lại.

"Nhìn đằng kia kìa!" Sử Phái Khắc chỉ vào một tên trinh sát đang lao về phía mình.

Cái Lạc Khắc nhìn về cùng một hướng, xác nhận ở phía sau lớp bụi cát do móng ngựa cuốn lên, đang phun lên hai ba cột cát khổng lồ.

Đây là bằng chứng cho thấy Tả Tẩu đang di chuyển tốc độ cao dưới lòng đất.

"Cuối cùng cũng thành công rồi!" Cái Lạc Khắc nhảy cẫng lên hào hứng hét lớn.

"Muốn vui mừng thì đợi đánh gãy quái vật rồi hẵng nói." Sử Phái Khắc nói với Cái Lạc Khắc như vậy, nhưng điều này thực ra cũng là để kìm nén cảm xúc phấn khích trong lòng mình.

"Người đứng ở chính diện Tả Tẩu tập trung phòng thủ, những người khác vòng ra phía sau và bên sườn quái vật rồi dùng thương đâm thọc, đâm ra rồi thì vứt thương đi đổi cây khác." Sử Phái Khắc đưa ra chỉ thị tỉ mỉ.

Đây là chiến pháp mà hắn nghĩ ra trong hai ngày nay.

"Ma pháp sư ở xa Tả Tẩu ra, dùng ma pháp hỗ trợ chúng ta là được." Trong đội ngũ của Sử Phái Khắc có bốn vị ma pháp sư đi cùng là Á Đức Nặc Oa, Lợi Phù, Cổ Lý Ba Tư và Ni Tư. Dù số lượng kỵ sĩ tương đối ít, nhưng về chiến lực thì tuyệt đối không thua kém đội ngũ ba mươi kỵ sĩ của Á Mạc Nhĩ.

Mà đội ngũ của Á Mạc Nhĩ thì cưỡi trên lưng ngựa, bày ra trận hình thương kỵ sĩ theo nhóm năm người.

Dù là đội hình dùng để đột kích, nhưng Tả Tẩu lại di chuyển dưới đáy cát, Sử Phái Khắc căn bản không biết bọn họ muốn đột kích cái gì.

Kẻ địch là ma vật, không cần chấp nhất vào chiến pháp của kỵ sĩ cũng không sao đâu!" "Chúng tôi vẫn luôn tiếp nhận huấn luyện nghiêm khắc hơn cả thực chiến, cho nên ngài có thể không cần lo lắng cho chúng tôi." Á Mạc Nhĩ lộ ra vẻ mặt tự tin nói với Sử Phái Khắc như vậy.

(Làm gì có chuyện huấn luyện nghiêm khắc hơn cả thực chiến chứ.) Dù Sử Phái Khắc nghĩ vậy, nhưng hiện tại không phải lúc tranh cãi. Bởi vì đám Tả Tẩu trong khoảng thời gian này, vẫn đang lao về phía này với tốc độ tối đa.

"Ta dẫn khách tới rồi đây!" Tên trinh sát dẫn Tả Tẩu tới vừa chạy về, liền hưng phấn báo cáo bằng giọng điệu như thế.

Làm tốt lắm!" Sử Phái Khắc an ủi như vậy, đồng thời lệnh cho cậu ta nghỉ ngơi cho đến khi nhịp thở bình thường trở lại.

Thế nhưng vị kỵ sĩ cận vệ thuộc quyền của Cái Lạc Khắc này lại nhếch miệng cười rồi lắc đầu.

"Đã vất vả mời đến nơi, cứ để tôi phụ trách công tác tiếp đón luôn đi chứ!" Kỵ sĩ cận vệ đáp như vậy rồi xuống ngựa cầm lấy trường thương.

Tả Tẩu cứ thế phun cột cát, tiếp cận về phía Sử Phái Khắc và những người khác.

"Hãy chú ý cho kỹ động tĩnh trên mặt cát." Trước khi tập kích con mồi, Tả Tẩu sẽ có tập tính tiềm lại vào trong cát, sau đó đột ngột xuất hiện dưới chân con mồi để tập kích.

Sử Phái Khắc cứ thế dùng hai tay cầm trường thương, chờ đợi khoảnh khắc này xuất hiện.

Cuối cùng Tả Tẩu cũng đã lộ diện.

Trong đội hình dày đặc do các kỵ sĩ dưới trướng Á Mạc Nhĩ cấu thành, năm cột cát bỗng chốc phun vọt lên.

Dường như là do những con ngựa đang hưng phấn giậm chân tại chỗ, cuối cùng trở thành nguồn phát ra phản ứng của Tả Tẩu chăng.

Do quái vật đột ngột xuất hiện, khiến những con ngựa kinh hãi tột độ mà hí lên, cứ thế giơ cao chân trước muốn bỏ chạy. Dù nói là ngựa chiến đã qua huấn luyện, nhưng suy cho cùng vốn dĩ cũng là loài động vật nhát gan. Kỵ sĩ cưỡi không có kinh nghiệm thực chiến, ngựa đương nhiên cũng vậy.

Trong đội của Á Mạc Nhĩ có mấy người bị hất văng xuống ngựa, hoặc vì không thể điều khiển được ngựa mà bị ép rời khỏi chiến trường.

Vì thế nên tôi mới nói mà!" Dù Sử Phái Khắc không khỏi nghiến răng, nhưng rõ ràng là bản thân không cưỡng chế chấp hành mệnh lệnh mới là người sai.

Các kỵ sĩ trong đội của Á Mạc Nhĩ hoàn toàn mất đi đội hình, chốc lát đã rơi vào cảnh hỗn chiến. May là chỉ có vài con ngựa hy sinh, các kỵ sĩ không hề chịu bất kỳ tổn thương nào.

"Tạm thời rút lui, sau đó chỉnh đốn lại đội hình!" Sử Phái Khắc hô lớn như vậy, đồng thời dẫn dắt đội kỵ sĩ Công quốc Mã Mô tiến lên hỗ trợ đội của Á Mạc Nhĩ.

Hỡi chiến thần vĩ đại, giờ đây những dũng giả đã tụ tập tại đây đối mặt với chiến đấu..." Tế ti Cổ Lý Ba Tư cất giọng lanh lảnh, bắt đầu tụng niệm chú văn của "Chiến chi ca".

Những ai nghe thấy tiếng hát này sẽ tập trung tinh thần, trong lòng cũng sẽ tràn đầy dũng khí vô bờ bến. Sau khi hoàn toàn xóa bỏ hoảng loạn và sợ hãi, các kỵ sĩ trong đội Á Mạc Nhĩ liền bắt đầu phản công Tả Tẩu.

Cội nguồn của vạn vật, sức mạnh vạn năng..." Á Đức Nặc Oa cất lời những từ ngữ bắt buộc phải nói trước bằng ngôn ngữ cổ đại thượng vị rồi bắt đầu tụng niệm chú văn. Và đồng thời lúc chú văn hoàn thành, đầu chiếc gậy ma pháp sư mà cậu ta đang cầm phát ra điện gi kích, đồng thời đánh trực diện vào đầu Tả Tẩu.

Dù không biết có thể giáng cho nó đả kích lớn đến mức nào, nhưng hành động của con Tả Tẩu bị chú văn đánh trúng đã trở nên chậm chạp hơn.

Đội ngũ Á Mạc Nhĩ đã chỉnh đốn lại đội hình, cũng nhân cơ hội đó lần lượt xông lên.

"Người ngã ngựa hãy đến chính diện quái vật thu hút sự chú ý của nó, người vẫn đang cưỡi trên ngựa tạm thời lùi ra sau rồi dùng thương kỵ sĩ đột kích. Nhớ phải có giác ngộ tông thẳng cả con ngựa vào đấy!" Á Mạc Nhĩ dùng âm lượng lớn nhất hét lớn với các kỵ sĩ dưới quyền.

Bản thân cậu ta vì ngựa ngã trong đợt tấn công đầu tiên, nên đã đổi sang hành quân bộ. Giờ đây cậu ta đã nắm chặt kiếm, dũng cảm tiến công trực diện vào một con Tả Tẩu.

Tiến lên theo đội trưởng! Không được để kỵ sĩ Mã Mô cướp trước công lao!" Mấy vị kỵ sĩ hô lớn như vậy rồi noi gương Á Mạc Nhĩ lao lên.

Tinh linh Lửa, hãy dùng ngọn lửa của ngươi tấn công kẻ địch!" Sau khi do dự không biết nên sử dụng loại chú văn nào, Lợi Phù quyết định mượn sức mạnh của Xà La Mạn Xà để phóng ra ngọn lửa. Dù sẽ không mang lại hiệu quả lớn lắm, nhưng bề ngoài trông có vẻ khá khí thế, hơn nữa Tả Tẩu nói không chừng sẽ vì sợ lửa mà hoảng sợ rồi thoái lui cũng nên.

Thế nhưng con quái vật gần như điên cuồng ấy, dù trúng ngay ngọn lửa cũng vẫn trơ trơ không chút nhúc nhích.

Không mượn sức mạnh của thượng tinh linh thì không được sao?" Dù cô ấy lén lút tiến hành tu luyện giao tiếp với tinh linh, nhưng vẫn chưa có năng lực giao tiếp với thượng tinh linh. Huống hồ trong địa hình như sa mạc, các tinh linh như đất, nước và thực vật không thể hoạt động bình thường được, cho nên đối với tinh linh sứ mà nói đây là một chiến trường khó lòng phát huy thực lực.

Hết cách rồi..." Thế nên Lợi Phù quyết định không sử dụng chú văn, chỉ đứng ở bên cạnh cổ vũ mọi người mà thôi.

Ni Tư cũng đứng cạnh thiếu niên bán yêu tinh.

Nàng cũng không tụng niệm chú văn, chỉ khiến bản thân luôn sẵn sàng sử dụng ma pháp trị liệu, đồng thời cứ thế chú ý đến các kỵ sĩ đang chiến đấu ác liệt với Tả Tẩu, hễ có ai bị thương là sẽ lập tức lao đến.

Đàn quái vật này thoạt nhìn có vẻ chỉ có năm con.

Sử Phái Khắc và những người khác đối phó hai con, còn đội của Á Mạc Nhĩ thì chiến đấu với ba con.

Sử Phái Khắc dẫn theo bốn người đối phó một con, Cái Lạc Khắc thì dẫn dắt sáu kỵ sĩ cận vệ đối phó con còn lại.

Đội của Á Mạc Nhĩ thì do mười người phụ trách một con.

Thế nhưng bên chiếm ưu thế lại là phía Sử Phái Khắc.

Bởi vì Á Đức Nặc Oa liên tục dùng ma pháp ngôn ngữ cổ đại hỗ trợ, tế ti Cổ Lý Ba Tư cũng để phòng vạn nhất, vẫn luôn tụng niệm "Chiến chi ca" ở phía sau. Trong tay hắn cầm một cây kích cán dài, không chỉ lúc nào cũng có thể gia nhập chiến cục, mà khi có người bị thương cũng có thể trị liệu cho họ.

(Bên Sử Phái Khắc không có vấn đề gì...) Ni Tư khẽ nói trong lòng.

Thế nhưng cảm giác bất an không vì thế mà biến mất. Nếu mất đi anh ấy, bản thân mình hoàn toàn không biết sẽ trở thành ra sao nữa.

Phớt lờ sự bất an của Ni Tư, Sử Phái Khắc vẫn chiến đấu một cách bình tĩnh, liên tục tước đoạt sinh lực của Tả Tẩu.

Thân thể Tả Tẩu bị mấy cây trường thương đâm thủng, thể dịch mang sắc xanh liên tục trào ra. Dù là vậy, Tả Tẩu vẫn cứ như thể bất tử mà liên tục chống cự.

Thế nhưng hành động của nó cuối cùng cũng dừng lại.

Sử Phái Khắc không bỏ lỡ khoảnh khắc hành động của Tả Tẩu trở nên chậm chạp, từ chính diện dùng trường thương đâm thẳng vào vị trí trung tâm sáu cái chân của nó. Cú đâm này xuyên thủng lớp giáp xác cứng cáp, có vẻ như đã giáng cho nó một đòn chí mạng, Tả Tẩu rốt cuộc cũng phát ra tiếng động lớn rồi ngã nhào xuống đất.

Ⅵ

"Quá tuyệt vời!" Vị kỵ sĩ cận vệ phụ trách trinh sát nhử Tả Tẩu tới phấn khích nói.

"Muốn vui mừng thì đợi đánh gãy con cuối cùng rồi hẵng nói." Dù bản thân đã giáng đòn chí mạng cho quái vật, nhưng đây cũng là vì các kỵ sĩ cận vệ đã khiến nó bị thương từ trước đó. Mà giá trị lớn nhất của việc hắn tiêu diệt con Tả Tẩu này, chính là có thể đến chi viện cho các đội chiến đấu khác.

Sử Phái Khắc nhanh chóng đảo mắt quan sát chiến trường, biết được phe đang rơi vào khổ chiến hiện tại chính là chỗ của Á Mạc Nhĩ.

Kỵ sĩ đội trưởng trẻ tuổi của Phong chi bộ tộc, cứ thế rút kiếm đối đầu chính diện với quái vật, nhưng lại vì không nắm bắt được cự ly nên không dám tiến lại gần.

Do đó Tả Tẩu có dư sức để tấn công các kỵ sĩ vòng ra sườn và phía sau nó, đội ngũ vì thế mà không thể tiến công theo ý muốn.

"Tôi qua giúp một tay đây!" Sử Phái Khắc gầm lên với âm lượng không thua kém tiếng ồn ào trên chiến trường, rồi chạy về phía chỗ Á Mạc Nhĩ.

Các kỵ sĩ cận vệ Mã Mô chiến đấu cùng hắn cũng theo sát phía sau.

"Không cần các người ra tay!" Nghe thấy tiếng của Sử Phái Khắc, Á Mạc Nhĩ lập tức đáp lại như thế.

(Bọn họ đã tiêu diệt con quái vật đó rồi sao? Dù cho cậu ta có ma pháp hỗ trợ đi nữa...) Cậu ta từng nghe qua những tin đồn khác nhau về Công vương Mã Mô.

Tính cách thiếu kiên nhẫn cùng hành động liều lĩnh thiếu suy nghĩ rất dễ thu hút sự chú ý, việc gì cũng thích vơ vào mình làm.

Dù bên cạnh đã có thiếu niên bán yêu tinh, nhưng cậu ta hình như vẫn muốn cưới con gái của cung đình ma pháp sư Phất Lôi Mỗ làm phi. Ngoài ra nữ ma pháp sư được chiêu mộ từ A La Ni Nha hình như cũng là sủng thiếp của hắn, tóm lại là một kẻ vô cùng mê gái.

Đối xử bất công với người của Phong chi bộ tộc, đồng thời ưu đãi những kẻ xuất thân từ Viêm chi bộ tộc.

Dù lên kế hoạch độc lập từ Phất Lôi Mỗ, nhưng vì để nhận được hỗ trợ vật tư nên không thực hiện.

Không chỉ ma thú, ngay cả tàn đảng Mã Mô cũng không thể thanh trừng nổi, quả là một vị lãnh chủ yếu đuối.

Sở dĩ ngầm thừa nhận sự tồn tại của giáo đoàn Hắc Ám thần Pha La Lị Tố là vì Viêm chi bộ tộc trước đó từng nhận được sự hỗ trợ của nó. Thậm chí còn có những lời đồn đại khác chỉ ra rằng, Sử Phái Khắc lúc còn là trẻ sơ sinh từng bị đại tế ti Hắc Ám thần bắt cóc, khi đó hắn đã sớm bị dâng cho Hắc Ám thần làm vật tế phẩm, cho nên từ lâu đã bị ma vật nhập vào người.

Được phong tước kỵ sĩ muộn màng như vậy, cũng chính là minh chứng cho thực lực chẳng ra gì của hắn.

Lúc hắn còn là kỵ sĩ dự bị, bảo vật trong kho từng bị đạo tặc cướp mất. Khi hắn trốn thoát từ sào huyệt đạo tặc còn bị đạo tặc chém cho một nhát từ phía sau, thậm chí còn vứt cả kiếm của mình mà bỏ chạy.

Ngoài ra, những lời đồn đại về sự bất tài của Công vương Mã Mô còn rất nhiều.

Những lời đồn đại về hắn lúc uống rượu cùng những người bạn kỵ sĩ trẻ tuổi của Phong chi bộ tộc, có thể nói là món nhậu tuyệt vời nhất của bọn họ.

(Dẫu là vậy...) Á Mạc Nhĩ mím chặt môi.

Trong bữa tiệc trước dù là do sơ sẩy, nhưng bản thân cậu ta chỉ nhận một đấm là ngã nhấp nhô xuống đất. Giờ đây khi đối phó với ma vật lại tụt lại phía sau hắn một bước.

Những lời cùng bạn bè cười nhạo Công vương Mã Mô trước kia, bây giờ ngẫm lại giống như đang nói chính bản thân mình vậy.

"Đối phó loại quái vật này chúng ta không cần phải cẩn thận như vậy đâu!" Á Mạc Nhĩ hét lớn như thế, rồi vung kiếm chém về phía quái vật.

"Mọi người cùng lên đi!" Sau đó cậu ta hạ lệnh với các kỵ sĩ.

"Tuân lệnh!" Các kỵ sĩ trong đội Á Mạc Nhĩ đáp lời như thế, đồng thời thúc ngựa bày ra tư thế thương kỵ sĩ bắt đầu phát động đột kích. Thế nhưng bọn họ rõ ràng đã tiếp cận quái vật quá gần. Thương kỵ sĩ bắt buộc phải dựa vào lực lao của ngựa, mới có thể trở thành vũ khí tất sát.

Nếu khoảng cách đột kích quá ngắn, thì uy lực sẽ giảm đi mấy lần.

Đòn tấn công của các kỵ sĩ bị lớp giáp xác cản lại, không thì cũng bị trượt đi, hầu như chẳng gây ra thêm bất kỳ tổn thương nào cho quái vật.

Hơn nữa vì toàn bộ cùng nhau tấn công, nên đã đánh mất không gian xoay chuyển sau khi đâm thọc, giữa mấy vị kỵ sĩ đã xảy ra va chạm dữ dội hoặc vì ngựa quay về hướng ngoài dự liệu mà ngã lăn xuống ngựa.

Còn bản thân Á Mạc Nhĩ thì chiến đấu một chọi một với Tả Tẩu. Cậu ta đang đối mặt với những đợt tấn công liên tiếp từ chiếc hàm dưới khổng lồ của nó. Cậu ta dùng kiếm đỡ đòn hoặc lách người né tránh đòn tấn công, dù cho thấy rõ thực lực của một chiến sĩ, nhưng mỗi lần chịu một đòn là tư thế của cậu ta lại có chút lảo đảo, cứ thế đến đòn thứ mười, cậu ta bị cát làm vướng chân rồi ngã ngửa ra sau.

Tiếp theo đó hàm dưới của Tả Tẩu kẹp chặt lấy chân phải của cậu ta.

Thế nhưng điều này nói không chừng lại là một loại may mắn. Bởi vì nếu cậu ta không ngã xuống, thứ bị quái vật kẹp lấy chính là thân thể của cậu ta rồi...

Tả Tẩu cứ thế ngoạm lấy chân Á Mạc Nhĩ, kéo toàn bộ thân thể cậu ta lên không trung, giống như muốn cắn chặt con mồi của mình một lần nữa vậy.

Thế nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, chân cậu ta cứ thế bị cắn đứt hoàn toàn, vì vậy Á Mạc Nhĩ lại một lần nữa rơi xuống bãi cát. Chân bị cắn đứt cùng hoa máu cũng đồng thời rơi xuống.

Sự va chạm và cơn đau này, khiến cậu ta cứ thế mất đi ý thức.

Nhưng đây cũng là một loại may mắn.

Bởi vì thị lực của Tả Tẩu kém, phần lớn là dựa vào chấn động để cảm ứng sự vật. Cho nên quái vật tưởng rằng Á Mạc Nhĩ đã chạy trốn, liền chuyển sang tấn công con mồi khác.

Mục tiêu là một kỵ sĩ khác bị ngã ngựa gãy chân, đang liều mạng bò trên bãi cát.

Tả Tẩu vùi toàn bộ hàm dưới vào trong cát, sau đó kẹp chặt thân thể vị kỵ sĩ này lại, rồi nâng cao lên cắn chặt lấy con mồi.

Áp giáp bằng kim loại cứ thế dần biến dạng, vị kỵ sĩ đáng thương cũng phát ra tiếng kêu thảm thiết.

Thế nhưng âm thanh cũng không kéo dài được bao lâu. Và đối với cậu ta mà nói điều này có lẽ cũng là một sự giải thoát.

Máu tươi đỏ rực trào ra từ thể nội người hy sinh, mà Tả Tẩu cứ thế dùng cái miệng nằm trong hàm dưới để mút lấy.

"Không phải đã nói là đến giúp rồi sao! Tại sao không đợi chúng ta!" Sử Phái Khắc vừa cảm thấy phẫn nộ vừa hối hận.

Cảm xúc này bắt nguồn từ việc quá mức thù địch Viêm chi bộ tộc, cho nên phớt lờ mệnh lệnh cứ hay tự ý hành động của vị kỵ sĩ đội trưởng trẻ tuổi Phong chi bộ tộc, cùng với bản thân mình đã không yêu cầu cậu ta triệt để phục tùng mệnh lệnh...

"Tóm lại bắt buộc phải hạ mức độ hy sinh xuống mức thấp nhất." Sử Phái Khắc tự ra lệnh cho bản thân.

Kỵ sĩ đội trưởng bị thương cộng thêm có người hy sinh, khiến các kỵ sĩ của Phong chi bộ tộc rõ ràng bắt đầu dao động.

"Tất cả xuống ngựa chiến đấu đi bộ! Không được tùy tiện tiếp cận quái vật, chỉ cần cảm thấy mình sắp bị tấn công thì lập tức lùi lại. Quái vật khi đổi mục tiêu tấn công sẽ có khoảng trống, bắt buộc phải tận dụng thời cơ này để tấn công!" Sử Phái Khắc lớn tiếng gọi hết mức có thể, cố gắng vực dậy tinh thần cho các kỵ sĩ Phong chi bộ tộc. Còn bản thân hắn thì lao về phía con Tả Tẩu đang ngoạm lấy người hy sinh.

May là quái vật không tấn công hắn, không biết là bận thưởng thức con mồi, hay đơn giản là hàm dưới bị kẹt chặt bởi áp giáp kim loại không rút ra được.

"Ta đã biết nhược điểm của ngươi rồi!" Sử Phái Khắc lao về phía trước với tốc độ tối đa, nhắm mũi kiếm vào đúng vị trí vừa tiêu diệt con thứ nhất.

Sau đó hắn dồn hết sức lực đâm mạnh về phía trước, nhát kiếm này đánh trúng chính xác khe hở của lớp giáp xác quái vật.

"Giải quyết rồi!" Truyền từ tay Sử Phái Khắc là cảm giác vô cùng chân thực.

Đó hình như là vị trí tập trung thần kinh, quái vật cứ thế toàn thân run rẩy, ngã nhào xuống đất như thể sụp đổ.

Sử Phái Khắc rút kiếm khỏi người quái vật, đồng thời né tránh để tránh bị thân hình khổng lồ của quái vật đè trúng.

"Ni Tư! Á Mạc Nhĩ giao cho em đấy!" Sử Phái Khắc hô lớn như vậy, nhưng không tìm kiếm xem Ni Tư đang ở đâu. Bởi vì hắn cứ thế cất cao giọng gầm lên, tấn công về phía con quái vật tiếp theo.

"Các kỵ sĩ Phất Lôi Mỗ! Đi theo Công vương Mã Mô tiến công!" Không biết là ai hô lên một tiếng như thế, ở khắp nơi đều xuất hiện những âm thanh hưởng ứng.

Xem ra tiếng của Sử Phái Khắc còn có thể cho người ta dũng khí hơn cả Chiến chi ca của ta nữa đấy." Nhìn thấy tình trạng này, vị lùn tế ti phụng sự chiến thần không khỏi khẽ nói như vậy.

Tôi cũng tập trung trị liệu cho người bị thương đây..." Vị thiếu niên phụng sự Nữ thần Đất Mẹ kia, còn chưa đợi lệnh của Sử Phái Khắc, đã đi đến bên cạnh Á Mạc Nhĩ đang bị thương nặng.

Cổ Lý Ba Tư biết chú thuật trị liệu cao vị mà nàng sử dụng, hẳn là có thể giúp cho cái chân bị cắn đứt của Á Mạc Nhĩ khôi phục như trạng thái ban đầu, thế nên quyết định đưa linh hồn của vị kỵ sĩ tử trận kia đến "Cánh đồng hoan hỉ" trước.

Kể từ khi hắn nghe thấy tiếng của chiến thần Mạch Lý, và tu luyện cho đến nay đã hơn hai mươi năm, mới miễn cưỡng có thể sử dụng kỳ tích cấp tế ti.

Thế nhưng vị thiếu niên kia chỉ với độ tuổi mười lăm, đã đạt đến lĩnh vực đại tế ti thậm chí là tối cao tế ti rồi.

(Rốt cuộc trong cơ thể nàng ấy sở hữu loại linh hồn nào chứ...) Dù tông phái khác nhau, nhưng hắn vẫn ôm lấy sự kính sợ đối với thiếu niên tóc đen này.

(Xem ra việc dẫn dắt vị dũng giả kia không phải là nhiệm vụ của ta rồi.) Cổ Lý Ba Tư nhìn Sử Phái Khắc đã bắt đầu giao chiến với con quái vật thứ ba và thầm nghĩ như vậy.

Đối với người phụng sự chiến thần mà nói điều này có lẽ là một sự sỉ nhục. Thế nhưng điều kỳ lạ là, bản thân hắn lại không hề xuất hiện cảm xúc như vậy.

Thậm chí còn vì thế mà cảm thấy, chỉ cần đi theo hai người trẻ tuổi này thôi cũng đã là tín ngưỡng chân chính của mình rồi.

Bọn họ trong tương lai nhất định vẫn sẽ đối mặt với đủ loại khảo nghiệm, nếu bản thân có thể góp chút sức lực mỏng manh hỗ trợ bọn họ vượt qua khảo nghiệm, tin rằng chiến thần Mạch Lý nhất định cũng sẽ rất vui mừng.

Cổ Lý Ba Tư kéo thi thể vị kỵ sĩ tử trận ra khỏi miệng quái vật, đồng thời tại chỗ mặc niệm cầu phúc cho anh ta, hy vọng linh hồn của vị chiến sĩ dũng cảm chiến đấu đến chết này có thể được triệu hồi về thiên đàng.

Khi Gulifas kết thúc lời cầu nguyện, đội trưởng kị sĩ của Phong chi bộ tộc, Armor, cuối cùng cũng hồi phục ý thức, đồng thời phát hiện ra bên cạnh mình có một thiếu nữ tóc đen.

"Mặc niệm vừa rồi là vì tôi sao?" Armor với ý thức hãy còn mơ màng cất lời hỏi thiếu nữ.

“Dù vết thương rất nghiêm trọng, nhưng anh vẫn còn sống mà.” Nghe thấy câu trả lời cùng nụ cười của thiếu nữ, nội tâm hỗn loạn của Armor cuối cùng cũng bình tĩnh trở lại, bắt đầu nhớ lại rốt cuộc đã có chuyện gì xảy ra với mình.

Dù kí ức mơ hồ tựa giấc mơ, thế nhưng vết máu bám trên áo giáp kim loại khiến anh ta chắc chắn đây là chuyện xảy ra trong hiện thực.

“Chân tôi bị sa tẩu cắn lấy, rồi cứ thế bị kéo lên không trung...” Kí ức của anh ta chỉ dừng lại ở đó, sau đó thì hoàn toàn không còn ấn tượng gì nữa.

“Anh đã rơi xuống đất sau khi bị cắn đứt chân, và ngất đi vì chấn động.” “Bị cắn đứt chân?” Armor vội vàng nhìn xuống chân phải của mình.

Thế nhưng, dù phần giáp bảo hộ trên chân anh ta đã rơi mất và dính đầy máu tươi, nhưng không những không hề đứt lìa, ngược lại còn chẳng có lấy một vết thương.

“Là cô đã giúp tôi chữa trị sao?” Armor kinh ngạc đăm đăm nhìn thiếu nữ tóc đen trước mắt.

Đương nhiên anh ta biết cô bé này là ai.

Anh ta biết tên của cô bé, cũng biết cô là con gái của cung đình ma thuật sư Slein, hơn nữa còn là thần quan của Đại địa mẫu thần Mafa... Nghe nói thực lực thánh chức giả của cô đã đạt đến cấp độ cao cấp tế ti.

Trong buổi tiệc trước đó, anh ta cũng từng nhìn thấy Nis mặc lễ phục. Dù anh ta cũng cho rằng đó là một người phụ nữ xinh đẹp, song vì nghe được tin đồn cô có khả năng sẽ là Ma Mạc công phi tương lai, nên anh ta đã không tiến lại bắt chuyện.

“Dẫu vậy, không ngờ lại có thể khôi phục cái chân đã đứt lìa trở lại nguyên trạng...” Armor cũng biết đến sự tồn tại của loại kì tích này - thần thánh ma thuật.

Thế nhưng những thánh chức giả có thể sử dụng kì tích này, ở toàn đảo Lodoss thì đếm trên đầu ngón tay.

“Tế ti tiểu thư, thực sự vô cùng cảm ơn cô.” Armor cúi đầu thật sâu hành lễ với thiếu nữ. Nếu mất đi một chân, anh ta sẽ không thể tiếp tục làm kị sĩ, càng không thể trở thành người thừa kế của bộ tộc.

Đúng lúc này, phía sau vang lên những tiếng hoan hô lớn.

Âm thanh này khiến Armor nhớ ra bản thân vẫn đang ở trên chiến trường.

Anh ta vội vã thử đứng dậy, thế nhưng từ chân truyền đến cơn đau nhức dữ dội, lại chẳng thể dùng chút sức lực nào. Do đó mà mồ hôi lạnh túa ra, tầm mắt cũng trở nên tối sầm lại.

Nhưng tóm lại là không tiếp tục ngất đi nữa.

“Tuy chân đã được nối lại, nhưng vẫn sẽ còn đau đớn, lúc nãy anh cũng mất rất nhiều máu. Cho nên xin hãy nghỉ ngơi thật tốt trước đã.” Sau đó, Nis nói với Armor rằng trận chiến với lũ quái vật hiện đã kết thúc.

Tiếng hoan hô vừa rồi vang lên khi con sa tẩu cuối cùng bị hạ gục.

Con sa tẩu bị thương chiên đâm thủng toàn thân, đang định trốn vào trong cát để tẩu thoát, cứ thế bị mọi người vây quanh rồi giáng cho một đòn chí mạng.

Dù Tạp Tu cũng có mặt, nhưng anh chỉ chịu trách nhiệm kiềm chế con quái vật ở chính diện, thậm chí còn chưa vung nổi một kiếm.

Thế nhưng mọi người đều biết, trong trận chiến này anh đã lập được công lao lớn nhất. Anh đã hạ gục hai con sa tẩu, lại tham gia chiến đấu với hai con khác, còn đứng ở vị trí nguy hiểm nhất là chính diện con quái vật.

Một con khác do Geirakh hợp sức cùng thân vệ kị sĩ dưới quyền hạ gục. Thế nhưng vì số lượng ít, buộc phải tác chiến thận trọng để tránh có người hy sinh, cho nên hoàn toàn không tham gia vào các trận chiến khác.

Nis cố tình nói sự thật này cho Armor biết.

“Cuối cùng tôi chỉ có thể trơ mắt nhìn Ma Mạc công vương lập công thôi sao...” Armor siết chặt hai tay thành quyền, dùng sức đấm mạnh xuống lớp cát.

Anh ta chưa từng hoài nghi năng lực của bản thân, cũng như sự bất tài của Ma Mạc công vương.

Thế nhưng giờ đây anh ta biết hoàn toàn ngược lại.

“Xin hãy ghi nhớ tư thế chiến đấu anh dũng của ngài Tạp Tu. Dù ngài ấy ở Ma Mạc, nhưng nếu anh muốn Phong chi bộ tộc đứng ngoài vòng chiến, ngài ấy nhất định sẽ vì Flame, vì Lodoss mà đứng ra...” Nis nheo mắt lại, nhìn Tạp Tu đang giơ cao thanh kiếm tuyên bố chiến thắng.

Anh ấy đã mạnh lên. Mỗi khi đối mặt với khó khăn và vượt qua thử thách, anh ấy lại thực sự trưởng thành hơn.

Đúng như quốc vương Flame Tạp Tu, cùng người cha Slein kỳ vọng, sự tồn tại của Tạp Tu đối với vương quốc đã dần trở nên quan trọng.

Nếu thành công thống trị hắc ám chi đảo Ma Mạc, đây sẽ là chiến tích vĩ đại chưa từng có ai hoàn thành kể từ thời đại của kiếm.

Ngay cả vị vương khai quốc của Alania, vị đại tướng Canon vĩ đại, thậm chí là anh hùng Berd đã đánh bại Ma thần vương, cũng không thể hoàn thành đại nghiệp vĩ đại nhường này.

“Ừm, để không dẫm lên vết xe đổ, tôi sẽ ghi nhớ thật kỹ. Dù tôi thừa nhận sự vĩ đại của Ma Mạc công vương, cũng không có nghĩa là tôi đã chịu thua...” Armor rơi những giọt nước mắt đầy hối hận, nhỏ giọng nói.

(Tùy anh muốn nghĩ thế nào thì nghĩ.) Nis chỉ thầm đáp lại lời nói này của Armor trong lòng.

(Thay vì vượt qua người khác, nhận thức rõ năng lực của bản thân thực ra mới càng khiến con người ta trưởng thành hơn...) Thế nhưng đối với vị đội trưởng kị sĩ của Phong chi bộ tộc đang sa vào thành kiến này, có lẽ cả đời cũng không thể hiểu được đâu.

Đối với Phong chi bộ tộc và Flame mà nói, khi những kẻ như anh ta trở thành cốt lõi, có lẽ đảo Lodoss sẽ lại một lần nữa bị gọi là "hòn đảo bị nguyền rủa" cũng nên.

Hòa bình vĩnh cửu xét cho cùng cũng chỉ là giấc mơ. Do đó Nis cho rằng con người ta mới có giá trị sùng bái hòa bình, và không ngừng nỗ lực để bảo vệ hòa bình.

Cô lại một lần nữa thề trong lòng, cuộc đời này sẽ không phải vì phá hủy, mà là vì sáng tạo để nỗ lực.

(Vòng luân hồi vô tận của ta cũng sẽ chấm dứt ở đây thôi...)

Ⅶ

Khi Tạp Tu và những người khác kết thúc trận chiến và tiến hành xử lý hậu sự, bản đội do đích thân Tạp Tu thống lĩnh cũng đã đuổi kịp tới nơi.

Tạp Tu lập tức tiến hành báo cáo chiến đấu.

“Năm con ư... Không biết thế là nhiều hay ít nữa.” Tạp Tu bày tỏ cảm thán như vậy.

“Nghe nói sa tẩu hầu hết đều hành động đơn độc. Dù chúng là loài quái vật thường cùng nhau ăn con mồi, thế nên chỉ riêng việc chúng hành động tập thể thôi, có lẽ đã rất bất thường rồi...” Tạp Tu mang theo sự kiêng dè mà nói như vậy.

Ít nhất là anh nghe các trưởng lão trong bộ tộc nói thế. Trên thực tế ở khắp nơi trong sa mạc Gió và Lửa, có mấy địa điểm ngoại lệ sinh sống từ vài con, thậm chí là mười mấy con sa tẩu trở lên. Nếu bất cẩn bước vào những lĩnh vực này thì chắc chắn sẽ mất mạng.

Dù Tạp Tu và những người khác đã hạ gục năm con sa tẩu, nhưng cũng xuất hiện ba người hy sinh. Những người bị thương ngoài Armor ra thì còn rất nhiều, nhưng đã được hai vị thần quan là Gulifas và Nis chữa trị rồi.

Tất cả những người chết và phần lớn người bị thương, đều là kị sĩ của Phong chi bộ tộc do Armor dẫn dắt. Ngoài ra họ cũng hy sinh khoảng mười con ngựa.

“Thật sự vô cùng xin lỗi...” Armor đau lòng nói như vậy, đồng thời bày tỏ trách nhiệm có người tử trận đều do mình gánh chịu.

Đã bày ra bộ dạng khó coi như thế, nếu còn để Ma Mạc công vương nói thay cho mình, lòng tự tôn của bản thân sẽ không cho phép.

“Tôi sẵn sàng chấp nhận bất kỳ hình thức xử phạt nào.” Armor mang theo vẻ mặt cẩn trọng, quỳ gối trước mặt Tạp Tu.

“Lần này là trận chiến đầu tiên của Armor, xin bệ hạ lượng hình khoan hồng.” Một vị đội trưởng kị sĩ lớn tuổi của Phong chi bộ tộc khẩn cầu như vậy.

“Chiến đấu khó tránh khỏi việc có sự hy sinh, điều quan trọng nhất là tuyệt đối không được ham lập công trạng khi còn trẻ. Cậu tuyệt đối không được quên di chí của những người đã hy sinh đấy nhé.” Tạp Tu khẽ gật đầu nói với Armor như vậy.

Ngay từ đầu anh vốn không có ý định bắt vị đội trưởng kị sĩ trẻ tuổi này phải chịu trách nhiệm. Bởi vì thực ra anh sớm đã dự đoán được, Armor vì muốn cạnh tranh với Tạp Tu, mà sẽ có một số hành động hữu dũng vô mưu. Sự hy sinh chỉ có ba con người, thực ra đã ít hơn so với dự tưởng của Tạp Tu rồi.

Dù điều này đại khái cũng là nhờ nỗ lực của Tạp Tu, nhưng đương nhiên Tạp Tu không thể chỉ ca ngợi công tích của Tạp Tu, mà lại đi trừng phạt một mình phó quan được.

“Tạp Tu bệ hạ...” Armor dùng tay áo lau đi những giọt nước mắt không kìm được mà trào ra.

Tạp Tu liếc nhìn vị kị sĩ trẻ tuổi đang rơi lệ, rồi quay người đối mặt với Tạp Tu.

“Ma Mạc công tước cũng vất vả rồi.” Khi Tạp Tu nói như vậy, trên mặt anh lộ ra một nụ cười khổ.

Nhìn biểu cảm ấy, Tạp Tu liền biết quốc vương vì sao lại để anh đảm nhận chức phó quan của mình.

Chỉ là anh không biết bản thân có đạt được kỳ vọng của Tạp Tu hay không.

“Cậu cho rằng vẫn còn quái vật chứ?” “Ôm lấy suy nghĩ này để tiếp tục hành động sẽ tốt hơn.” Bị Tạp Tu hỏi vậy, Tạp Tu suy nghĩ một lúc rồi đáp.

“Nói cũng phải. Vả lại chỉ tiêu diệt quái vật ở quanh đây thôi, thì không được tính là giải quyết sự kiện lần này.” “Vâng. Tại hạ cho rằng nên đi tới nơi ở của sa tẩu, điều tra nguyên nhân gây ra sự bất thường của quái vật lần này.” Sa mạc này đang xảy ra một sự biến đổi nào đó.

Nhưng có lẽ nên nói là sự biến đổi sắp kết thúc thì hơn. Bởi vì sa mạc Gió và Lửa này, đã dần khôi phục về trạng thái trước khi nhị đại tinh linh vương Gió và Lửa ký kết minh ước rồi.

“Được, cứ để đội ngũ của Yakuba tiếp tục tuần tra tuyến đường mậu dịch, chúng ta thì về Hven một chuyến trước, rồi sau đó mới xuất phát đi đến nơi sinh sống của sa tẩu. Chúng ta phải tìm ra nguyên nhân và đưa ra cách xử lý, dù có phải nhổ cỏ tận gốc lũ quái vật cũng không sao.” Phán đoán mà Tạp Tu đưa ra, đại khái giống với những gì Tạp Tu nghĩ.

Dù sẽ không vì thế mà cảm thấy bản thân tiến lại gần vị anh hùng vĩ đại này thêm một bước, thế nhưng Tạp Tu đã tin tưởng đến mức sẵn sàng cùng anh bàn bạc sự việc, lại thêm bản thân cũng sẽ không đưa ra những câu trả lời kỳ quái, điều này khiến anh có được một cảm giác an tâm.

Danh hiệu Ma Mạc công vương dù chỉ là hư danh, thế nhưng địa vị vẫn chỉ đứng sau quốc vương Flame, số lượng kị sĩ dưới quyền cũng gần như tương đương với một trong ba đội của Kị sĩ đoàn Diều hâu sa mạc. Binh lực thế này cho dù là đối với các quốc gia trên đảo chính Lodoss như Alania, Canon hay Valis vốn đang suy yếu vì đại chiến thì cũng chẳng hề thua kém.

Cho nên Tạp Tu lại một lần nữa nhận thức sâu sắc rằng, quyền hạn mà Ma Mạc công vương sở hữu lớn đến nhường nào. Vì thế việc những người trẻ tuổi thuộc Phong chi bộ tộc như Armor ôm lấy ý thức cạnh tranh với Tạp Tu cũng là điều đương nhiên.

Cứ như vậy, bản đội của Tạp Tu cùng bộ đội của Tạp Tu chiếu theo quyết nghị quay trở về Hven trước.

Sau khi được chính miệng Tạp Tu thông báo đã tiêu diệt thành công năm con sa tẩu, người dân trong thành lần lượt vang lên những tiếng hoan hô nhiệt liệt.

Bởi vì nơi đây phần lớn là cư dân của Viêm chi bộ tộc, cho nên khi biết Ma Mạc công vương Tạp Tu lập được công lao lớn nhất, mức độ cuồng nhiệt của người dân lại càng nâng cao hơn một bậc.

Kết quả là ngay ngày hôm đó, trong thành liền tổ chức yến tiệc ăn mừng, còn hành động viễn chinh đi đến nơi cư trú của sa tẩu thì hoãn lại đến ngày hôm sau.

Bởi vì không phải là tuyến đường mậu dịch, mà là hành quân trên sa mạc không có đường đi, thế nên họ đã chiêu mộ rất nhiều lạc đà, đồng thời chuẩn bị một lượng lớn nước uống và lương thực. Dù đối với vương quốc thì đây là một khoản chi tiêu khổng lồ, thế nhưng đối với những người dân có cuộc sống khốn đốn vì tuyến đường mậu dịch bị phong tỏa mà nói, thì lại là một khoản thu nhập vô cùng đáng mừng.

Cứ như vậy, sau ba ngày du hành, Tạp Tu và Tạp Tu cùng những người khác đã đi đến sâu trong sa mạc Gió và Lửa.

Khu vực xung quanh nơi sinh sống của sa tẩu chính là cứ điểm của Viêm chi bộ tộc mà Tạp Tu từng ở khi còn nhỏ - Pháo đài Muro, đến nay vẫn lưu lại một số ít tụ lạc của Viêm chi bộ tộc.

Dù đất canh tác không nhiều, thế nhưng vì gần dãy núi trung tâm Lodoss, cho nên có thể thu được lượng tài nguyên đáng kể. Cộng thêm linh lực của nước và đại địa bắt đầu hồi phục, trong tương lai không xa, nơi đây có lẽ sẽ trở thành vùng vựa lúa trù phú cũng nên.

Đến lúc đó pháo đài này cũng sẽ trở thành trung tâm của phố xá nhỉ.

Từ sáng sớm ngày hôm đó trời đã mây mù giăng kín, hiện tại trông cũng giống như sắp sửa đổ mưa bất cứ lúc nào.

Nhìn về phía mặt đất, trên những tảng đá ở sa mạc lại mọc lên rêu xanh.

“Thật là cảnh tượng khiến người ta không thể tin nổi mà.” Tạp Tu có cảm giác như đang hoài niệm vậy.

Theo những gì anh biết, khu vực này đáng lẽ phải là một vùng sa mạc cằn cỗi. Ngay cả việc trên trời xuất hiện mây cũng là chuyện cực kỳ hiếm hoi.

(Đây chính là hiệu quả khi linh lực của nước và đại địa hồi phục sao...) Sự thật sa mạc dần xanh hóa, đối với con người mà nói là chuyện đáng mừng.

Thế nhưng đối với sa tẩu thì sao? Lũ quái vật có lẽ là để tìm kiếm môi trường thích hợp hơn để sinh sống, nên mới bắt đầu di chuyển.

“Sắp sửa bước vào khu vực nguy hiểm rồi đây.” Nhìn thấy lớp cát bụi trên sa mạc có dấu vết nhô lên, Tạp Tu liền đưa ra lời khuyên với Tạp Tu.

Tạp Tu im lặng gật đầu, đồng thời giơ hai tay lên ra hiệu cho các kị sĩ, binh sĩ phải nâng cao cảnh giác.

Dù không biết con số chính xác, thế nhưng khu vực này ít nhất cũng phải có một hai trăm con sa tẩu.

Cho dù mười người đối phó với một con, để hoàn toàn thanh trừng thì cũng cần binh lực từ một nghìn người trở lên, đương nhiên cũng phải có giác ngộ hy sinh rất nhiều người. Hơn nữa cho dù thành công, thì thứ thu về cũng chỉ là hư danh vô nghĩa mà thôi.

Cho nên để nhổ cỏ tận gốc lũ quái vật, nghĩ thế nào đi nữa cũng chẳng có giá trị thực tế.

({Điều quan trọng là đừng để quái vật rời khỏi nơi cư trú ban đầu là được. Hơn nữa con người cũng đừng ra tay với chúng.) Tạp Tu liên hệ điều này với hiện trạng của Ma Mạc rồi thầm nghĩ.

Tạp Tu phái thám báo đi trinh sát, đồng thời để bộ đội thận trọng tiến lên.

Sau đó có một thám báo báo cáo rằng hắn đã phát hiện ra một tập đoàn sa tẩu.

“Sa tẩu tụ tập ở vùng trũng trong thung lũng, số lượng ít nhất vượt quá một trăm...” “Vất vả rồi.” Tạp Tu xoa dịu thám báo như vậy, đồng thời hạ lệnh cho toàn quân đi đến nơi nhìn thấy thung lũng.

“Quái vật chắc sẽ không trèo lên vách núi để tấn công chúng ta đâu nhỉ.” Anh quay đầu cười nói với Tạp Tu như vậy.

Bây giờ vẫn có tâm trạng nói ra những lời đùa cợt, Tạp Tu cho rằng đây cũng là đặc tính anh hùng của Tạp Tu.

Bản thân đi học tập cách nói đùa có lẽ cũng tốt cũng nên, nhưng nghĩ thế nào cũng thấy điều này không hợp với mình. Tính cách bẩm sinh không phải nói đổi là có thể đổi được.

Bộ đội chiếu theo quyết định của Tạp Tu, đi đến một vùng cao nguyên có thể phóng tầm mắt nhìn xuống thung lũng. Vì thế họ phải vòng qua một đoạn đường rất lớn, cho nên đã tốn khá nhiều thời gian.

Và trong khoảng thời gian này, trên trời cũng đã hạ xuống những giọt mưa.

“Sa mạc này thế mà lại đổ mưa...” Dù mấy ngày nay đều ở trong những ngày trời nắng chói chang, thế nhưng phần lớn các kị sĩ nhìn thấy mưa đều không cảm nhận được sự ẩm ướt mà mưa mang lại, ngược lại còn cảm thấy có chút kỳ lạ.

Nhưng Tạp Tu lớn lên ở đây chắc chắn là người cảm thấy không thể thích ứng nhất trong số những người này đi. Song anh vẫn thẳng thắn đón nhận sự thay đổi này.

Khu vực này đã không còn là vùng đại địa chỉ có đá và sa mạc mà anh từng quen thuộc khi còn nhỏ nữa rồi.

“Được rồi, chúng ta tới chiêm ngưỡng dung mạo của lũ quái vật nào.” Vừa đến nơi đích đến, Tạp Tu liền không chút do dự đi đến bên vách núi.

Dù vách núi cao gấp mười lần người, không cẩn thận ngã xuống thì chắc chắn mất mạng, thế nhưng bước chân của anh vẫn vững vàng tựa như đang đi trong vương thành vậy.

Rất nhiều kị sĩ bày tỏ nguy hiểm mà muốn ngăn cản anh lại, nhưng Tạp Tu lại hoàn toàn không bận tâm.

Bản thân Tạp Tu cũng vì muốn tận mắt chứng kiến sự thật, mà đi theo sau lưng quốc vương Tạp Tu.

Họ cứ thế nhìn xuống vùng trũng trong thung lũng.

“Chúng đang làm gì vậy chứ...” Tạp Tu nhìn ngắm khung cảnh phía dưới mà lên tiếng.

Trong vùng trũng của thung lũng có mấy trăm con sa tẩu, đem toàn bộ thân thể chui ra khỏi lớp cát rồi ngước nhìn bầu trời.

Toàn thân chúng bị những giọt mưa ngày một lớn làm cho ướt đẫm.

“Trông có vẻ như đang hưng phấn vì trời mưa nhỉ.” Tạp Tu đặt tay lên cằm, nói như thể đang độc thoại vậy.

“Slein, có muốn qua đó xem thử không?” “Tôi qua ngay đây. Vừa rồi tôi chật vật lắm mới nhớ ra chú văn ‘Lạc hạ khống chế’ đấy...” Slein vẫn dùng giọng điệu thong thả như thường lệ mà nói.

Chú văn “Lạc hạ khống chế” trong cổ đại ngữ ma thuật thuộc về sơ cấp chú văn, cho nên Slein có lẽ chỉ đang nói đùa mà thôi, thế nhưng Tạp Tu lại hoàn toàn không nghe ra.

“Bố, con cũng muốn đi...” Nis đứng bên cạnh cung đình ma thuật sư Flame, cũng là người cha của mình, cất lời yêu cầu.

“Nói cũng phải, con cùng xem thử thì tốt hơn. Đây là cơ hội lớn để con biết thế nào là sinh mệnh đấy.” Slein bình thản đáp lại như vậy, sau đó ôm lấy bả vai con gái, đi đến bên cạnh Tạp Tu và Tạp Tu.

“Cậu cho là thế nào?” Tạp Tu quay đầu nhìn Slein hỏi.

“Nếu giống với dự đoán của tôi...” Cung đình ma thuật sư nhìn khung cảnh giữa các thung lũng mà đáp.

“Đừng thừa nước đục thả câu nữa, nói thẳng kết luận đi. Nếu bắt tôi lên lớp sinh vật sa mạc ở đây, thỉnh nguyện tôi bây giờ nhảy từ đây xuống, lao thẳng vào đám sa tẩu đại chiến một trận còn hơn.” Tạp Tu nở nụ cười khổ nói.

“Thừa nước đục thả câu vốn là công việc của hiền giả, nhưng đã nói vậy rồi, thì cũng đành chịu thôi.” Dẫu vậy, Slein vẫn làm một màn dạo đầu rồi mới tiếp tục nói.

“Tôi cho rằng sa tẩu sắp sửa tiến hành cuộc vũ hóa mấy trăm năm chưa từng thực hiện. Giống như thời điểm sa mạc này trước kia vẫn còn có mưa vậy.” Dựa theo điều tra của Slein, sa tẩu là ấu trùng của một loài côn trùng bay khổng lồ. Chúng sẽ đợi trời mưa rồi cùng nhau vũ hóa, trước thời điểm đó sẽ duy trì trạng thái ấu trùng mà sinh trưởng vô hạn.

Bởi vì sa mạc này trong mấy trăm năm qua, chưa từng có trận mưa nào có thể khiến chúng vũ hóa, cho nên chúng mới biến thành loài quái vật thế này.

Giờ đây mưa càng lúc càng lớn, ngay cả đại địa sa mạc khô hạn cũng đã không thể hoàn toàn hấp thụ, dẫn đến việc nước mưa tích tụ trên mặt đất, hơn nữa còn theo vách núi chảy xuống vùng trũng ở đáy thung lũng.

Dưới ánh mắt chăm chú của Tạp Tu và những người khác, vùng trũng dần dần biến thành một hồ nước nhỏ.

“Vùng trũng đó vốn dĩ là nơi tích tụ nước mưa mà. Cho nên dù chỉ là trận mưa lớn ngắn ngủi, cũng có thể hình thành hồ nước thế này.” Slein tiếp tục giải thích, đồng thời nhấn mạnh những điều vừa nói không phải là lớp học sinh vật sa mạc đâu nhé.

Những giọt nước mưa này sẽ chảy vào lòng đất sa mạc, hơn nữa còn tuôn trào ở Hven để hình thành ốc đảo.

“Có thể để lát nữa nói tiếp được không? Xem ra hình như đã bắt đầu rồi kìa.” Tạp Tu ngăn cản vị cung đình ma thuật sư tiếp tục khoe kiến thức, từ trên vách núi thò người ra chăm chú nhìn nhóm quái vật này.

Đúng như anh nói, giữa lưng của mấy con sa tẩu xuất hiện vết nứt. Bên trong có một thứ gì đó thuần trắng muốn chui ra.

Tạp Tu cũng siết chặt tay đăm đăm nhìn quái vật.

Còn Nis thì đứng bên cạnh anh giống như muốn bảo vệ đối phương vậy.

Tầm mắt của Tạp Tu không động đậy, với động tác vô cùng tự nhiên ôm lấy bả vai cô.

Các kị sĩ đi cùng cũng lần lượt đi đến bên vách núi, chăm chú nhìn khung cảnh kỳ diệu ở phía dưới.

Giờ đây lưng của đám sa tẩu này hầu như đều nứt ra cả rồi.

Cũng có những con đã hoàn toàn chui ra khỏi thung lũng, hé lộ vẻ ngoài hoàn toàn mới của mình là thành trùng. Đôi cánh trong suốt, thân thể trắng muốt, ngoại hình quả thực rất giống với những con côn trùng bay lượn trên mặt nước vào thời điểm chạng vạng. Chỉ là kích thước của chúng thì hoàn toàn không thể so sánh được, hầu như đều cao gấp đôi con người.

“Thật là kỳ diệu. Rõ ràng chỉ là thay đổi một ngoại hình, rõ ràng đều là sa tẩu giống nhau, thế mà trong mắt tôi bây giờ chúng lại xinh đẹp nhường này...” Nis khẽ nói.

“Quả thực...” Đối với sự vĩ đại của chu kỳ sinh trưởng sinh vật, Tạp Tu không khỏi cảm thấy có chút xúc động.

Dù trải qua mấy trăm năm biến dị tự nhiên, chúng cũng vẫn luôn nhẫn nại, chờ đợi thời cơ này đến.

“Trong sa mạc ở đại lục cũng sinh sống những chủng tộc tương tự với chúng. Dựa theo ghi chép trong tài liệu, chúng sau khi cùng nhau vũ hóa như thế sẽ trực tiếp tiến hành sinh sản, sau đó trong trạng thái không ăn uống sẽ đứt hơi.” Slein hắng giọng một tiếng rồi giải thích như vậy.

Dù đây cũng là đang kể chuyện sinh vật sa mạc, thế nhưng cho dù quốc vương Flame bây giờ có một mình lao vào đám quái vật, cũng sẽ không còn bất kỳ vấn đề gì nữa rồi.

Chỉ là Tạp Tu dường như đã hiểu lầm tiếng hắng giọng đó, vội vàng buông cánh tay đang ôm vai Nis ra.

Nis không khỏi lén bật cười.

“Đã là sinh sản, thì có nghĩa là sẽ sinh ra sa tẩu mới sao?” Tạp Tu lại nở nụ cười khổ hỏi.

“Dù là vậy, nhưng chỉ cần định kỳ có mưa, chắc sẽ không lớn đến mức trưởng thành khổng lồ như thế nữa đâu.” “Vậy giải thích thế nào về đám sa tẩu lạc đường chạy đến tuyến đường mậu dịch?” “Chắc là bị mùi nước hấp dẫn, cho nên mới tiến lại gần ốc đảo đấy. Nhưng có lẽ có khả năng là biến dị trong thời gian dài, khiến bản chất của chúng cũng theo đó mà mất đi sự khống chế...” Slein suy nghĩ một lúc rồi trả lời câu hỏi của Tạp Tu.

“Đại khái đại đa số sa tẩu đều đến nơi sinh sản này rồi. Nhìn đại khái cũng vượt quá ba trăm con, sa tẩu còn ở lại trong sa mạc chắc đã rất ít rồi.” “Cho nên đã không còn nguy hiểm nữa rồi sao?” “Dù không thể khẳng định, nhưng tôi cho là vậy. Hay là để phòng ngừa nguy hiểm trong tương lai, đem lũ côn trùng bay này tiêu diệt sạch sẽ trước nhỉ?” “Tiêu diệt loại thứ đó cũng chẳng được tính là công lao gì! Cứ thế trực tiếp quay về vương đô thôi.” Tạp Tu ném lại câu nói đó, liền quay lưng đi về phía chiến mã tiếp tục vũ hóa sa tẩu.

Tạp Tu và Nis cũng đi theo sau lưng quốc vương Flame.

“Côn trùng bay đẹp đẽ mà vô hại, lúc nhỏ không ngờ lại là sa tẩu hung ác xấu xí...” Cho dù là tận mắt chứng kiến quá trình vũ hóa, thì vẫn khiến người ta cảm thấy kỳ diệu.

“Đây chính là cái gọi là sinh mệnh. Nếu không cướp đoạt sinh mệnh của kẻ khác, thì không thể khiến sinh mệnh của bản thân kéo dài được.” Trong giáo lý của Mafa, đây cũng thuộc về quy luật của tự nhiên.

Tạp Tu sâu sắc gật đầu đồng ý với lời nói này của Nis.

“Tôi không phải vì nhìn thấy sự thay đổi của sa tẩu nên mới nghĩ vậy đâu...” Tạp Tu lấy đó làm màn mở đầu rồi nói tiếp.

“Nhưng đại tự nhiên ít nhiều gì cũng thừa nhận sự tồn tại của hắc ám. Ma Mạc quả thực khá hắc ám, thậm chí đã đến cảnh giới quá mức, nhưng tôi không cho rằng tất cả những điều này đều trái với tự nhiên. Vả lại sinh mệnh hay thậm chí là lòng người cũng đều có sự tồn tại của hắc ám, nhưng tôi vẫn sẽ tôn trọng sinh mệnh, cũng sẽ không vì thế mà ghét bỏ con người...” Nis im lặng nhìn Tạp Tu đang nói với vẻ mặt nghiêm nghị.

“Cho nên, dù tôi có thích ai đi chăng nữa, ý tôi là, chính là chuyện như vậy đó.” Tạp Tu cũng tự giác được rằng, những lời bản thân vừa nói hoàn toàn không nói đến điểm chính.

Cho nên anh giống như muốn bổ sung vậy, dùng hơi dùng sức một chút ôm lấy Nis.

Chỉ cần bao dung toàn bộ của cô ấy, thậm chí là kiếp trước từng tà ác của cô ấy là được.

Hoàn toàn không cần thiết phải đặc biệt đi phủ nhận quá khứ của cô ấy.

Bởi vì đối với Nis mà nói, thứ đó chẳng qua chỉ là cái xác bỏ lại sau khi vũ hóa mà thôi...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.