Dương Châu và Đại Cốc vốn là chốn hoang vu tịch mịch, nay bỗng chốc biến thành nơi chao đảo ngầm.
Võ quan Dương Châu trước giam Mông Điềm, hẻm núi Đại Quận sau giam Mông Nghị, hai sự việc nối tiếp nhau khiến người trong thiên hạ đều phải trố mắt kinh ngạc.
Lại nói từ khi Đại tướng quân Mông Điềm bị tống vào ngục Dương Châu vào tháng Tám năm ngoái, tòa thành nhỏ nằm ở phía bắc Trường Thành thời Tần cổ ấy lập tức trở nên sục sôi. Các sứ giả của mạc phủ Cửu Nguyên qua lại như dệt thoi, các viên tướng trấn thủ chốn biên cương vừa nghe tin đã phóng như bay tề tựu về Dương Châu để thăm dò. Dân chăn thả trên đại thảo nguyên Âm Sơn dắt theo từng đàn bò, đàn cừu, đàn ngựa ầm ầm kéo đến. Hàng vạn lao dịch vốn bị cấm trở về quê hương, nay đổi thành đi xuống phía nam Trường Thành để khai phá đường trực đạo, tay xách cuốc sắt, vai mang bọc hành lý, ào ạt đổ về từ các đồn trú dọc Trường Thành như dòng nước chảy róc rách. Bên ngoài thành Dương Châu nhỏ bé, dòng người tấp nập kéo đến không dứt ngày đêm. Mọi người đều thừa biết mình không thể gặp được Đại tướng quân Mông Điềm nay đã trở thành tù nhân, nhưng họ vẫn ngày đêm lang thang bên ngoài thành Dương Châu, đốt lửa trại bừng bừng, uống đủ loại rượu cũ, vừa nhắc đến Phù Tô, vừa nhắc đến Mông Điềm, chửi rủa, hò hét nhất quyết không chịu rời đi.
Vào một ngày đầu tháng Chín, quận thủ Thượng Quận cũng dẫn theo đội kỵ mã phóng như bay đến. Quận thủ kìm cương ngựa ngoài thành, triệu tập huyện lệnh và huyện úy Dương Châu, mặt sầm lại ra lệnh tại chỗ: Thương nhân và bách tính trong thành Dương Châu đều phải ra khỏi thành, người thì bán cơm rượu, kẻ thì nấu cơm rượu, tóm lại không được để bất kỳ một binh sĩ hay bách tính nào lặn lội đường xa đến đây mà phải chịu cảnh đói rét. An đốn xong hàng vạn người ở chốn đồng hoang, quận thủ Thượng Quận lập tức vào thành, vội vã tiến thẳng tới nhà ngục giam giữ tội nhân của các quận miền Bắc. Viên ngục lệnh già rõ ràng mang theo mật chiếu không cho phép tư thấu trọng phạm, thế mà vẫn không nói một lời, dẫn thẳng quận thủ vào cánh cửa đá tối tăm.
– Đại tướng quân, triều đình phát tang băng hà rồi!
Quận thủ vừa bước chân vào cửa đã hô lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống đất.
– Thật vô lý! Phát tang hồi nào?
Một vị tướng quân đeo mặt nạ da màu nâu đứng bên cạnh phẫn nộ kinh ngạc hỏi.
– Hồi... hồi sáng nay...
Quận thủ run rẩy móc từ chiếc hộp da bên hông ra một nhúm lụa trắng.
– Để ta xem!
Tướng quân mặt nạ giật phắt lấy dải lụa trắng rồi giũ ra, vừa liếc qua cũng mềm nhũn ngã quỵ xuống đất.
– Lão ngục lệnh, hãy lấy thuốc trợ tim của lão phu cho tướng quân uống vào.
Mông Điềm mặc thường phục đang ngồi trên chiếu cỏ ở góc tối, đối diện với một vạt nắng rọi vào từ khung cửa sổ nhìn ra núi phía sau, thân hình tĩnh lặng y như một bức tượng đá, dường như hoàn toàn không hay biết gì trước tin tức chấn động trời đất này. Nói dứt câu, ông lại ngồi cúi gục người bất động.
Lão ngục lệnh cùng quận thủ hì hục cạy hàm vị tướng quân mang mặt nạ kia ra, đút cho hắn một viên thuốc màu đen to bằng hạt ngô đã bẻ vụn. Chưa đầy chốc lát, vị tướng quân mặt nạ đột ngột mở trừng hai mắt, tung người đứng phắt dậy, vái dài một cách hiên ngang rồi nói:
– Đại tướng quân nếu không quyết đoán ngay, thì sẽ bỏ lỡ mất cơ hội cuối cùng!
– Đúng vậy! Đại tướng quân nếu không quyết đoán, Thượng Quận sẽ xảy ra đại sự mất!
Quận thủ lập tức phẫn nộ phụ họa theo.
– Tướng quân Vương Ly, lão quận thủ, hai vị cho phép lão phu được nói một lời, có được không?
Sau một khoảng trầm ngâm dài, giọng nói trầm đà khàn khàn của Mông Điềm vang lên. Lão quận thủ vô cùng kinh ngạc, lúc này mới biết vị tướng quân mang mặt nạ kia chính là thống soái mới của Cửu Nguyên là Vương Ly. Trong cơn ngẩn ngơ, lão vội vàng theo Vương Ly đáp lời:
– Tại hạ xin sẵn sàng lắng nghe chỉ giáo!
– Triều đình phát tang, mọi mối nghi ngờ đều tan biến, sự việc này đã quá rõ ràng rồi!
Mông Điềm từ đầu đến cuối vẫn không quay người lại, mái tóc bạc phơ bù xù khẽ run lên bần bật theo từng tiếng nói già nua xào xạc như lá rụng:
– Điều này rõ ràng nói lên rằng đại cục triều đình đã bị lật ngược. Kẻ ban chết cho đại công tử và lão phu, không phải là tâm nguyện của Tiên đế, mà là do tân quân thái tử làm ra. Nói về thái tử, nói về tân quân, chắc chắn không ai khác ngoài hoàng tử non trẻ Hồ Hợi...
– Phải! Thượng Quận nhận chiếu, chính là do hoàng tử non trẻ Hồ Hợi ban xuống.
– Bệ hạ ơi, ngài quá tin người, sao lại tính toán sai lầm đến thế này...
Mông Điềm đau đớn ôm lấy mái đầu bạc trắng, tấm lưng còng khẽ run lên rồi co quắp lại thành một cục. Chẳng còn sự phẫn uất bi tráng nào nữa, chỉ còn lại tiếng thở dài tuyệt vọng mà tĩnh lặng, khiến người ta không nỡ nhìn thêm.
Hồi lâu sau, Mông Điềm dần ngồi thẳng người dậy, đăm đăm nhìn bầu trời xanh ngắt ngoài khung cửa sổ. Giọng nói vang lên nghe xào xạc tựa lá rụng:
– Không phải lão phu không thể quyết đoán, mà là đại thế định quốc ép buộc phải thế. Cửu Nguyên nắm giữ hơn ba mươi vạn binh mã, thân lão phu tuy bị giam cầm, nhưng nếu muốn dấy binh định quốc, thế lực ấy hoàn toàn đủ! Thế nhưng, điều cuối cùng lão phu không thể làm được là do bốn nguyên nhân sau. Thứ nhất, Bệ hạ đã qua đời, tâm nguyện không có ý định hại công thần của Bệ hạ đã rõ, lòng lão phu nay đã yên ổn! Thứ hai, đại công tử đã ra đi, dù cho có lật đổ được Hồ Hợi đi nữa, thì còn ai có thể làm Nhị thế hoàng đế đây? Thứ ba, bức bình phong an nguy của thiên hạ, toàn bộ đều nằm ở đại quân Cửu Nguyên. Bọn ta nếu dấy binh nam chinh, thì cửa ải phương bắc sẽ mở toang, Trường Thành chẳng khác nào bù nhìn. Nếu Hung Nô nhân cơ hội này đại cử nam hạ, Tiên đế và chúng ta còn mặt mũi nào để đối diện với thiên hạ nữa đây! Thứ tư, họ Mông vào Tần đã ba đời, từ tổ tiên ta cho đến con cháu, tích lũy công trạng và lòng tin đối với nhà Tần, tính đến nay đã ba đời rồi! Lão phu nếu dấy binh phản Tần, nhất định sẽ làm nhục đến ba đời nhà họ Mông, tội ác ấy là lớn nhất!...
– Đại tướng quân... chẳng lẽ ngài vẫn còn đặt hy vọng vào Tần II thế sao?
Vương Ly vừa bối rối vừa phẫn uất.
– Hoàng tử non trẻ Hồ Hợi, hắn là cái thá gì chứ?
Lão quận thủ tỏ ra vô cùng khinh miệt.
– Nếu có thể lắng nghe nhiều phía và cùng nhau bàn bạc, họa chăng vẫn còn hy vọng...
– Ai cùng ai bàn bạc chứ? Thừa tướng còn chẳng thèm lên tiếng nữa là!
Vương Ly phẫn nộ nói.
– Tướng quân Vương Ly, đã là thống soái của Cửu Nguyên rồi, sao lại có thể nông nổi bàn chuyện như vậy?
Mông Điềm cuối cùng cũng quay người lại, đôi mắt già nua đong đầy hai hốc lệ:
– Tướng quân tập tước vị công thần Vũ Thành hầu của đại phụ, nay lại nắm trong tay trọng binh. Sau lão phu, tướng quân phải gánh vác trọng trách an quốc, buộc phải đặt đại cục lên làm trọng, lấy đại nghĩa làm đầu, chớ vì một mình lão phu chịu oan ức mà nổi lên ý niệm dấy binh. Muốn an quốc, điều cốt yếu nhất đối với tướng quân là phải hợp sức với Thừa tướng. Lão phu tin chắc rằng, Lý Tư dẫu có sa chân vào chốn bùn nhơ nhất thời, nhưng rốt cuộc vẫn có chí hướng vì đại sự triều chính, rốt cuộc vẫn không nỡ để đất nước và bách tính đại loạn. Chỉ cần Lý Tư còn ở ngôi vị Thừa tướng, nhất định sẽ có ngày hối ngộ, đến lúc đó, tướng quân chính là hậu phương vững chắc cho ông ta... Nếu tướng quân và lão phu cùng sa vào vũng bùn này, dưới suối vàng, lão phu lấy mặt mũi nào để gặp lại Vương Tiễn lão đại gia, lấy mặt mũi nào để gặp lại Vương Bôn lão huynh đệ đây!
– Đại tướng quân!...
Vương Ly đột ngột sụp lạy xuống đất, ôm mặt khóc nức nở.
Khi màn đêm buông xuống, Vương Ly và quận thủ cuối cùng cũng nặng nề bước ra khỏi nhà ngục cửa đá chật hẹp ấy. Theo sự bố trí của Mông Điềm, hai người cùng với huyện lệnh Dương Châu, mỗi người dẫn dắt quân lính thuộc quyền chia nhau đi khuyên nhủ hàng vạn người đang tụ tập bên ngoài thành. Phải tốn biết bao lưỡi khoẻ lưỡi mềm ròng rã suốt ba ngày trời, biển người đen nghịt ấy mới dần dần giải tán.
Vương Ly phi ngựa trở về Cửu Nguyên, lập tức viết một bức thư khẩn, phi nhanh trong đêm trình lên Hàm Dương, đồng thời mật báo cho Thừa tướng Lý Tư, dốc sức can gián Nhị thế đại xá và trọng dụng lại Mông Điềm. Thượng thư của Vương Ly nói thẳng không kiêng dè: "Thần là tướng quân tuổi trẻ, chưa từng được tôi luyện qua trận mạc, tuy nắm trọng binh ở cửa ngõ quốc gia, nhưng thực sự không gánh nổi trọng trách! Nhà họ Mông là công thần ba đời, trung tín ba đời, đối với quân đội và bách tính đều có uy vọng sâu sắc, thực sự là trụ cột chống trời nơi biên cương phía bắc của đại Tần, triều đình sao có thể tự tay phá hủy rường cột của chính mình! Sao có thể tự tay hủy hoại Trường Thành của mình chứ! Hiện nay Hung Nô đã dần tụ tập lại ở thảo nguyên Bắc Hải, tâm địa xâm phạm Trung Nguyên đời đời không dứt, nếu triều đình không trọng dụng lại Đại tướng quân Mông Điềm, thì nguy nạn của thiên hạ ắt sẽ xảy ra! Thần không thể bảo đảm Âm Sơn được vô sự, không thể bảo đảm Cửu Nguyên được vô sự, khẩn thiết mong Bệ hạ suy xét lại cho kỹ!"
Thượng thư của Vương Ly đương nhiên lại chìm nghỉm như muối bỏ biển. Lúc bấy giờ, Lý Tư đang bận rộn tối tăm mặt mũi tại lăng mộ Ly Sơn. Hơn nữa, chiếu thư bức hại Phù Tô và Mông Điềm vốn do chính tay Lý Tư thảo ra, làm sao Lý Tư có thể nói với vị Nhị thế vừa mới lên ngôi về việc đại xá và trọng dụng lại Mông Điềm cho được? Thế nhưng thế lực nhà họ Vương quá lớn, Vương Ly lại tuổi trẻ cương liệt, không thể làm ngơ không đếm xỉa tới. Vì vậy, Lý Tư đành chơi trò qua loa đối phó với Vương Ly, chỉ phái một tên xá nhân đi lên phía bắc thông báo cho Vương Ly rằng: Thừa tướng nhất định sẽ tương trợ tướng quân, can gián Nhị thế, mong tướng quân hãy an tâm với việc quân.
Điều mà cả Vương Ly lẫn Lý Tư đều không ngờ tới chính là, Nhị thế Hồ Hợi lại có chút dao động trong lòng. Một là Phù Tô đã chết rồi, loại uy mối đe dọa lớn nhất mà Triệu Cao nói đến đã không còn nữa; hai là bản thượng thư của Vương Ly quá cứng rắn, khiến Hồ Hợi sinh ra một nỗi sợ hãi mới. Hồ Hợi tuy là một kẻ đầu óc ngu ngốc về chính trị, nhưng suy cho cùng hắn cũng biết thừa rằng, đại quân của Vương Ly chặt đầu người còn nhanh hơn cả đại quân Hung Nô.
Triệu Cao hay tin Vương Ly dâng sớ, liền tìm gặp Hồ Hợi tại cung Lan Trì cách Hàm Dương mười dặm về phía đông. Triệu Cao với vẻ mặt nghiêm nghị, nói một cách vô cùng thẳng thừng:
– Lão thần xin bẩm báo Bệ hạ, Phù Tô và họ Mông vốn là gốc rễ của nhau, Phù Tô chết mà họ Mông vẫn còn tồn tại, nhổ cỏ không tận gốc, ắt sẽ để lại hậu họa về sau! Năm xưa Tiên đế mấy lần muốn lập Bệ hạ làm thái tử, đều bị Mông Nghị kiên quyết can ngăn, nhiều lần nói là không được. Mông Nghị là ai? Hắn chính là Phù Tô, là Mông Điềm, ngoài ra còn có ai khác nữa chứ! Nay Phù Tô đã chết mà Mông Điềm bị tống giam, vốn dĩ đã đắc tội với nhà họ Mông, họ Mông sao có thể không ôm hận trong lòng? Nếu Bệ hạ lại ân xá cho Mông Điềm, chẳng khác nào thả hổ về rừng, thì cái đầu của Bệ hạ còn giữ được nữa không!
– Cũng... chặt đầu luôn sao?
Hồ Hợi chợt giật mình kinh hãi.
– Nhất định phải chặt!
– Kế sách nay phải tính sao đây?
– Không những không thể ân xá cho Mông Điềm, mà còn phải bắt Mông Nghị tống giam.
– Thế... còn Vương Ly lại định dập đầu xin chặt đầu thì xử lý thế nào?
– Vương Ly chỉ là kẻ hậu sinh, nếu hắn có bản lĩnh chặt đầu người, thì cần gì phải dựa dẫm vào nhà họ Mông nữa?
– À — Vương Ly cứu Mông Điềm, là bởi hắn không có thực lực để chặt đầu! Có phải vậy không?
– Bệ hạ anh minh!
– Hay lắm! Trẫm biết rồi.
Hồ Hợi vỗ bàn tự đắc vì năng khiếu thiên bẩm xuất chúng của mình.
Chính bằng một màn đối đáp kỳ quái hoang đường như vậy, đội kỵ mã đặc sứ của Nhị thế Hồ Hợi đã phóng như bay đến Lũng Tây. Đặc sứ chính là Triệu Thành — em họ của Triệu Cao. Triệu Thành mang theo chiếu thư bổ nhiệm Mông Nghị làm Tuần quân sứ miền Bắc, lừa Mông Nghị đến quận Đại xa xôi, giam giữ bí mật trong một ngục thất nhỏ chuyên giam giữ quân phạm nơi hẻm núi lớn đất Đại (Đại Cốc). Dù rất kín đáo, tin tức ấy vẫn bay nhanh lan khắp các quận biên cương rồi truyền vào Hàm Dương.
Lễ tang của Thủy Hoàng đế còn chưa kết thúc, Nhị thế Hồ Hợi lại một lần nữa giật mình kinh ngạc. Lần này, là một vị tôn thất lão gia dâng sớ, giọng điệu trong thư mang ý trách móc rất lớn. Vị hoàng tộc công tử này tên là Tử Anh, là một người em thúc bá họ hàng gần của Thủy Hoàng đế. Dù là em họ của Tiên đế, nhưng tuổi tác lại lớn hơn Hồ Hợi chỉ mười mấy tuổi. Theo tẩm sự bẩm báo của quan phủ Thái tử phó, vị Tử Anh này là người có chính đạo tài năng nhất trong số các hoàng tử đời trước, học hành gian khổ, luyện võ cũng gian khổ, được các hoàng tử đời trước tôn sùng ủng hộ nhất. Hồ Hợi ghét nhất là có kẻ nói ai đó có tài năng chính đạo, vừa nghe Thái tử phó thừa bẩm báo là mặt đã sầm lại, đọc kỹ sớ văn xong sắc mặt lại càng âm trầm hơn.
Bản thượng thư của Tử Anh chính là một tia nắng chiều rực rỡ chói lọi trong buổi hoàng hôn của đế quốc, nay xin ghi lại như sau:
Thần nghe nói: Vua Triệu Uẩn thuở trước giết bỏ bề tôi trung lương Lý Mục mà trọng dụng Nhan Tụ, vua Yên Hỉ ngầm dùng mưu kế của Kinh Kha mà bội ước với nhà Tần, vua Tề Kiến giết bỏ bề tôi trung thành đời đời mà dùng mưu kế của Hậu Thắng. Ba vị vua ấy, đều vì thay đổi phép tắc cổ nhân mà mất nước, đồng thời cũng chuốc họa vào thân. Nay nhà họ Mông, là đại thần mưu sĩ của nước Tần! Bệ hạ muốn một sớm một chiều mà diệt trừ họ, thần trộm nghĩ là không thể được! Thần nghe nói: Kẻ suy nghĩ nông nổi thì không thể trị quốc, kẻ tự cho mình là khôn ngoan một mình thì không thể giữ được vua. Giết hại trung thần mà đề bạt kẻ không có tiết hạnh, ấy là bên trong khiến quần thần không tin tưởng lẫn nhau, mà bên ngoài khiến lòng dạ các tráng sĩ ly tán vậy! Thần trộm nghĩ là không thể được!
– Thật quá vô lý!
Hồ Hợi đập bàn hét lớn mấy tiếng liền:
– Ta là kẻ nông nổi đấy! Ta là kẻ độc đoán thông minh đấy! Ta là kẻ giết hại công thần đấy! Đều là ta cả đấy, thì đã sao nào? Chỉ riêng ngươi là tên tiểu tử quên mất, ta mới là hoàng tử! Giết họ Mông thì sao chứ? Ta cứ thích giết đấy! Có một ngày, ngay cả lũ chúng mày ta cũng giết sạch! Ngươi làm gì được ta nào? Chặt đầu Hồ Hợi ư? Ta chặt đầu ngươi trước!...
Trong tiếng hét om sòm liên hồi của Hồ Hợi, một ngự sử mới được cất nhắc tên là Khúc Cung mang theo mật chiếu của Hồ Hợi cùng những lời dặn dò bí mật của Triệu Cao, phóng ngựa như bay đến đất Đại.
Triệu Thành đang canh gác ở Đại Cốc nhận được mật chiếu và lời dặn mật, liền lập tức cùng Khúc Cung chạy đến ngục thất Đại Cốc. Trong hang đá tối tăm, Triệu Thành đã nói với Mông Nghị những lời thế này:
– Mông Nghị đại nhân, Bệ hạ có chiếu chỉ, nói rằng Thừa tướng Lý Tư tố cáo đại nhân bất trung, tội ác liên lụy đến cả tông tộc. Cớ chứng cứ ư, chính là khi Tiên đế muốn lập thái tử, đại nhân đã nhiều lần gây khó dễ. Mông Nghị là ai chứ? Hắn chính là Phù Tô, là Mông Điềm, há còn có ai khác nữa sao! Nay Nhị thế hoàng đế cũng không nỡ công khai trị tội đại nhân, nên ban cho đại nhân được tự sát. Nói cho phải phép, so với việc bị chém ngang lưng ở chợ, thế này cũng coi như đại nhân may mắn lắm rồi. Đại nhân thấy thế nào?
– Triệu Thành, một lũ lời lẽ hoang đường mà cũng muốn lừa gạt lão phu sao?
Ánh mắt Mông Nghị lóe lên vẻ lạnh lẽo sát khí thấu xương được tôi luyện qua những năm tháng chốn cung đình:
– Lão phu vào cung từ thủa thiếu thời, theo sát Tiên đế mấy chục năm. Người thấu hiểu tâm can Tiên đế, lão phu tự nhận không hổ thẹn với lòng! Tiên đế mấy chục năm tôi luyện hoàng tử, nhưng mấy khi có ý định lập thái tử, lại càng mấy khi có ý định lập hoàng tử non trẻ làm thái tử chứ? Chuyện trữ quân, Mông Nghị dám mở miệng can gián câu nào, dám mưu tính điều gì chứ! Lời nói của các người làm nhục nhã sự anh minh của Tiên đế, thật là sai lầm lớn! Lão phu dẫu có phải chết đi, cũng không dung tha cho việc mượn danh nghĩa Tiên đế để mở ra thói quen chém giết. Ngày xưa Tần Mục công tuẫn táng giết ba tôi trung, phế truất Bách Lý Hề, bị thiên hạ gọi là "Mục". Tần Chiêu vương giết Bạch Khởi, Sở Bình vương giết Ngũ Hư, Ngô vương Phu Sái giết Ngũ Tử Tư, bốn vị vua ấy đều là những kẻ mất mát lớn của thiên hạ. Ngạn ngữ chính trị có câu: "Kẻ dùng đạo lý để cai trị thì không giết người vô tội, mà hình phạt không giáng xuống đầu kẻ vô cô." Các ngươi nếu có chút lương tâm, xin hãy đem những lời của Mông Nghị này bẩm báo rõ ràng với Nhị thế hoàng đế. Làm được như vậy, lão phu mãn nguyện lắm rồi!
– Chỉ có điều, đại nhân hôm nay chắc chắn phải chết.
Triệu Thành cười một cách dữ tợn.
– Mông Nghị vô tội mà có công, tuyệt đối sẽ không tự sát để nhận tội.
– Đã vậy, tại hạ đành phải tự mình ra tay thôi.
– Được.
Mông Nghị đột ngột đứng phắt dậy, cười nhạt một tiếng:
– Lão phu đường đường là một vị đại thần Thượng khanh, dẫu không có cơ hội báo quốc, thì cũng phải khiến thiên hạ hiểu rõ rằng: Không phải Mông Nghị nhận tội cúi đầu chịu phép, mà cái đầu của Mông Nghị, chính là bị kẻ quân vương hôn ám chém rơi xuống đất. Dưới suối vàng, lão phu cũng có thể ngẩng cao đầu mà đi gặp Tiên đế...
– Hay lắm! Lão phu tiễn ngươi một đoạn!
– Tiên đế Bệ hạ! Ngài có biết mình sai rồi không —
Tiếng hô của Mông Nghị vừa dứt, một luồng kiếm quang tàn độc lóe lên.
Một chiếc đầu lâu râu tóc điểm bạc cùng với dòng máu tươi vọt bắn tung tóe lăn xuống mặt đất...
Cái chết của Mông Nghị, chính là chiếc đầu người đẫm máu rơi xuống đầu tiên trong cuộc đại biến buổi hoàng hôn của đế quốc.
Trong số phận bi thảm của tập đoàn Phù Tô và nhà họ Mông, chỉ có duy nhất Mông Nghị là không chấp nhận chiếu thư "ban chết" mà cự tuyệt việc tự sát. Mông Nghị, là người bị sát hại một cách công khai. Nhân tài từng bước vào trung chốn trung súng đế quốc nắm giữ cơ mật từ thuở thiếu niên này, từng lập ra không biết bao nhiêu công lao thầm lặng cho sự nghiệp kiến thiết đế quốc. Khí tiết cương liệt cùng phong thái chấp pháp uy nghiêm của ông, đã biến ông trở thành nhân vật cốt yếu nhất mà thế lực mưu mô của Lý Tư, Triệu Cao và Hồ Hợi phải khiếp sợ nhất. Ý nghĩa của Mông Nghị nằm ở chỗ, ông là một trong số ít nhân vật mang tính chất bước ngoặt giả định trong lịch sử Trung Quốc. Gần như có thể khẳng định chắc chắn rằng, giả như Mông Nghị trong chuyến tuần thú lớn cuối cùng không rời khỏi Thủy Hoàng đế, thì tuyệt đối sẽ không có khả năng xảy ra mưu đồ ám muội của ba tên Lý, Triệu, Hồ. Bởi vì Mông Nghị là đại thần tổng lĩnh chính vụ thư phòng của hoàng đế, là người nắm giữ trực tiếp các công văn cơ mật của hoàng đế, lại là đại thần cốt lõi tôn phò Phù Tô, tuyệt đối sẽ không có chuyện ngâm chiếu thư của Thủy Hoàng đế mà không phát đi. Hơn thế nữa, Mông Nghị còn là vị thượng quan mà Triệu Cao căm thù nhất nhưng lại chẳng thể làm gì nổi. Xét từ ý nghĩa sinh thái chính trị, Mông Nghị chính là thiên địch của Triệu Cao, là thiên địch của những loại âm mưu cung đình kiểu này...
Khi mọi thứ đều đã trở thành quá khứ xa vời, hậu nhân không khỏi cảm thán muôn vàn: Rằng là tất yếu hay ngẫu nhiên? Là do người tính hay do trời định đây!
Mang theo cái đầu của Mông Nghị, đội kỵ mã của Triệu Thành và Khúc Cung tiến về phía nam đến Dương Châu.
Khi Triệu Thành bước vào hang động ngục thất, Mông Điềm đang nằm ngủ say sưa dưới vạt nắng mùa thu bên khung cửa sổ nhìn ra núi. Lão ngục lệnh nhẹ nhàng đánh thức Mông Điềm dậy. Mông Điềm ngồi dậy liếc nhìn Triệu Thành trông giống hệt Triệu Cao, lạnh lùng cười nhạt một tiếng:
– Lão phu hiểu rồi, chó gà nay đã vào miếu.
Dù Triệu Thành có mặt dày tim đen thành tính đến đâu, cũng bị những lời khinh miệt này của Mông Điềm làm cho đỏ bừng cả mặt. Hắn nổi giận hầm hầm quát lớn:
– Mông Điềm! Ngươi có tội lớn! Đệ đệ ngươi là Mông Nghị cũng có tội lớn! Ngày chết của ngươi, chính là hôm nay đây!
Mông Điềm nhạt cười đáp:
– Nếu lão phu không muốn chết, đừng nói là một kẻ tiểu nhân họ Triệu như ngươi, cho dù là Nhị thế hoàng đế cũng chẳng làm gì nổi lão phu đâu. Không tin lời ta nói, các ngươi cứ thử mà xem.
Triệu Thành vốn đã nghe tin thành Dương Châu bị đám dân lưu vong và binh lính vây khốn nhiều ngày nay, trong lòng thực sự không dám coi thường Mông Điềm. Hắn suy nghĩ một lát, liền dịu nét mặt lại, vái dài một cái rồi nói:
– Tại hạ chỉ phụng mệnh triều đình hành sự mà thôi, nếu tướng quân không châm chọc tại hạ, thì tại hạ nào dám mạo phạm Đại tướng quân? Chuyện mạo phạm vừa rồi, mong Đại tướng quân lượng thứ.
Mông Điềm lãnh đạm nói:
– Các ngươi có lời gì thì cứ nói thẳng ra.
Triệu Thành thưa:
– Đệ đệ của tướng quân đã bị áp giải về quận Nội Sử để giam giữ tra xét. Hôm nay tại hạ đến đây, là phụng chiếu thư của Bệ hạ ban chết cho tướng quân, thực sự là đắc tội rồi.
– Lão phu dẫu có phải chết, nhưng có một việc muốn xin các hạ một lời hứa.
– Tướng quân cứ nói.
– Lão phu có một bức thượng thư gửi Nhị thế hoàng đế, các hạ phải thay ta dâng lên.
– Nếu tướng quân tấu xin lại từ đầu, tại hạ không dám tuân mệnh.
– Lão phu tấu xin lại từ đầu với Tiên đế cũng được chứ sao, còn tấu xin lại với Nhị thế thì chẳng phải là kẻ có mắt như mù hay sao!
– Nếu tướng quân đã chết, tự khắc Triệu Thành này sẽ thay ngài dâng thượng thư lên.
Mông Điềm bước đến chiếc bàn gỗ ở góc tối, ôm lấy một chiếc hộp gỗ rồi mở nắp ra. Đập vào mắt là một tấm da cừu màu trắng ngà được gấp vuông vức bốn góc. Triệu Thành vừa liếc nhìn một cái, Mông Điềm liền đẩy sập nắp hộp lại rồi đưa cho Triệu Thành. Sau đó, Mông Điềm quay người cầm lấy cây bút lông sói quản đồng trên bàn, bước đến trước mặt lão ngục lệnh rồi nói:
– Lão ngục lệnh, đây là cây bút Mông Điềm cuối cùng do tự tay lão phu làm ra trong những năm gần đây, xin nhờ ngài tận tay trao lại cho tướng quân Vương Ly.
Lão ngục lệnh giàn giụa nước mắt đón lấy cây bút, gật đầu liên hồi khóc không thành tiếng.
Mông Điềm quay người đi về góc bên kia đối diện với chiếc bàn gỗ, xóc một tấm vải thô lên, ôm lấy chiếc đàn Tần Tranh chưa từng rời khỏi thân mình suốt một đời người. Ông búng mạnh một tiếng trên dây đàn, ngửa mặt dài thán một tiếng:
– Đàn Tần Tranh hỡi Tần Tranh, ngươi hãy cùng lão phu đi thôi!
Hai tay giơ cao định đập nát xuống, lão ngục lệnh hét lớn một tiếng lao tới đỡ lấy cánh tay Mông Điềm khóc lóc:
– Đại tướng quân, Tần Tranh vào ngục mà chưa từng cất lên tiếng vang nào, Đại tướng quân sao lại nỡ lòng nào chứ!
Mông Điềm sững người giây lát, rồi cười vang đầy khái khí:
– Được! Lão phu sẽ tấu một khúc, khiến Tần Tranh ngân vang lanh lảnh rồi hãy đi!
– Vâng. – Lão ngục lệnh nghẹn ngào đáp lời, đoạn quay người hướng ra ngoài hét lớn với giọng khàn đặc:
– Bày hương án —!
Tiếng bước chân vội vã vang lên ở sân ngoài, chỉ chốc lát sau một chiếc hương án đã được bày biện xong xuôi. Lão ngục lệnh cùng một viên ngục lại già cung kính nâng chiếc đàn Tần Tranh đi ra khỏi ngục thất, đặt ngay ngắn lên hương án. Mông Điềm chỉnh tề thay lại y phục, búi tóc, đội mão, khoác trên mình bộ áo dài bằng vải bố mộc mạc sạch sẽ, thong thả bước ra khỏi ngục thất, tiến đến trước chiếcàn Tần Tranh đặt giữa sân nhỏ.
Ánh nắng mùa thu buổi chiều rọi xuống rực rỡ vô cùng, bầu trời xanh ngắt cao vời vợi. Mông Điềm giẫm lên lớp lá rụng xào xạc, ngẩng đầu nhìn vòm mây trắng nhẹ nhàng trôi lững lờ trên bầu trời xanh thẳm, rồi bình thản ngồi xuống trước chiếc bàn. Bỗng chốc, tiếng đàn vang lên bi tráng gầm rú, tiếng hát già nua của Mông Điềm cũng cất lên đầy sục sôi —
Người Tần hưng bang rực rỡ sấm chớp rền vang
Cầu biến đồ tồn khắc phục nan hiểm
Từng bước thây phơi từng tấc giang sơn
Sáu đời hùng liệt một phép oai nghiêm
Lớn lao thay!
Theo Tiên đế mang thanh kiếm dài
Sa vào trận địch khúc khải hoàn về
Quét sạch sáu cõi thành một mối thống nhất
Sáng tạo tân chính sao mà rạng rỡ thay
Trường Thành như sắt giặc Hồ bỏ chạy
Nhuệ sĩ tung hoành khói sói tắt lịm
Than ôi!
Miếu đường quyền biến người lành ra đi
Thương cho bách sinh chốn nào có vườn dâu...
Theo tiếng đàn Tần Tranh dồn dập vang dội, theo khúc ca Tần âm già nua hào hùng, các ngục lại ngục tốt chen chúc chật ních cả sân nhỏ. Tiếng khóc, tiếng đàn và tiếng hát hòa quyện vào làm một, bay lượn trong ngọn gió thu hiu hắt vút lên bầu trời xanh vô tận, thảo nguyên vô tận... Không biết từ lúc nào, Mông Điềm thản nhiên đứng dậy, bước vào trong ngục thất, cầm lấy chiếc chén sành trên bàn uống cạn một hơi.
Một tiếng ực vang lên, Mông Điềm cười nhạt lẩm bẩm tự nói một mình:
– Ta có tội gì với trời xanh đâu, vô tội mà phải chịu chết ư!
Một cơn gió thu quét qua, lá rụng bay xoay vòng, Mông Điềm lại mỉm cười:
– Phải rồi, Mông Điềm đáng phải chết lắm chứ! Từ Lâm Thao cho đến Liêu Đông, mở ra vạn dặm Trường Thành, khiến hàng vạn lê dân đến nay vẫn không được về nhà, Mông Điềm há chẳng đáng chết hay sao?
Trong nụ cười nhạt nhòa, trong tiếng lẩm bẩm tự nói, thân hình vạm vỡ lảo đảo một bước, cuối cùng đổ rầm xuống đất.
Cái chết của anh em họ Mông chính là bi kịch lớn nhất của đế quốc nhà Tần.
Trong lịch sử đế quốc Tần, gia tộc họ Vương lấy cha con Vương Tiễn, Vương Bôn làm trục chính, cùng với gia tộc họ Mông lấy anh em Mông Điềm, Mông Nghị làm trục chính, được công nhận là hai đại gia tộc huân công của đế quốc. Nếu xét về gốc rễ, họ Mông thậm chí còn hùng mạnh hơn cả họ Vương. Gia tộc họ Mông vốn là người nước Tề, từ đời trước tính từ Mông Ngao (khi đó Mông Ngao hãy còn trẻ) nhập Tần, trải qua Mông Ngao, Mông Võ cho đến anh em Mông Điềm, cả ba đời đều là danh tướng trọng thần nước Tần. Con cháu họ Mông có mặt khắp các chốn quân doanh quan phủ, hơn nữa gia phong trung chính đôn hậu chưa từng suy giảm chút nào. Phải nói rằng, chính nhờ sự kéo dài ổn định và thịnh vượng của biết bao nhiêu vọng tộc hiền tài chính trực như họ Mông, họ Vương ấy, mới tạo nên được thực lực hùng mạnh của thời đại đế quốc.
Thế mà nay anh em họ Mông bỗng chốc bị ban chết cùng một lúc, dư chấn của nó dữ dội biết bao, hậu họa sâu xa biết chừng nào, thật là khôn lường. Cái gọi là dư chấn, cái gọi là hậu họa, quy tụ lại chỉ có một điểm duy nhất, đó chính là sự tan rã cực độ đối với quân tâm nước Tần, sự sụp đổ nhanh chóng đối với quân phong nước Tần. Từ khi cha con Vương Tiễn và Vương Bôn lần lượt qua đời vì bệnh, trục truyền thống của quân Tần đã quy tụ lại trên tập đoàn quân lính nhà họ Mông lấy thống soái Mông Điềm làm lá cờ đầu. Mông Điềm với tư cách là một đại công thần quân lính được thiên hạ công nhận mà lại bị ban chết, ngọn cờ thống soái của quân Tần bị chặt đứt một cách vô cớ, lòng dạ các tướng sĩ quân Tần sao có thể không chao đảo dữ dội?
Hậu nhân thường không hiểu nổi: Cớ sao những chiến sĩ nhuệ sĩ quân Tần trăm trận trăm thắng, khi đối mặt với đoàn quân nông dân "giáo mác dựng ngược" nổi dậy làm loạn sau này lại cảm thấy vô cùng chật vật, đến khi tác chiến với quân của Hạng Vũ thì lại càng thua to như núi lở, ngay cả thống soái đại quân Cửu Nguyên tinh nhuệ nhất là Vương Ly cũng bị bắt sống chỉ sau một trận chiến? Nguyên nhân cốt lõi ở đây, chính là sự tan rã của quân tâm kể từ sau khi họ Mông bị sát hại. Sau cái chết của Mông Điềm, Hồ Hợi và Triệu Cao lại càng coi việc chém giết là thói quen, các trọng thần trong nước hầu như bị tiêu diệt sạch sủng. Các tướng sĩ trong quân đội nếu không nói là bị liên lụy rất nhiều, thì chỉ cần tận mắt thấy tai nghe những cuộc tàn sát quyền lực diễn ra liên miên nối tiếp nhau, cũng đủ khiến lòng chiến đấu tiêu tan hoàn toàn, phong thái hổ lang ngày nào còn đâu nữa!
Nói cách khác, với tư cách là đạo hùng sư tinh nhuệ và mạnh mẽ nhất trong lịch sử, quân Tần đã bị đánh gục bởi cơn bão nội loạn ngay trong triều đình của chính mình. Nguyên nhân thất trận ở giai đoạn hậu kỳ của họ, không phải như Giả Nghị từng nói là "thế công thủ đã khác xưa", hay nói cách khác, thế công thủ khác xưa tuyệt đối không phải là nguyên nhân chính. Kẻ diệt nhà Tần chính là nhà Tần, chứ không phải sáu nước.
Hậu quả trực tiếp từ cái chết của Mông Điềm và Mông Nghị, chính là sự tan rã của toàn bộ gia tộc họ Mông. Do gia tộc họ Mông quá hiển hách, Hồ Hợi, Triệu Cao và Lý Tư đều có điều kiêng dè lớn, cho nên không thể tiến hành chu di tam tộc hàng loạt như những công thần và hoàng tộc khác về sau. Dẫu là vậy, gia tộc họ Mông vẫn lập tức cảnh giác được rằng kiếp nạn lớn lao sắp sửa ập đến. Gia tộc họ Mông vốn nổi tiếng đời đời xuất hiện nhiều nhân tài mưu trí kín kẽ, một khi đã nhận ra oan ức lớn lao như vậy tuyệt đối không có khả năng được rửa sạch, lập tức liền đưa ra một nghị quyết bí mật: Cả tộc bí mật đào vong. Những tráng đinh họ Mông có mặt khắp các doanh trại quân ngũ lần lượt lấy đủ mọi lý do để rời khỏi vị trí phòng thủ rồi trốn đi, hai tòa dinh thự của họ Mông ở Hàm Dương cũng nhanh chóng trở nên trống không vắng bóng người.
Theo suy luận hợp lý, việc họ Mông đào vong không thể nào quay trở lại vùng biển phía đông, mà là trốn chạy về phía nam gia nhập vào quân Tần ở quận Nam Hải, nương nhờ những người thân tộc họ Mông trong đại quân Lĩnh Nam. Chỉ có như vậy, đại quân của Triệu Đà sau này mới không bắc tiến để cứu vãn chính quyền Nhị thế hôn ám bạo ngược, và điều đó mới có được một lời giải thích hợp lý. Đương nhiên, mưu đồ bí mật từ thuở trước của Thủy Hoàng đế cũng là một lý do. Nhưng vào thời điểm bấy giờ, lý do phù hợp với quân tâm hơn cả, chỉ có thể là sự căm thù tận xương tủy đối với chính quyền Nhị thế...
Ý nghĩa của Mông Điềm nằm ở chỗ, ông là một biểu tượng nổi bật trong lịch sử văn minh Trung Quốc. Chỉ có đại quân Mông Điềm của đế quốc Tần, trong cuộc chiến chống Hung Nô kéo dài hơn ngàn năm mới thực sự làm được điều "như bẻ cành khô", thực sự làm được như "gió thu cuốn lá khô", thực sự làm được như "chim ưng vồ đàn sẻ". Sách Diêm Thiết Luận bài 《Diêm Thiết Luận · Phạt Công》 triều Tây Hán có chép: "Công Mông đánh đuổi Hung Nô cho nhà Tần, giống như chim ác đuổi đàn sẻ. Thế lực Hung Nô khiếp sợ, không dám ngó nghiêng nhìn về phương nam hơn mười năm."
Các vị khán giả lưu ý cho, ngoại hoạn của người Hoa Hạ bắt đầu từ thời kỳ Thân hầu cuối thời Tây Tự kết hợp với người Nhung Địch miền tây tấn công vào Hạo Kinh, ép nhà Chu phải dời đô về phía đông tới Lạc Dương. Từ đó, chiếc cửa ma bị mở toang, hoạn nạn người Hồ phương tây bắc trong suốt hơn năm trăm năm lịch sử của thời kỳ Xuân Thu, Chiến Quốc và nhà Tần sau đó, vẫn luôn đe dọa nghiêm trọng sự sinh tồn của nền văn minh Hoa Hạ. Ba nước Tây Bắc là Tần, Triệu, Yên vì thế mà luôn phải tác chiến trên hai mặt trận: Nội chiến tranh bá, ngoại chiến chống Hồ. Ngoại hoạn cơ bản này, cho đến khi Tần Thủy Hoàng dùng trọng binh của Mông Điềm đánh tan tác Hung Nô, đồng thời xây dựng Vạn lý Trường Thành, mới giành được thắng lợi mang tính bước ngoặt to lớn, khiến nền văn minh Hoa Hạ có được một bức bình phong sinh tồn kiên cố vững chắc.
Hiển nhiên rằng, việc Mông Điềm kinh doanh lâu dài vùng biên cương phía bắc rồi cuối cùng đại phá Hung Nô, có ý nghĩa lịch sử vô cùng sâu sắc đối với sự phát triển ổn định của nền văn minh Hoa Hạ. Có thể khẳng định chắc chắn rằng, nếu không có đại chiến thắng giành lấy hai bờ nam bắc Âm Sơn của đại quân Mông Điềm và sự sừng sững của Vạn lý Trường Thành, thì trong thời kỳ đại loạn "Sở - Hán" nối tiếp ngay sau đó, tộc quần Hung Nô chắc chắn sẽ đại cử nam hạ, sự sinh tồn của nền văn minh Hoa Hạ sẽ lâm vào cảnh nguy khốn không thể lường trước, còn sau đó có vương triều nhà Hán hay không, có người Hán hay không, thực sự đều là những ẩn số. Mông Điềm với tư cách là một đời danh tướng, công lao làm bức bình phong cho nền văn minh thật là không thể phai mờ!
Mông Điềm tự có điểm yếu của mình, không đủ kiên nhẫn bền bỉ rắn rỏi như cha con Vương Tiễn, Vương Bôn, không thể đứng mũi chịu sào cứu vớt nguy nan, quả thực là một điều đáng tiếc. Thế nhưng, chỉ có vậy thôi, Mông Điềm vẫn không hổ thẹn là công thần của nền văn minh Hoa Hạ. Thế nhưng, công huân tiết tháo của Mông Điềm trong những lời đánh giá của hậu thế lại mâu thuẫn và hỗn loạn, thậm chí có thể nói là kỳ quái.
Đánh giá chủ đạo quốc gia vào thời kỳ sơ trung kỳ nhà Hán, đối với Mông Điềm vẫn là sự khẳng định cao độ, hội nghị Diêm Thiết tiếp nối ngay sau thời Hán Vũ Đế có thể coi là tiêu biểu cho đánh giá về Mông Điềm. Thế nhưng, tác giả Tư Mã Thiên của bộ 《Sử Ký》 hoàn thành trước cuốn 《Diêm Thiết Luận》, lại đưa ra những lời chỉ trích khó mà tin nổi đối với Mông Điềm. Phần "Thái sử công viết" sau cuốn 《Sử Ký · Mông Điềm Liệt Truyện》, là một trong những lời bình luận dài nhất về Mông Điềm, đồng thời cũng là lời bình luận kỳ quái nhất, toàn văn như sau:
Thái sử công viết: Ta đi đến miền biên ải, từ đường trực đạo trở về, dọc đường quan sát những công trình Mông Điềm xây dựng Trường Thành đồn trú cho nhà Tần, đào núi lấp thung lũng, thông đường trực đạo, quả là xem nhẹ sức lực của bách tính lắm rồi! Phả nước Tần mới diệt chư hầu, lòng dạ thiên hạ chưa ổn định, những vết thương chưa lành lặn; thế mà Mông Điềm là danh tướng, không nhân thời điểm này mà mạnh mẽ can gián, cứu vớt sự cấp bách của bách tính, kính già yêu trẻ mồ côi, dốc sức bồi đắp sự hòa hợp của muôn dân; lại đi nịnh bợ ý chỉ để xây dựng công trình cho riêng mình, thế thì anh em bọn họ gặp họa bị giết, chẳng phải là đáng lắm sao? Cớ sao lại còn đi đổ tội cho mạch đất chứ!
Bình luận của Tư Mã Thiên có bốn tầng ý nghĩa: Thứ nhất, phàm là những công trình miền Bắc do Mông Điềm xây dựng, đều là những công trình hành động sai trái lãng phí sức dân (xem nhẹ sức lực bách tính); Thứ hai, sau khi nhà Tần diệt chư hầu, việc Mông Điềm nên làm là can gián mạnh mẽ Thủy Hoàng đế thực hiện chính sách nghỉ ngơi lấy sức cho dân, nhưng Mông Điềm lại không làm việc nên làm; Thứ Third, Mông Điềm làm những chuyện ngược lại, nịnh bợ ý trên để khuếch trương công nghiệp của cá nhân mình (a ý hưng công); Thứ tư, cho nên, anh em Mông Điềm bị giết thực chất là đáng đời. Cuối cùng, Tư Mã Thiên vẫn chưa thỏa mãn nỗi lòng mà cảm thán thêm một câu rằng, chết đúng với tội của mình, Mông Điềm sao lại có thể trách cứ mạch đất chứ!
Tiện đây xin nói thêm, luận điểm về "mạch đất" được Tư Mã Thiên ghi chép lại, rất không phù hợp với logic thực tế đơn thuần. Trong thời đại Chiến Quốc và đế quốc, học thuyết Âm Dương rất thịnh hành, thuyết mạch đất với tư cách là một học thuyết, đương nhiên là có tồn tại. Điều chúng ta muốn nói ở đây chính là điểm vô lý mâu thuẫn của sự việc này. Rõ ràng, quân thần Thủy Hoàng đế quyết định xây dựng Trường Thành, nếu tin vào thuyết mạch đất, thì ắt sẽ triệu tập các bậc thầy phong thủy xem xét địa hình. Nếu Vạn lý Trường Thành quả thực cắt đứt mạch đất, thì chắc chắn sẽ phải đổi hướng tuyến, cuối cùng lấy việc bảo vệ sự toàn vẹn của mạch đất làm trọng. Trong hoàn cảnh như vậy, Trường Thành có cắt đứt mạch đất hay không và ứng phó ra sao vân vân, Mông Điềm với tư cách là thống soái chủ trì công trình, là người rõ hơn bất cứ ai từ rất sớm, làm sao có thể đợi đến lúc chết rồi mới sực nhớ ra cho được?
Nếu quân thần Thủy Hoàng đế không tin vào thuyết mạch đất, thì hoàn toàn sẽ không triệu các bậc thầy phong thủy đến khảo sát địa hình. Trong hoàn cảnh đó, thiên hạ sẽ không xuất hiện cái gọi là thuyết Trường Thành cắt đứt mạch đất, và Mông Điềm lại càng không thể dựng chuyện vô căn cứ. Suy cho cùng, trong truyền thống sinh tồn mạnh mẽ của dân tộc Hoa Hạ từ xưa đã có niệm lý "việc lớn hưng vong không hỏi quẻ bói", Võ vương phạt Trụ mà Khương Thái Công giẫm nát mai rùa bói toán chính là một ví dụ tiêu biểu. Quân thần Thủy Hoàng đế hừng hực ý chí sáng lập chế độ mới, nếu việc gì cũng xem phong thủy hỏi quẻ bói, thì có lẽ chẳng làm nên tích sự gì cả.
Mông Điềm với tư cách là một trong những trọng thần tâm ý tương thông nhất với Thủy Hoàng đế, dù ở hoàn cảnh nào đi nữa, cũng sẽ hiểu rõ có nên tồn tại cái gọi là thuyết Trường Thành cắt đứt mạch đất hay không, và sẽ không bao giờ có chuyện đột ngột nảy sinh một ý nghĩ vào lúc lâm chung rằng mình đã cắt đứt mạch đất nên đáng phải chết. Hơn thế nữa, học thuyết Âm Dương lưu truyền đến tận ngày nay, nhưng các nhà Âm Dương gia đời sau nhà Tần lại chẳng có lấy một ai đưa ra luận điểm về việc Trường Thành cắt đứt mạch đất cũng như cắt đứt ở chỗ nào. Có thể thấy rằng, ngay cả đối với bản thân lý thuyết Âm Dương gia mà nói, luận điểm này cũng chỉ là hư cấu không có thật.
Sở dĩ Thái sử công ghi chép lại sự việc này, hoàn toàn có khả năng là những lời đồn thổi bịa đặt do quý tộc sáu nước thêu dệt nên hòng quy tội cho người ta, được truyền đến thời Tây Hán thì bị Thái sử công cả tin rồi phát sinh cảm khái lớn lao. Luận điệu này sai lầm thái quá, không đủ để làm căn cứ tin cậy.
Từng đọc 《Mông Điềm Liệt Truyện》, lần nào ta cũng cảm thấy vô cùng khó hiểu trước những lời bình luận về sự thật lịch sử như vậy của Thái sử công. Với tư cách là một nhà sử học, tự mình đến khảo sát tận nơi công trình muôn đời có một là đường trực đạo và Trường Thành, thế mà lại hoàn toàn không suy xét đến công dụng vĩ đại làm bức bình phong bảo vệ nền văn minh của nó, trái lại chỉ vơ đũa cả nắm để chỉ trích rằng "quả là xem nhẹ sức lực của bách tính lắm rồi!". Tầm mắt nông cạn, lồng ngực hẹp hòi ấy khiến người ta phải há hốc mồm kinh ngạc.
Điều khiến người ta càng không thể tưởng tượng nổi hơn nữa, chính là cuối cùng ông ta lại có thể phán xét cái chết của Mông Điềm là "gặp họa bị giết chẳng phải là đáng lắm sao", điều này khác nào nói rằng Mông Điềm đáng phải chết.
Từ ngữ được sử dụng vô cùng lạnh lùng kỳ quái, khiến người ta đọc lên phải nổi da gà.
Không thể nói Tư Mã Thiên là một nhà Nho chính hiệu. Thế nhưng, bình luận của Tư Mã Thiên về Mông Điềm quả thực mang đậm phong cách chép sử theo kiểu "xuân thu bút pháp": Bảo vệ tư đạo của một nhà, phớt lờ sự hưng vong của thiên hạ. Khi lịch sử cần một dân tộc phải hy sinh một phần nào đó để kiến thiết và bảo vệ nền văn minh vĩ đại, cái mà Tư Mã Thiên nhìn thấy không phải là ý nghĩa sinh tồn mạnh mẽ của sự hy sinh ấy đối với nền văn minh dân tộc, mà ông ta lại chỉ đứng ở góc độ xót thương cho sự hy sinh, hời hợt vung vẩy lòng từ bi của mình, lạnh lùng đảo lộn công tội của nền văn minh.
Dù rằng, không có sự cần thiết phải cáo buộc những luận điểm của Tư Mã Thiên có hiềm nghi ủng hộ việc tàn sát của Tần Nhị thế. Thế nhưng, loại sử luận kiểu này của Tư Mã Thiên vốn không có đại nghĩa sinh tồn dân tộc mà chỉ chăm chăm quan tâm đến sự hy sinh tàn khốc, lại thực sự đã để lại những hạt giống u ám cho quan điểm lịch sử của người Trung Quốc. Lòng từ bi nhợt nhạt này hoàn toàn không đồng nhất với tình hoài nhân đạo dựa trên cơ sở thừa nhận sự hy sinh oanh liệt.
Giá như chúng ta quả thực giống như luận điểm sử học nhân từ của Tư Mã Thiên, xem tất cả những sự hy sinh cần thiết đều là sự lãng phí sức dân, đều là sự nịnh bợ hưng công, để rồi chấm dứt mọi sự theo đuổi tự cường của tộc quần, thì khi bất ngờ phải đối mặt với cường địch, toàn bộ dân tộc làm sao có thể không rơi vào thảm cảnh diệt vong? Trong lịch sử Trung Quốc sau này, đặc biệt là trong lịch sử trăm năm cận đại và hiện đại, dân tộc chúng ta xuất hiện lớp lớp những kẻ bán nước cầu vinh, quy mô lớn đến mức khiến thế giới phải trố mắt kinh ngạc, mà những luận điệu của bọn chúng thì không ngoài việc thương xót sinh mạng, giảm bớt sự hy sinh hay những lý luận đại đồng cộng vinh này nọ.
Những kẻ như vậy vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy, hoặc cố tình không nhìn thấy những cuộc tàn sát mang tính diệt chủng tộc khi cường địch phá vỡ quốc gia và những sự hy sinh vô tội, mà chỉ sẵn lòng nhìn thấy sự hy sinh chính đáng mà dân tộc mình bỏ ra trong công cuộc tự cường tự lập, chuyên lấy việc phủ nhận sự hy sinh chính đáng ấy làm bản lĩnh, chuyên lấy việc chỉ trích những người ra quyết định cho sự hy sinh chính đáng ấy làm tài năng. Kết cục cuối cùng của những kẻ như thế, không một kẻ nào là không nằm dưới lớp vỏ bọc đại ngụy bi mẫn, kẻ thì trốn tránh tự an thân, kẻ thì bán nước vinh thân.
Đây là một chân lý cổ xưa đã được lịch sử mấy ngàn năm chứng minh lặp đi lặp lại, gần như là một thứ giáo điều, nhưng lại đúng đắn trong mọi hoàn cảnh, xưa nay hay Đông Tây đều không ngoại lệ.
Truy cứu nguồn gốc của nó, không có nghi ngờ gì khi nó được cấy sâu vào trong lịch sử.
Ngạn ngữ có câu: Đứng nói chuyện thì không đau lưng. Lời ấy thật đáng tin thay!
Đại nhân đại nghĩa mang tính sinh tồn mạnh mẽ của thời đại Chiến Quốc và đế quốc Tần vốn dĩ bất nhân, những người như Tư Mã Thiên cách xa thời đại ấy biết bao!