Dải Ruy Băng Rực Rỡ

Lượt đọc: 112 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lady Crusoe

❊ ❊ ❊

Billy và tôi từ miền Bắc kéo xuống đây và mở một tiệm tạp hóa ở Jefferson Corners. Đó là một cửa hàng nhỏ, xung quanh chẳng có mấy ngôi nhà — chỉ có ga tàu hỏa cùng một hai cái nhà kho lớn. Sau những nhà kho ấy, dăm ba túp lều lúp xúp rải rác dọc theo con đường, rồi mới tới những đồn điền bao la. Mà kỳ thực, dạo này chẳng còn ai quanh đây màng chuyện canh tác gì nhiều ở những nơi đó nữa. Họ chỉ ngồi đó và thở dài về những đổi thay kể từ sau chiến tranh.

Billy vẫn thường bảo thế về họ. Billy rất rảnh rang cập nhật thời đại và anh có một chiếc xe máy. Ngay từ khi đặt chân đến đây, anh đã tự nhủ phải thổi một luồng sinh khí mới vào vùng quê này. Thế nên, sáng nào anh cũng phóng xe máy đi cả mấy dặm để nhận đơn đặt hàng, rồi tự tay giao hàng đến nơi — trừ khi đó là những thùng bột mì, bình dầu hỏa hay các mặt hàng cồng kềnh khác, khi ấy anh mới thuê người phụ giúp. Ban đầu, anh thuê William Watters và con lừa của ông. William da đen còn con lừa màu xám, cả hai đều đã già. Chúng mất cả mấy tiếng đồng hồ mới đi tới được nơi cần đến, và tôi thường thấy thương hại chúng. Nhưng khi nhận ra rằng so với Billy và tôi, cuộc sống của họ chẳng khác nào trải trên thảm hoa nhung lụa, tôi liền thôi không đồng cảm nữa. Cả hai đều có đủ ăn, và chỉ làm việc khi nào hứng chí. Còn Billy và tôi thì làm việc suốt ngày. Chúng tôi phải tự lập thân trên cõi đời này, và chúng tôi hiểu rằng mọi thứ đều trông chờ vào chính bản thân mình. Khi khởi nghiệp, chúng tôi chẳng có gì trong tay ngoài hoài bão của tôi, năng lượng của Billy, cùng vài trăm đô-la mà người giám hộ đã giao lại cho tôi khi tôi kết hôn với Billy vào sinh nhật tuổi hứa hôn.

Ngay sau lễ cưới, chúng tôi chuyển đến Virginia. Billy và tôi ôm ấp ý nghĩ rằng mọi vùng đất nằm phía nam đường phân định Mason và Dixon đang chỉ chờ đợi mỗi chúng tôi tới khám phá, và chúng tôi muốn chiếm trọn lòng biết ơn đời đời của cộng đồng nơi đây bằng cách giúp họ vực dậy. Nhưng sau khi sống ở Jefferson Corners một thời gian ngắn, chúng tôi bắt đầu cảm thấy nơi này chẳng có lấy một cộng đồng nào cả. Dường như chẳng có nổi những thị trấn đáng yêu như ở New England quê nhà, với những chuyến xe điện rôm rả kết nối muôn nơi cùng những mái nhà tranh nối đuôi nhau đẹp đẽ dọc đường đi. Bạn có thể dong xe suốt cả dặm trường qua vùng đất này mà chẳng gặp gì ngoài những cánh cổng. Rồi khi ngước lên sườn đồi, bạn sẽ thấy một lùm cây, và lẩn khuất trong đó chắc chắn là một ngôi nhà. Vào mùa đông, khi cây cội rụng hết lá, bạn có thể nhìn thấy ngôi nhà, nhưng đến mùa hè thì chẳng còn lấy một dấu vết. Ngày trước, dường như người ta cảm thấy có chút thiếu tinh tế nếu để cho dinh cơ của mình phơi bày trước ánh mắt dòm ngó thô lỗ của công chúng.

Có một dinh thự mà thỉnh thoảng Billy vẫn dẫn tôi đến thăm. Nó bỏ hoang, và đó là lý do chúng tôi lui tới. Những ngôi nhà lớn có người ở không hề rộng cửa chào đón chúng tôi — trừ cái cách chào hàng của mấy kẻ buôn bán, mà Billy và tôi thì không đời nào chịu để người ta rủ lòng thương hại — tổ tiên chúng tôi từng đi trên con tàu Mayflower cơ mà. Nhưng điều đó chẳng có nghĩa lý gì ở vùng đất này, nơi mà gia phả nhà ai cũng truy tận gốc tới tận thời William kẻ chinh phạt.

Ngôi nhà lớn hoang vắng ấy là một chốn tuyệt vời cho những buổi dã ngoại chiều Chủ nhật của chúng tôi. Sáng nào chúng tôi cũng đi lễ nhà thờ, và mọi người rất đỗi tử tế, nhưng đó là thứ tử tế mang theo một dấu hỏi chấm. Bạn thấy đấy, Billy và tôi sống ngay trên cửa hàng, trong khi chẳng một ai ở đây từng sống trong một nơi nào khác ngoài những dinh cơ gia truyền.

Thế nên những buổi sáng Chủ nhật của chúng tôi có phần gượng gạo và hụt hẫng, nhưng các buổi chiều thì tuyệt diệu làm sao. Chúng tôi phát hiện ra Ngôi nhà Hoang vào mùa xuân, khi hoa nguyệt quế nở rộ trên sườn núi, cỏ non xanh mướt trên các triền dốc, và bầu trời mang một sắc xanh ấm áp dịu dàng với những cánh chim kền kền lượn lờ đen thẫm trên nền trời. Billy và tôi thường dừng lại ở cánh cổng thứ hai, nằm ngay đỉnh đồi, để phóng tầm mắt nhìn ra những ngọn đồi xa xa nơi có đàn cừu phớt hồng đang gặm cỏ. Tôi dám chắc rằng trên khắp thế giới rộng lớn này chẳng có loài cừu nào giống như đàn cừu Albemarle ấy. Những trận mưa xuân biến lớp đất sét đỏ thành thứ bùn dính chặt như sơn, thế là bộ lông cừu nhuốm một màu gạch nung đáng yêu rồi cứ thế phai dần thành sắc hồng phớt.

Hiệu ứng ấy mang đậm tính ấn tượng, giống như những con bò màu tím vậy. Billy chẳng màng đến điều đó, nhưng tôi thì có. Và tôi mê mẩn sắc đỏ rực rỡ của những con đường. Billy bảo anh thích thứ đất nâu lành lặn cùng những bầy cừu trắng hơn. Anh có thể dung tha cho cừu đen chứ đời nào chịu nổi cừu hồng.

Chúng tôi thường ăn bữa tối trên hiên của Ngôi nhà Hoang. Nơi đây có những chiếc cột lớn, và việc ngồi trên bậc thềm trước ngửa cổ nhìn suốt chiều cao của hàng cột theo thức Cô-rinh-tô ấy mang lại một cảm giác thật choáng ngợp. Billy và tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ và tầm thường, nhưng chúng tôi nhanh chóng quên đi điều đó khi hướng ánh mắt về phía những ngọn đồi.

Cánh cửa lớn sau lưng chúng tôi cùng những ô cửa sổ trống hoác đều đã khép chặt và đóng sập chớp lại. Có những chú sóc bay trên mái nhà và đám thằn lằn đuôi xanh nhỏ xíu trên thềm đá trước hiên; bên cạnh đó là một cụ cóc già thường hay bầu bạn với chúng tôi. Tôi đặt tên cho nó là Hoàng tử quyến rũ, và tôi tin chắc nó già đời chẳng kém gì Methuselah, đã sống dưới phiến đá ấy từ thuở hồng hoang nào rồi.

Chúng tôi vô cùng yêu thích những bữa tối đạm bạc của mình. Chúng tôi mang theo cà phê đựng trong bình giữ nhiệt, gà rán nguội, bánh mì kẹp bơ và bánh sô-cô-la ngọt ngào. Chúng tôi chẳng bao giờ đổi món, bởi lúc nào cũng sợ rằng mình sẽ không thích thứ gì khác bằng, và chúng tôi hoàn toàn yên tâm với món gà cùng bánh sô-cô-la ấy.

Và sau khi ăn xong, chúng tôi thường trò chuyện về kiểu nhà mà mình sẽ xây khi con tàu vận may cập bến. Billy và tôi đều có gu thẩm mỹ tinh tế, chúng tôi biết rõ mình muốn gì; và chúng tôi cảm thấy tiệm tạp hóa này chỉ là một bước đệm để vươn tới những điều tốt đẹp hơn.

Những buổi chiều hoàng hôn mùa xuân thường buông xuống muộn, bầu trời phía tây khi ấy nhuộm những sắc hồng, xanh lá và tím hoa cà nhạt, để rồi sau đó chuyển thành màu xanh saphia thẳm sâu cùng một vầng trăng bạc. Khi màn đêm dần buông, ánh bạc ấy hóa sắc vàng rực rỡ, xuất hiện một ngôi sao — rồi thêm nhiều ngôi sao nữa cho đến khi đêm hẳn chìm sâu.

Tôi không sao diễn tả nổi cảm xúc của chúng tôi khi ấy. Bạn thấy đấy, chúng tôi còn trẻ và đang yêu nhau, cuộc đời đối với chúng tôi thật là tươi đẹp biết bao. Có một đêm hoàn hảo nọ khi ánh trăng ngập tràn khắp các triền đồi. Chúng tôi cảm thấy như chỉ có hai người giữa một thế giới tuyệt diệu, và tôi thì thầm:

“Ôi, Billy, Billy ơi, thế mà có kẻ lại nghĩ rằng chẳng có Thượng đế nào trên đời…”

Và Billy vòng tay ôm lấy tôi, vỗ về má tôi, rồi cả hai cứ thế lặng thinh suốt một hồi lâu.

Đúng một tuần sau thì Nàng Crusoe xuất hiện. Tôi nhận ra có ai đó đang ở trong nhà ngay khi chúng tôi vừa đi qua cánh cổng thứ hai. Cánh cửa vẫn đóng và các ô cửa sổ chưa mở chớp, nhưng tôi nghe tiếng đồng hồ điểm — một chiếc đồng hồ hàng hải — với những hồi chuông ngân.

Tôi ní chặt lấy tay Billy. “Anh nghe kìa,” tôi nói.

Anh cũng nghe thấy; “Quái quỷ nào thế nhỉ?” anh thắc mắc.

“Có ai đó trong nhà kìa—”

“Vớ vẩn—”

“Billy, chắc chắn có người, và chúng ta không thể ngồi trên hiên được nữa đâu.”

“Em cứ ở đây, để anh vòng ra cửa sau.”

Nhưng tôi không chịu để anh đi một mình. Phía sau nhà có một ô cửa sổ đang mở, và đến lúc đó thì chúng tôi hoàn toàn chắc chắn.

“Hay là chúng ta đi về đi,” tôi nói, nhưng Billy nằng nặc đòi ở lại. “Nếu là người mới chuyển đến, anh sẽ tìm hiểu tên họ, rồi ngày mai ghé qua để nhận đơn đặt hàng của họ.”

Chúng tôi vòng ra cửa trước, gõ cửa liên hồi nhưng chẳng có tiếng trả lời. Thế là chúng tôi ngồi xuống bậc thềm, và chẳng mấy chốc Billy bảo hay là cứ ăn tối luôn đi, vì rõ ràng là chẳng có ai ở nhà cả.

Tôi cảm thấy không được thoải mái cho lắm, nhưng vẫn mở giỏ đồ ăn, bày bát đĩa ra, còn Billy rót cà phê rồi chuyền tay tôi đĩa gà cùng bánh mì kẹp bơ. Đúng lúc ấy, cánh cửa bỗng kẽo kẹt mở ra và tay nắm cửa xoay chuyển!

Phản ứng đầu tiên của tôi là vơ vội chỗ thức ăn nhét hết vào giỏ; nhưng rồi tôi dừng lại. Tôi cứ ngồi yên đấy, ngước lên nhìn với vẻ bình thản như thể đang dọn trà ở phòng khách nhà mình, và Billy cũng ngồi đó ngước nhìn lên.

Cánh cửa mở rộng và một giọng nói cất lên: “Ồ, nếu hai bạn đang ăn tối, tôi có thể xin một ít được không?”

Đó là một giọng nói thật đáng yêu, và Billy giật mình đứng phắt dậy. Tiếp sau giọng nói ấy là một mái đầu xinh xắn. Chỉ có chiếc đầu ló ra ngó nghiêng — phần thân còn bị cánh cửa che khuất. Trên đầu cô đội một chiếc mũ ren đính đóa hồng bằng vàng, và mái tóc lấp ló dưới vành mũ cũng óng ả sắc vàng.

“Các bạn thấy đấy, tôi vừa mới thức dậy,” giọng nói ấy vang lên, “và tôi chưa có gì cho bữa sáng…”

Billy và tôi há hốc mồm. Lúc đó đã là bảy giờ tối, và bữa ăn chúng tôi đang bày biện chính là bữa tối!

“Các bạn có phiền nếu tôi ra ngoài không?” giọng nói ấy tiếp lời. “Tôi chưa được y phục chỉnh tề cho lắm, nhưng chắc là vẫn tạm ổn.”

Cô đẩy cánh cửa mở rộng hơn rồi bước xuống thềm. Tôi nhìn thấy đôi giày lười của cô cũng đính hoa hồng bằng vàng và mang màu hồng nhạt như rạng đông. Cô khoác chiếc áo choàng đi mô-tô bằng vải kaki che kín người, nhưng tôi kịp thoáng thấy lớp váy ngủ bằng lụa hồng phấp phới bên trong.

Cô ngồi xuống bậc thềm cùng chúng tôi với vẻ vô cùng cởi mở, thân thiện. “Tôi đóiả cào rồi đây,” cô nói. “Cả bốn mươi tư tiếng đồng hồ nay tôi chưa được bỏ hột cơm nào vào bụng.”

Chúng tôi lại há hốc mồm. “Sao lại thế được cơ chứ?”

“Tôi bị… đắm tàu,” cô đáp, “trên một chiếc ô tô — và tôi là người duy nhất sống sót…”

Đôi mắt cô lấp lánh tinh nghịch. “Lát nữa tôi sẽ kể cho các bạn nghe toàn bộ câu chuyện.” Rồi cô bỗng ngắt lời và bật cười.

“Nhưng trước tiên, hai bạn có thể cứu đói cho một kẻ gặp nạn bơ vơ này được không?”

Tuy nhiên, thực ra cô chẳng hề kể cho chúng tôi nghe điều gì cả. Cô cứ ăn hết miếng này đến miếng khác, và ngắm nhìn cô lúc ấy mới đáng yêu làm sao. Cô vừa yểu điệu, trẻ trung lại vừa háo hức hệt như một đứa trẻ trong bữa tiệc.

“Món gì mà ngon thế không biết!” cuối cùng cô thở dài lên tiếng. “Tôi không nghĩ có lúc nào trong đời mình lại thấy đói đến thế này.”

Billy và tôi chẳng ăn được mấy. Bạn biết đấy, chúng tôi quá đỗi tò mò, với lại chúng tôi đã ăn tối rồi.

Như tôi đã nói, cô ấy thực sự chẳng kể gì cho chúng tôi nghe cả. “Đó là một tai nạn, và tôi lên đây. Còn chiếc đồng hồ cũ mà các bạn nghe thấy tiếng chuông điểm là của ông tôi. Ông là đô đốc hải quân, và đó là chiếc đồng hồ của ông. Hồi nhỏ tôi vẫn thường lắng nghe tiếng chuông của nó.”

“Thế còn những người khác thì sao…?” Billy cộc lốc hỏi. Anh quan tâm đến vụ tai nạn ô tô hơn là chuyện gia phả dòng dõi của cô.

“Ồ, ý bạn là những người khác trên xe ấy hả?” cô miễn cưỡng quay trở lại thực tại từ chỗ người ông hải quân và chiếc đồng hồ tàu thủy. “Tôi chắc chắn là mình không biết. Và tôi dám chắc là mình chẳng thèm quan tâm.”

“Nhưng có ai thiệt mạng không?”

“Không — ai cũng sống cả — nhưng bạn thấy đấy… đó là một vụ đắm tàu — và tôi trôi dạt ra đây… một mình — và đây là hòn đảo của tôi, còn hai bạn là những vị thổ dân thân thiện tốt bụng…” cô chạm tay lên cánh tay Billy. Anh hơi rụt lại. Tôi biết anh đang sợ cô bị mất trí, nhưng tôi đã kịp nhìn thấy đôi mắt lấp lánh tinh quái của cô. “Ồ, tất cả chỉ là một trò đùa thôi mà!” tôi lên tiếng.

Cô lắc đầu. “Không hẳn là một trò đùa đâu, nhưng người khác nhìn vào thì có thể thấy giống như vậy.”

“Cô định ở lại đây luôn à?”

“Vâng.”

“Sáng mai tôi sẽ ghé qua để nhận đơn đặt hàng nhé,” Billy nhanh nhảu nói. “Tôi mở tiệm tạp hóa ở Jefferson Corners.”

“Ồ,” cô thốt lên, có vẻ chần chừ; “sẽ chẳng có đơn hàng nào đâu.”

Billy trân trân nhìn cô. “Nhưng ở đây chẳng có cửa hàng nào khác nữa cơ mà.”

“Robinson Crusoe làm gì có cửa hàng nào, phải không? Ông ấy tự nhặt nhạnh mọi thứ và sống nhờ vào thiên nhiên. Còn tôi là Nàng Crusoe.”

“Thật sao?” tôi hỏi cô.

“Tôi còn một cái tên khác nữa — nhưng… nếu mọi người quanh đây có hỏi thăm — hai bạn sẽ không nói cho họ biết… rằng tôi đang ở đây chứ…?”

Cô cất lời bằng giọng điệu nài nỉ đáng yêu đến mức tất nhiên chúng tôi phải gật đầu hứa. Lúc ấy trời đã muộn và chúng tôi phải ra về. Tôi nằng nặc đòi để lại phần thức ăn thừa, và cô tỏ ra vô cùng vui mừng khi nhận lấy nó. “Hai bạn đúng là những thổ dân thân thiện tốt bụng,” cô nói với đôi mắt ánh lên nét tinh nghịch, “và tôi rất biết ơn. Hãy vào trong nhà để tôi cho các bạn xem chiếc đồng hồ của mình nào…”

Cô không chỉ cho chúng tôi xem chiếc đồng hồ. Hồi đó, khi Billy và tôi ngồi một mình trên bậc thềm, tôi chưa từng mường tượng nổi đằng sau cánh cửa ấy lại cất giấu bao nhiêu báu vật. Đồ đạc cổ kính đã phủ đầy bụi bặm, nhưng ngần ấy bụi bặm trên đời cũng chẳng thể che lấp được vẻ đẹp vốn có của chúng. Phòng ăn văng vẳng mạng nhện, nhưng khi những ngọn nến được thắp lên, chúng tôi nhìn thấy bộ đồ bạc Sheffield trên chiếc tủ đựng bát đĩa cổ, những món đồ sứ Trung Hoa, những chiếc ghế theo phong cách Heppelwhite, tấm bình phong bọc da cừu vẽ tranh —

Cô chọn một chiếc bình trà nhỏ xinh xắn rồi trao nó cho tôi. Mãi tận sau này tôi mới biết đó là một chiếc bình sứ hồng có tráng men phản quang và đáng giá khối tiền. Bạn thấy đấy, cô dùng cách đó để trả tiền cho bữa tối của mình, và điều gì đó trong tác phong của cô khiến tôi cảm thấy mình không thể từ chối nó được.

Cô không mời chúng tôi ghé lại lần nữa, thế nhưng tôi tin chắc là cô quý mến chúng tôi. Tôi cảm thấy có lẽ chính cái tiệm tạp hóa đã khiến cô chần chừ. Nhưng dù là gì đi nữa, tôi phải thú nhận rằng mình cảm thấy có chút chạnh lòng khi bước đi. Bạn thấy đấy, chúng tôi đã từng rất mong chờ sự chào đón ở Ngôi nhà Hoang. Chúng tôi từng đinh ninh rằng mình là những vị khách quý của loài sóc bay, thằn lằn và cụ Hoàng tử quyến rũ. Thế nhưng giờ đây, khi ngôi nhà không còn trống vắng nữa, chúng tôi sẽ chẳng còn được chào đón nữa. Tôi đâm ra hối hận vì đã nhận chiếc bình sứ hồng. Giá như tôi có thể thản nhiên ra về với cảm giác mình không hề mang ơn người phụ nữ có đôi mắt lấp lánh tinh nghịch ấy.

Chẳng bao lâu sau cuộc phiêu lưu tại Ngôi nhà Hoang, Billy ngỏ ý nhờ William Watters chở một chuyến hàng lớn đến cho một khách hàng ở cách đó hai dặm. Nhưng William không đi được. Ông bảo mình đang làm việc ở một nơi cố định. Chúng tôi không tài nào tưởng tượng nổi William lại có thể làm việc gì một cách cố định cả. Hắn và con lừa vốn nổi tiếng thất thường trong nếp sinh hoạt cơ mà. Chúng thích thì đến không thích thì đi, và sẵn sàng lăn ra ngủ bất cứ lúc nào hứng lên. Thế nhưng, như lời William nói, ông đang “làm việc có giờ giấc,” và ông nhất quyết không chịu tiết lộ mình đang làm thuê cho ai. Cho đến một hôm, chúng tôi phát hiện ra sự thật khi chính ông đánh xe đưa Nàng Crusoe đến tiệm trên chiếc xe ngựa cổ kỳ quặc với con lừa kéo điệu đà.

Ông đỡ cô xuống xe cứ như thể cô là một bà hoàng vậy, và cô bước vào tiệm trò chuyện với Billy. “Các bạn thấy đấy, tôi đã đi tìm những thổ dân thân thiện của mình đây,” cô nói. “Tôi đã cạn kiệt mọi nguồn lực rồi.” Cô đặt một đơn hàng nhỏ, và bảo Billy rằng cô không dám chắc khi nào có thể thanh toán hóa đơn, nhưng bù lại trong ngôi nhà cũ của cô có rất nhiều món đồ mà anh có thể lấy để làm vật thế chấp.

Billy hào hiệp đáp rằng anh chẳng cần vật thế chấp nào cả, tài khoản của cô cứ để đấy bao lâu tùy thích và anh rất vinh hạnh được phục vụ cô. Nói rồi anh lật sổ tay, rút bút chì ra và đứng nghiêm trang với cái dáng vẻ nhã nhặn quen thuộc ấy.

Tôi đứng lắng nghe và nhìn ra từ ô cửa sổ phía sau. Tôi đã thấy cô lái xe đến, và cô trông thật lộng lẫy trong chiếc áo choàng kaki y hệt cái hôm chúng tôi mới gặp. Chỉ có điều đội mũ và mang mạng che mặt màu nâu cùng đôi giày nâu, thay vì chiếc mũ ren và đôi giày hồng thêu hoa.

Cô hỏi thăm về tôi, và Billy bảo tôi đang ở ngoài vườn. Thế là tôi có mặt ở khu vườn khi cô bước ra; nhưng tôi đành phải thoái thác bước đi. Cô ngồi xuống chiếc ghế ở phía bên kia chiếc bàn may nhỏ xíu của tôi và trò chuyện. Khu vườn nhỏ tí hon ấy chỉ đủ kê một chiếc bàn bé xíu cùng hai chiếc ghế, nhưng một hàng rào cây trắc bách diệp cổ thụ đã khéo léo che khuất nó khỏi con đường lớn, ở đó còn có một gốc táo còng, những cánh đồng bao la phía xa và thấp thoáng bóng dáng núi non hùng vĩ.

“Hòn đảo của cô thế nào rồi?” Billy hỏi cô.

Cô chớp mắt tinh nghịch. “Tôi có một anh chàng Thứ Sáu.”

“William Watters à?”

Cô gật đầu. “Dòng họ nô lệ Watters đã phục vụ gia đình chúng tôi qua nhiều thế hệ. Và William đinh ninh rằng nó thuộc về tôi. Nó nấu ăn và đi kiếm mồi hộ tôi. Sáng nọ nó bắn được hai con sóc và nấu cho tôi một nồi súp Brunswick. Nhưng tôi nuốt không trôi. Bạn biết đấy, đám sóc là bạn của tôi mà.”

Tôi chợt nghĩ đến bầy sóc bay, những chú thằn lằn đuôi xanh cùng cụ cóc già, và tôi thấu hiểu cảm giác của cô. Tôi đã nói lên điều đó. Cô nhìn xoáy vào tôi, rồi đặt bàn tay lên tay tôi: “Em có cô đơn không, cưng?”

Tôi đáp rằng có — một chút ít. Billy đã vào trong để phụ vụ khách hàng, nên tôi mới dám thổ lộ điều đó. Tôi bảo với cô rằng chẳng có ai ghé thăm chúng tôi cả.

“Nhưng tại sao lại thế nhỉ?” cô thắc mắc.

“Tôi nghĩ,” tôi chầm chậm đáp, “là bởi chúng tôi sống… ngay trên tiệm tạp hóa.”

“Ra vậy.” Và quả thực cô hiểu rõ điều đó; nó đã ngấm vào máu thịt cô cũng như máu thịt của những con người ở vùng đất này rồi.

Chẳng mấy chốc cô đứng lên cáo từ, và chính lúc đó cô chú ý đến xấp đồ đang dở dang trong chiếc giỏ đặt trên bàn. Cô nhấc một món đồ nhỏ ra và đôi gò má bỗng hây hây đỏ. “Ồ, ồ!” cô thốt lên, đứng lặng ngắm nhìn nó. Khi đặt xuống, cô vòng qua bàn và đặt một nụ hôn lên má tôi. “Em đáng yêu làm sao!” cô nói rồi ra về.

Kể từ dạo đó, William Watters ghé tiệm thường xuyên hơn; nhưng ông chẳng hé răng lấy một lời về Nàng Crusoe. Ông là một lão già trung thành, và rõ ràng đã được dặn dò kỹ lưỡng. Thế nhưng có một buổi sáng, ông mang tới cho Billy một chiếc khay bạc Sheffield cổ kính tuyệt đẹp, nhờ anh bán nó đi để trừ nợ, còn bao nhiêu thì đưa tiền mặt cho Nàng Crusoe. William Watters không gọi cô là “Nàng Crusoe”, ông gọi cô là “Cô Lily”, cái tên chẳng hề hé lộ chút manh mối nào cho chúng tôi về tình cảnh thực sự của cô. Billy chẳng biết định giá chiếc khay ra sao nên đành đem hỏi tôi. Hiểu biết của tôi có hơn anh một chút nhưng cũng chẳng chắc chắn là bao. Tôi bảo anh cứ ứng trước số tiền mà anh thấy hợp lý, rồi gửi nó lên thành phố để nhờ thẩm định, hay người ta gọi là gì cũng được, thế là anh làm theo; và khi tấm séc từ cửa hàng đồ cổ gửi về thì đó là một khoản tiền kếch xù.

Chẳng bao lâu sau đó, Nàng Crusoe đến thăm tôi. Đó là một chuyến thăm chính thức, và cô có để lại danh thiếp. Khi đặt tấm danh thiếp lên bàn, cô nói: “Như tôi đã nói với bạn đấy, tôi không muốn những người bản xứ khác biết chuyện — họ không gặp lại tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ, và họ nghĩ tôi chỉ là một người xa lạ thuê lại ngôi nhà cũ và muốn được sống một mình.”

Sau khi cô đi rồi, tôi cầm tấm danh thiếp lên, và những gì đọc được trên đó suýt làm tôi đứng tim. Có những cái tên mang sức nặng lớn đến mức chúng ta coi chúng như những biểu tượng mang ý nghĩa đặc biệt. Cái tên in trên danh thiếp của Nàng Crusoe vẫn luôn hiện lên trong tâm trí tôi như hiện thân của tiền bạc — những núi tiền vô tận. Tôi thực sự không thể tin nổi vào mắt mình liền cầm nó chạy ngay ra chỗ Billy.

“Anh nhìn đi,” tôi nói và đặt tấm danh thiếp trước mặt anh, “cô ấy vừa mời chúng ta đến ăn tối vào Chủ nhật tới đấy!”

Chà, chúng tôi chẳng tài nào hiểu nổi cơ sự này. Tại sao một người phụ nữ mang cái tên lẫy lừng như thế lại lưu lạc về chốn này, chẳng có gì để ăn ngoài những thứ mà William Watters kiếm chác được, những món hàng mà Billy cung cấp từ cửa hàng nhỏ bé của mình, và trả công bằng những chiếc khay bạc Sheffield?

Đêm Chủ nhật ấy, chúng tôi dùng bữa tối trong phòng ăn lớn. Chính giữa chiếc bàn gỗ gụ sáng bóng là một chân nến năm nhánh cắm những cây nến trắng cao vút, còn William Watters đóng vai người quản gia. Bạn sẽ chẳng thể nào tin nổi ông lại làm việc đó hoàn hảo đến thế. Sau bữa tối, chúng tôi thưởng thức cà phê ngoài hiên trước nhà, ngắm nhìn hoàng hôn rực rỡ và vầng trăng bạc trải dài trên những ngọn đồi, và cụ cóc già từ dưới phiến đá bò ra ngồi bầu bạn với chúng tôi.

Nàng Crusoe mặc một chiếc váy trắng mỏng manh do chính cô tự may, cô trò chuyện về ngôi nhà cổ và những năm tháng tuổi thơ gắn bó nơi đây. Nhưng cô không hé lộ nửa lời về lý do vì sao mình lại quay về sống một mình trên điền trang gia truyền nhà Davenant.

Chúng tôi được biết mẹ cô là một tiểu thư dòng họ Davenant, còn ông ngoại cô chính là vị đô đốc già kia. Cô không đả động gì đến người đàn ông mang cái tên in trên danh thiếp của mình. Cứ như thể cô đột ngột dừng lại khi chạm đến quãng đời đó, hoặc giả nó chưa từng tồn tại trên cõi đời này vậy.

Một lúc sau, cô dẫn tôi lên lầu và để Billy ở lại hiên nhà hút thuốc. Cô bảo có thứ này muốn cho tôi xem. Phòng của cô là một căn phòng vuông vức rộng lớn nằm ở góc Tây Nam ngôi nhà. Trong phòng kê một chiếc giường bốn cột to lớn với bộ rèm lụa xanh đã phai màu, bên cạnh là lò sưởi có cặp củi chống cùng tấm bình phong theo phong cách Adam. Nàng Crusoe tay cầm cây nến, và khi đứng giữa căn phòng, cô dường như thu hút toàn bộ ánh sáng vào người, hệt như những vị thánh trong các bức tranh cổ. Cô xinh đẹp đến mức suýt làm tôi bật khóc. Tôi không sao giải thích nổi, nhưng ẩn chứa trong vẻ đẹp của cô là một nét gì đó thật đáng thương.

Cô đặt cây nến xuống rồi mở một chiếc rương cổ bọc đồng. Cô lấy ra một cuộn vải, mang tới đặt lên chiếc bàn cạnh ngọn nến.

“Tôi mua nó bằng số tiền mà Billy nhà bạn đổi được từ chiếc khay bạc Sheffield của tôi đấy,” cô nói. Rồi cô quay sang tôi với cử động nhanh nhẹn, đặt hai tay lên vai tôi. “Ôi, em thật là đáng yêu — khi nhìn thấy em đang làm những món đồ nhỏ xíu ấy — tôi biết rằng… rằng Chúa trời đã dẫn lối cho tôi. Em sẽ… em sẽ… chỉ cho tôi cách làm chứ?”

Trên đường về nhà, tôi đã kể hết chuyện đó cho Billy nghe.

“Cô ấy chẳng biết gì về may vá, cũng chẳng có mẫu rổ rá nào cả, và em sẽ phải lên đó mỗi ngày, còn William Watters sẽ đánh xe lừa đón em—”

Rồi tôi sụt sùi khóc thương cô một chút, bởi vì thật xót xa khi thấy cô thui thủi ở đó một mình, không có lấy một ai nâng khăn sửa túi hay che chở yêu thương như cách Billy đối xử với tôi.

“Ôi, Billy, Billy ơi,” tôi nói với anh, “em thà chịu khổ sống trên một tiệm tạp hóa cùng anh còn hơn là ở trong cung điện với bất kỳ ai khác—”

Và Billy đáp: “Đừng khóc nữa em yêu, em sẽ chẳng phải sống với ai khác đâu.”

Anh vòng tay ôm lấy tôi, và khi chúng tôi sánh bước bên nhau trong đêm tháng Tư, cảm giác ấy tựa như những ngày tháng chúng tôi còn là những kẻ mộng mơ yêu nhau thuở nào, chỉ có điều niềm hạnh phúc chúng tôi dành cho nhau lúc này còn sâu sắc và tinh tế hơn gấp bội, bởi nếu ngày trước chúng tôi mới chỉ phỏng đoán về hạnh phúc, thì giờ đây chúng tôi đã thực sự thấu hiểu nó —

Thế là, ngày nào tôi cũng lên đó. William Watters lái xe đón tôi, tôi mang theo các mẫu rổ rá của mình và chúng tôi ngồi trong căn phòng lớn hướng Tây, ngay dưới ô cửa sổ có một đôi chim cổ đỏ đang tíu tít làm tổ.

Chúng tôi ngắm nhìn chúng làm việc, và có cảm giác rằng dù chúng tôi có chăm chỉ đến đâu thì hai chú chim ấy vẫn luôn nhanh chân hơn một bước. “Tôi chưa từng mơ tới,” Nàng cư-sô bỗng thốt lên một buổi sáng nọ, “rằng chúng lại cứ luôn tay luôn chân thế này.”

“Cô cứ đợi đến lúc chúng bắt đầu bón mồi cho lũ chim non mà xem,” tôi bảo cô. “Người ta cứ hay ca tụng sự tự do tự tại như loài chim. Nhưng tôi có thể khẳng định rằng chúng phải làm tôi tớ từ rạng đông cho đến tận khi tối mịt. Tôi từng nhìn thấy một con chim mẹ lúc chạng vạng tối vẫn đang mớm miếng mồi cuối cùng cho một đứa con đang kêu réo oai oái trong lúc chim bố bón cho đứa khác.”

Nàng Crusoe đặt công việc xuống, phóng tầm mắt nhìn ra những ngọn đồi. “Chim bố ư,” cô lẩm bẩm, và thế là suốt một hồi lâu chẳng ai nói thêm câu nào nữa, chúng tôi cứ cặm cụi khâu vá, để rồi cuối cùng cô cất lời từ tận đáy lòng: “Chồng em thật là chu đáo với em biết bao!”

“Chồng sinh ra là để thế mà chị.”

“Có những ông chồng không được như vậy đâu em,” giọng cô chùng xuống và trở nên cứng nhắc, “có những người đòi hỏi quá nhiều nhưng lại cho đi quá ít…”

Tôi giữ im lặng và chẳng mấy chốc cô lại tiếp lời. “Họ cho tiền bạc — và nghĩ thế là đủ. Họ tặng trang sức — và nghĩ rằng chúng ta phải vô cùng biết ơn.”

“Chà, theo kinh nghiệm của em,” tôi bảo cô, “đàn ông cũng dành cho phụ nữ nhiều tình yêu chẳng kém gì…”

Cô nhìn tôi trân trân. “Em có ý gì?”

“Tình yêu tiêu tốn của họ rất nhiều thứ.”

“Bằng cách nào chứ?”

“Họ lao động vì chúng ta. Lấy tiệm tạp hóa của Billy làm ví dụ nhé. Nếu không vướng bận vợ con, chắc hẳn Billy đã theo đuổi những điều anh ấy thực sự say mê. Chị có tin không, hồi trước Billy rất muốn nghiên cứu luật, nhưng điều đó đòi hỏi ngút ngàn năm trời làm việc cật lực trước khi có thể kiếm nổi một xu, và khi ấy anh ấy cùng em sẽ uổng phí cả tuổi trẻ chỉ để chờ đợi — thế là anh ấy chọn chuyển hướng sang kinh doanh — và đối với một người đàn ông, việc từ bỏ hoài bão tương lai hằng ấp ủ vì người phụ nữ của mình là một sự hy sinh vô cùng lớn lao — đó là lý do em cảm thấy mình làm bao nhiêu cho Billy cũng không đủ—”

“Chị không hiểu sao em lại có thể nhìn nhận mọi thứ theo cái cách ấy,” cô nói, đôi mắt mở to sáng rực. “Phụ nữ vốn là những bà hoàng, và họ ban ơn cho đàn ông khi chấp nhận kết hôn với họ—”

“Nếu phụ nữ là bà hoàng, thì đàn ông là những vị vua — Billy đã trân trọng ban ơn cho em đấy chứ…”

Cô mỉm cười nhìn tôi. “Ôi, cô bé ngốc nghếch đáng yêu của tôi —” cô nói, rồi đột ngột đứng dậy bước sang quỳ gối bên cạnh tôi. “Em sẽ nghĩ sao về một người đàn ông lấy được một người phụ nữ mà cả thế giới ngợi ca là xinh đẹp, tài năng, và được biết bao… bao vương tôn công tử dòm ngó muốn kết duyên — Thế nhưng bản thân anh ta lại là một người rất đỗi bình thường, ngoại trừ việc anh ta có rất nhiều tiền — hàng triệu triệu — và sau khi cưới được người phụ nữ mà anh ta từng thề thốt tôn sùng, anh ta lại chỉ muốn biến cô ấy thành một bà nội trợ đầu tắt mặt tối bình thường. Anh ta muốn cô ấy quanh quẩn xó bếp trông nom nhà cửa. Có đêm anh ta bảo rằng niềm hạnh phúc lớn lao nhất đời mình là đi làm về được nhìn thấy vợ hâm… đôi giày lúa cho anh ta. Và anh ta bảo hình mẫu người phụ nữ lý tưởng trong mắt anh ta là người… người biết bồng bế một đứa trẻ trên tay…”

Tôi cúi nhìn cô. “Chà, ngay từ phút ban đầu,” tôi đáp, “em muốn biết liệu người phụ nữ ấy có yêu người đàn ông đó hay không cái đã…”

Cô trân trân nhìn tôi rồi đứng phắt dậy. “Nếu có thì sao chứ? Cô ấy đâu có kết hôn để làm… nô lệ cho anh ta…”

Tôi chỉ tay về phía chú chim cổ đỏ mẹ trên cành cây thấp bên dưới. “Em tự hỏi không biết nó có gọi đó là cảnh nô lệ không nữa! Chị thấy đấy… nó bận rộn… xây tổ đến mức chẳng có thời gian để bận tâm xem chim bố có hát ít bản tình ca hơn hồi đầu xuân hay không.”

Cô bật cười rồi lại quỳ sụp xuống cạnh tôi. “Ôi, cái con người thực tế ngộ nghĩnh này! Nhưng nguyên nhân không phải vì tôi tiếc những bản tình ca đâu. Anh ấy vẫn hát đấy chứ. Mà bởi vì tôi không thể làm một người vợ đầu tắt mặt tối tầm thường…”

“Thế chị muốn làm một người vợ thế nào cơ chứ?”

“Tôi muốn được cùng anh ấy phiêu du khắp chốn — tôi đã vạch kế hoạch cho một tuần trăng mật giữa hoang mạc, và chúng tôi đã có nó — rồi tôi dự định sau đó sẽ dong buồm ra khơi đến xứ sở Vô Định — và chúng tôi đã giương buồm — rồi tiếp đó — tôi muốn đến những vùng cao nguyên — cưỡi ngựa và cắm trại — rồi vào rừng săn bắn câu cá — nhưng anh ấy từ chối. Anh ấy bảo chúng tôi đã lang thang đủ rồi. Anh ấy muốn xây một ngôi nhà — và muốn tôi hâm… đôi giày cho anh ấy…”

“Và thế là hai anh chị cãi nhau à?”

“Chúng tôi cãi nhau — những cuộc tranh cãi nảy lửa đầy nặng nề — và chúng tôi đã thốt ra những lời… tồi tệ — những điều mà chúng tôi không tài nào tha thứ được cho nhau—”

Cô nức nở vùi mặt vào vai tôi và tôi dịu dàng hỏi: “Những điều mà chị không thể tha thứ ư?”

“Đúng thế. Và anh ấy cũng không thể. Đó là lý do vì sao tôi bỏ trốn.”

Tôi im lặng chờ đợi.

“Tôi không sao chịu nổi cảnh nhìn thấy anh ấy bước đi với gương mặt lạnh lùng cứng nhắc, chẳng còn chút hình bóng nào của người tình cũ. Và anh ấy chẳng thèm nói chuyện với tôi ngoại trừ những câu giao tế xã giao. Rồi anh ấy rủ thêm người đi cùng chúng tôi — đi bất cứ đâu. Và chúng tôi chẳng bao giờ được ở riêng một mình—”

“Chị đã nói gì mà khiến anh ấy… thành ra như vậy?”

Cô ngẩng đầu lên. “Tôi bảo rằng tôi… căm ghét anh ấy—”

“Ôi trời ơi —”

Cô ngồi thụp xuống gót chân.

“Đó quả là một điều khủng khiếp phải không nào? Đó là lý do vì sao tôi bỏ trốn. Tôi không thể chịu đựng nổi. Tôi thừa biết đó là điều mà không một người đàn ông nào… có thể… tha thứ nổi—”

Tôi vuốt mái tóc cô, nhẹ nhàng ôm lấy cô đu đưa qua lại trong lúc cô khóc nức nở. Thật kỳ lạ là tôi lại thấy cô giống như một đứa trẻ. Trong khi tôi chỉ là vợ của một gã chủ tiệm tạp hóa ở quê và sống ngay trên cửa hàng, còn cô là vợ của một người đàn ông có tên tuổi vang dội từ Đông sang Tây, lan rộng ra khắp toàn cầu. Nhưng bạn thấy đấy, cô ấy vẫn chưa học được cách sống. Kỳ thực tôi cũng vậy thôi. Nhưng Billy đã dạy cho tôi rất nhiều điều.

Tôi nghĩ việc trút bầu tâm sự với tôi mang lại cho cô sự khuây khỏa phần nào. Nhưng cô bắt tôi phải hứa rằng dù chuyện gì xảy ra đi nữa cũng không được để lộ tung tích của cô cho hắn biết.

“Trừ khi tôi… chết đi,” cô nói, khuôn mặt trắng bệch tựa đóa ly tinh khiết, “trừ khi tôi chết, và khi đó em có thể… giải thoát… cho anh ấy—”

Billy tỏ ra tiếc nuối vì tôi đã hứa như vậy. “Chẳng hiểu sao anh cứ thấy mình vướng vào trách nhiệm, cưng à, và anh cá là chồng cô ấy sắp phát điên lên mất rồi.”

“Anh cũng sẽ thế chứ, Billy?”

Anh ôm chầm lấy tôi nhanh đến mức suýt làm tôi cạn kiệt hơi thở. “Đừng có hỏi mấy câu kiểu đó chứ,” anh nói, và giọng anh nghe lạ hoắc không giống thường ngày. “Nếu có chuyện gì xảy ra với em — nếu bất kỳ chuyện gì xảy ra — anh sẽ… anh sẽ… ôi, tại sao phụ nữ cứ hay thích hỏi những câu như thế cơ chứ —?”

Những ngày sau đó, Billy không muốn tôi rời khỏi tầm mắt anh nửa bước. Thậm chí anh còn ghé lạnh việc để tôi đến ngôi nhà dòng họ Davenant cùng William Watters. “Trông chừng cô ấy cẩn thận đấy, William nhé,” anh thường dặn với theo rồi đứng nhìn chúng tôi khuất bóng.

William và tôi dần trở thành những người bạn rất thân thiết. Ông là một lão da đen khôn ngoan và hết lòng trung thành với Nàng Crusoe. Thường thì ông sẽ dọn trà cho chúng tôi thưởng thức dưới tán cây, trừ những hôm trời mưa thì chúng tôi sẽ nhâm nhi trong thư phòng.

Đó là vào một ngày mưa, Nàng Crusoe cất lời: “Không biết William đi đâu rồi nhỉ. Từ lúc em đến tôi chẳng thấy nó đâu cả. Tôi tìm gọi hoát mà chẳng tài nào thấy tăm hơi.”

Tuy nhiên, đúng giờ uống trà thì ông xuất hiện cùng một đĩa bánh quế nóng hổi rắc đường bột thơm phức ở giữa. Khi cô chủ gặng hỏi về sự biến mất bí ẩn vừa rồi, ông đáp rằng mình vừa dọn dẹp lại căn gác mái.

“Nhưng này William, thời tiết thế này mà lại đi dọn gác mái á?”

“Tui có làm việc ngoài mưa được đâu cô Lily, nên tui chui vô nhà làm…”

Ông chỉ chịu nói có chừng đó, và sau khi chúng tôi thưởng thức xong ấm trà, cô quay sang tôi bảo: “Trên gác mái có rất nhiều thứ hay ho lắm. Lên xem tay nghề dạo này của thằng William thế nào nào em—”

Không gian u tịch cổ kính được chùi rửa sạch sẽ bóng loáng nhờ nước và xà phòng, vương vất mùi ẩm ướt của xà phòng thơm. Có tiếng mưa dội lộp bộp trên mái nhà, tiếng nước tạt ào ào vào khung cửa sổ tròn phía đông. Xuyên qua ô cửa sổ phía Tây rọi vào thứ ánh sáng xanh ngọc bích nhạt nhòa, mở ra tầm nhìn bao quát cả triền đồi. Khi mắt đã quen với ánh sáng mập mờ, chúng tôi nhận ra muôn vàn vật dụng chất đống — một chiếc khung cửi cổ trông hệt như con nhện khổng lồ nằm dưới mái vòm nhọn, một chiếc rương đựng ngăn kéo có thể khiến bất kỳ nhà sưu tầm nào cũng phải phát cuồng, những chiếc ghế Chippendale đã rách đệm mút, ghế Windsor gãy tựa lưng, những khung gương mạ vàng tróc hết kính — các loại hòm xiểng — sách vở — chai lọ — tất cả những thứ trôi nổi tạt ngang tạt ngửa của một gia đình bề thế lâu đời. Hầu hết đồ đạc được đẩy lùi sát vào tường, nhưng ngay chính giữa căn phòng là một vật thể mà thoạt nhìn tôi cứ ngỡ là một chiếc rương nhỏ.

Nàng Crusoe tới nơi trước và quỳ sụp xuống bên cạnh nó. Cô thốt lên một tiếng kêu nhỏ. “Cưng ơi, ra đây xem này!” và tôi vội bước đến, chỉ khoảnh khắc sau, chính tôi cũng quỳ rạp xuống đất. Bởi vì vật thể sẫm màu ấy hóa ra lại là một chiếc nôi — một chiếc nôi gỗ gụ có mui trùm xinh xắn, nơi bao thế hệ con cháu dòng họ Davenant từng được đặt nằm đưa kẽo kẹt.

“William đã lôi nó ra đấy,” Nàng Crusoe thổ lộ, “để chuẩn bị khiêng xuống dưới nhà. Ôi, lão Thứ Sáu trung thành của tôi ơi! Em có phiền nếu tôi khóc một chút không hả cô bé đáng yêu?”

Mùa hè năm đó trời mưa rất nhiều, oi bức và ngột ngạt. Billy và tôi thèm khát những cơn gió lạnh thổi lồng lộng qua vùng biển thuộc Bờ Bắc, nhưng chúng tôi chẳng hề phàn nàn điều gì, bởi vì chúng tôi có nhau, và tôi đời nào đổi Billy lấy bất kỳ ngọn gió mát lành nào trên cõi đời này. Nàng Crusoe ít chịu khổ sở hơn tôi, bởi cô đang ở trên chính mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình, và vào những buổi chiều khi chúng tôi ngồi khâu vá cùng nhau, William Watters sẽ pha nước chanh khao khách, còn đến tối khi Billy lên đón, chúng tôi lại ngồi dưới bầu trời ngập tràn sao trời cho đến khi những làn gió nhẹ lay động vòm lá, khi ấy chúng tôi mới lưu luyến ra về và để người chị thân yêu ở lại một mình.

Càng về sau, chúng tôi càng thêm phần quyến luyến chẳng nỡ rời xa cô, nhưng cô luôn tỏ ra vô cùng kiên cường. “Tôi đã có lão Thứ Sáu trung thành bảo vệ rồi,” cô trấn an chúng tôi, “cả khẩu súng lục của ông nội tôi nữa chứ.”

Cứ thế mùa hè trôi qua, mùa thu ghé đến, chú chim cổ đỏ chăm chỉ cùng cả gia đình ngực đỏ của nó bắt đầu hành trình di cư về phương Nam, những cơn mưa nối đuôi nhau trút xuống đến mức khi tháng Mười vừa gõ cửa thì các con đường biến thành những dòng sông bùn đỏ quánh, dòng suối dâng cao cuồn cuộn đổ qua dưới gầm cầu thành những trận hồng thủy màu gạch nung giận dữ, và đàn cừu trên đồi lại càng trở nên hồng rực hơn bao giờ hết. Chẳng hề thiếu hụt sắc màu trong những ngày xám xịt ấy, bởi xuyên qua bức màn sương mù, những tán cây bùng nổ thành từng vệt đỏ, xanh và vàng rực rỡ. Nhưng giờ đây tôi không còn cùng William Watters ngồi sau con lừa xám đi đây đi đó nữa, bởi có những biến cố đã giữ chân tôi ở lại trong nhà.

Đó là một đêm tháng Mười một mưa gió dầm dề, tôi xuống cửa hàng gọi Billy lên ăn tối. Tôi mang theo một chiếc đĩa nhỏ cho con mèo Tid của tiệm, và khi nó ăn xong, Billy cắt cho nó một mẩu phô mai nhỏ, thế là nó bắt đầu làm nũng xin ăn. Chúng tôi đã huấn luyện Tid biết ngồi thẳng đứng để xin quà, trông nó ngộ nghĩnh làm sao, vì nó vừa béo vừa đen lại cực kỳ ghét việc phải cúi đầu xin xỏ, nhưng ngặt nỗi lại mê mẩn phô mai. Chúng tôi đang cười phá lên trêu nó thì một luồng chói lòa bất chợt quét qua cửa hàng, tiếp theo là tiếng phanh xe ô tô dừng hắt lại.

Billy lập tức tiến ra phía trước. Cánh cửa mở toang, một người đàn ông mặc áo mưa bị cơn bão táp quật ngả ngớn lùa xộc vào nhà.

“Trời ạ, đêm gì mà ướt át thế này!” tôi nghe thấy tiếng anh ta vang lên, và tôi thừa biết đây không phải khách hàng quanh vùng của Billy rồi. Giọng nói này chẳng có chút âm điệu kéo dài là đà đặc trưng của người Virginia. Nó cực kỳ sắc sảo, dứt khoát và mang đầy vẻ uy quyền.

Anh ta cởi mũ ra, và dẫu đứng ở khoảng cách ấy tôi vẫn nhận ra mái tóc vàng óng ả đang lấp lánh. Anh ta cao lêu ngêu vượt trội hơn hẳn Billy, mà ngặt nỗi Billy đâu có thấp. “Không biết anh có thể giúp tôi chút việc được không,” anh ta mở lời rồi ngập ngừng, “đây là một vấn đề mang tính cá nhân khá nhiều.”

“Nếu anh chịu khó lên lầu,” Billy bảo anh ta, “trên đó chỉ có vợ chồng tôi thôi, và tôi có thể đóng cửa tiệm luôn đêm nay.”

“Tuyệt!” anh ta đáp, thế là tôi đi trước dẫn đường với con mèo Tid lững thững theo sau, chẳng mấy chốc hai người đàn ông bước vào nhà và Billy giới thiệu người lạ mặt với tôi.

Anh ta đi thẳng vào vấn đề. “Tôi nghĩ vì các anh mở tiệm tạp hóa nên có lẽ sẽ nắm bắt được tin tức trong vùng. Tôi vừa bị thất lạc… vợ…”

“Mất rồi ư?” Billy ân cần lên tiếng hỏi.

“Không. Vài tháng trước chúng tôi lái xe về vùng này. Cách đây vài dặm động cơ xe của tôi gặp sự cố, buộc tôi phải đi bộ vào thị trấn tìm thợ sửa. Lúc tôi quay lại thì vợ tôi đã biến mất…”

Tôi giấu tay dưới gầm bàn cấu mạnh vào người Billy. “Biến mất ư?” tôi thốt lên lặp lại.

“Đúng vậy. Cô ấy để lại một mẩu giấy nhắn. Bảo rằng cô ấy có thể bắt kịp chuyến tàu hỏa ở ga và sẽ đi bằng nó. Chắc chắn có ai đó đã cho cô ấy đi nhờ xe, bởi vì cô ấy mang theo túi hành lý du lịch. Cô ấy nhắn là sẽ đáp tàu sang Pháp ngay lập tức, và cấm tôi tìm kiếm cô ấy. Tất nhiên là tôi vẫn tìm, lùng sục khắp châu Âu nhưng chẳng thu được chút tung tích nào, rồi tôi chợt nghĩ biết đâu rốt cuộc cô ấy vẫn đangẩn mình đâu đó ở vùng này—”

Tôi nắm chặt lấy tay Billy. “Hai anh chị đã cãi vã hay xảy ra chuyện gì à?”

Anh ta đưa tay luồn vào mái tóc. “Mọi chuyện lỡ trớn theo cách nào đó không rõ nữa,” anh ta ngập ngừng đáp, “tôi cũng chẳng hiểu tại sao. Tôi yêu cô ấy.”

Giá như bạn được nghe cách anh ta nói câu ấy! Giá như cô ấy được nghe thấy! Một khoảng lặng bao trùm cho đến khi tôi cất lời: “Anh có đề nghị cô ấy hâm giày cho mình không?”

Anh ta trân trân nhìn tôi, rồi vươn tay qua bàn nắm chặt lấy tay tôi đau điếng. “Cô đã gặp cô ấy,” anh ta khẳng định, “cô đã gặp cô ấy rồi phải không…?”

Lúc đó tôi mới sực nhớ ra. “Tôi không thể nói gì thêm nữa. Anh thấy đấy… tôi đã hứa rồi—”

“Rằng cô sẽ không nói cho tôi biết chứ gì?”

“Đúng thế.”

Anh ta ngửa đầu bật cười sảng khoái. “Nếu cô ấy cònẩn náu ở vùng này, tôi thế nào cũng tìm ra.” Và tôi thừa biết anh ta sẽ làm được. Anh ta thuộc tuýp người mà bạn biết chắc rằng sẽ chẳng có chướng ngại vật nào cản bước nổi khi anh ta đã hạ quyết tâm truy tìm thứ mình muốn.

Tôi giữ anh ta lại ăn tối. Trời lạnh căm căm và mưa lất phất, trông anh vô cùng mệt mỏi.

“Trời ạ,” anh ta cảm thán, “nơi đây thật ấm cúng dễ chịu làm sao, với đống lửa bập bùng, chú mèo nhỏ và ấm nước sôi trên lò sưởi thế kia! Đây chính là khung cảnh mà tôi hằng ao ước—”

“Anh sẽ chẳng thích thú gì nếu phải sống ngay trên một tiệm tạp hóa đâu,” tôi bảo anh ta.

“Tại sao chứ?”

“Ồ, chẳng ai quanh đây đời nào làm thế cả, họ toàn là hậu duệ của những vị ký tên vào Tuyên ngôn Độc lập, xa hơn nữa là dòng dõi của William kẻ chinh phạt, thế nên lúc nào họ cũng ngẩng cao mũi kiêu kỳ.”

“Hỡi linh hồn của Jefferson! — tại sao họ lại phải thế cơ chứ?”

“Lẽ ra họ không nên thế. Nhưng ngặt nỗi họ vẫn cứ thế…”

Anh ta quay lại chủ đề về người vợ. “Tôi đâu có bắt cô ấy hâm giày cho mình. Chỉ là tôi muốn cô ấy có cảm giác muốn làm điều đó thôi,” anh ta hướng về phía Billy để tìm sự đồng tình, và Billy gật đầu. Billy thực sự phát ra tiếng gừ gừ thoả mãn mỗi khi tôi chăm sóc chu đáo cho anh sau một ngày làm việc mệt nhọc. Anh bảo đó là bản năng hướng về tổ ấm của đàn ông và phụ nữ nên biết đường khuyến khích điều đó.

“Cô ấy có hâm giày cho anh không?” anh ta quay sang hỏi Billy.

“Giờ thì không, cô ấy bận tối mặt tối mày rồi…” và ngay khoảnh khắc đó, tựa như có một đạo diễn đã dàn dựng sẵn kịch bản, từ căn phòng bên cạnh bỗng vẳng lên tiếng khóc oe oe nhỏ xíu.

Tôi bước vào trong và bế ra — thằng bé Junior! Nó mới tròn một tháng tuổi, nhưng bạn biết đấy, những đứa trẻ mới sinh ngọt ngào và đáng yêu làm sao với làn da mịn màng như cánh hoa hồng, đôi bàn tay nhỏ xíu co quắp cùng mái tóc tơ mềm mại — tóc tơ của Junior có màu nâu, bởi vì cả Billy và tôi đều mang tóc tối màu.

“Anh thấy đấy, nó làm tôi bận rộn suốt ngày,” tôi lên tiếng.

Tôi tự hào đến mức dám chắc sự hãnh diện ấy lộ rõ trên từng biểu cảm của mình, còn về phần Billy, anh mỉm cười rạng rỡ với vẻ đắc ý đầy tình phụ tử mà anh đã tự tập từ khoảnh khắc lần đầu tiên gọi tôi là “Bà mẹ trẻ”.

“Anh có thắc mắc vì sao cô ấy không còn thời gian hâm giày cho tôi nữa không?” đó là câu hỏi của anh.

Người đàn ông lạ mặt chìa tay ra — “Cho tôi bồng đứa nhóc một chút nhé.” Và anh ngồi đó, nét mặt không nở một nụ cười, đăm đăm cúi xuống ngắm đứa con trai của tôi. Khi ngẩng đầu lên, anh thốt lên bằng giọng điệu có phần khô khốc, “Tôi cứ nghĩ chú mèo nhỏ với ấm trà là đã đủ lắm rồi — nhưng khung cảnh này dường như còn tuyệt diệu đến mức khó tin…”

Tôi không sao diễn tả hết thiện cảm mình dành cho anh ta. Anh ta vừa to lớn, bảnh bao — lại vừa vô cùng dịu dàng. Hôm nọ tôi tình cờ đọc được một bài thơ, và anh ta gợi cho tôi nhớ đến nó:

“... những kẻ mạnh mẽ”

Bậc Thầy thì thầm rằng, “chính là những người dịu dàng nhất!”

Trước khi rời đi, anh ta nắm lấy tay tôi. “Tôi muốn cùng cô chơi một trò chơi. Cô có nhớ hồi còn bé chúng ta hay chơi trò giấu đồ vật, rồi gợi ý cho người đi tìm bằng cách nói ‘ấm hơn’ khi họ đến gần, và ‘lạnh hơn’ khi họ đi lạc hướng không? Cô có thể nói ‘ấm’ và ‘lạnh’ với tôi được không? Làm thế chắc không phạm luật lời hứa của cô chứ nhỉ?”

“Không.”

“Vậy chúng ta bắt đầu ngay bây giờ nhé. Sáng mai tôi sẽ đi về hướng bắc và hướng đông—”

“Lạnh!”

“Về hướng nam và hướng tây—”

“Ấm hơn.”

“Lên dồi đồi ư?”

“Rất ấm. Nhưng anh không được hỏi thêm nữa đâu đấy.”

“Được rồi. Nhưng tôi sẽ còn quay lại, và chúng ta sẽ tiếp tục chơi trò này.”

Billy đi tiễn anh ta xuống nhà, và khi quay trở lại, chúng tôi cùng đứng nhìn đống lửa bập bùng, anh cất lời: “Em không kể cho anh ta nghe thật à?”

“Tất nhiên là không rồi. Đó là điều bất ngờ tuyệt diệu, tuyệt diệu nhất mà anh ta phải tự mình khám phá ra chứ—”

Hôm sau tôi sang thăm Nàng Crusoe. William Watters chở tôi đi. “Có một gã cứ lảng vảng quanh đây từ sáng tới giờ cô chủ ạ,” ông càu nhàu, “cả một con chó nữa chứ—”

“Gã đàn ông thế nào hả William?”

“Hắn ta đi săn, mà cô Lily thì không tài nào ưa nổi cảnh sát sinh hại vật—”

Đi được nửa đoạn đường, chúng tôi ngang qua người đàn ông đó. Ông ta cởi mũ chào khi nhìn thấy tôi. “Thời tiết hôm nay trời lạnh quá nhỉ,” anh ta vui vẻ lên tiếng.

“Trời đang ấm dần lên đấy,” tôi ngoái lại đáp trả, còn William thì lầm bầm quất lừa đi tiếp.

Hôm nay tôi mang theo cả Junior, và khi đến nơi tôi đi thẳng lên lầu. Ngay chính giữa căn phòng trong chiếc nôi gỗ gụ có mui trùm là một cánh hoa hồng co quắp nhỏ xíu khác của một đứa trẻ. Nhưng đây không phải là “Junior”.

“Robinson,” Nàng Crusoe thì thầm vào lúc tôi vừa cúi xuống ngắm đứa trẻ và hỏi tên nó.

“Bởi vì loài chim cổ đỏ ư?” tôi đã gặng hỏi thế.

Cô lắc đầu. “Chẳng lẽ tôi lại đặt tên nó là Crusoe được sao?”

Thế là thằng bé nằm đó, bé Robinson Crusoe nhỏ xíu giữa không gian hoang mạc trải sàn gỗ đánh bóng loáng, cất tiếng co cắp chào mừng đứa con trai kháu khỉnh của tôi!

Nàng Crusoe đang ngồi trên chiếc ghế bành lớn. Sức khỏe cô chưa hồi phục hẳn, và William Watters phải nhờ cô em gái Mandy đến phụ giúp chăm sóc. Nàng tiểu thư xinh đẹp trông vô cùng nhợt nhạt, dưới đôi mắt hằn lên những quầng thâm. Khi tôi ngồi xuống bên cạnh, cô cất lời: “Chắc tôi lại phải nhờ Billy nhà cô bán bớt vài món đồ nữa rồi. Cô thấy đấy, phải trả tiền thuê người hầu, với lại cu Robin của tôi cần được chăm sóc chu đáo. Có một chiếc bàn trang trí áp tường chắc sẽ kiếm được khối tiền từ mấy tay buôn đồ cổ trên thành phố.”

“Em ước gì chị không phải bận tâm lo lắng chuyện đó,” tôi nói. “Em ước gì… ước gì… chị để em gọi bố của bé Robin đến đây—”

“Bố của bé Robin!” cô hít một hơi thật sâu, “nghe lạ lẫm làm sao! — Bố của bé Robin…”

Tôi kiên nhẫn đợi cô tiêu hóa hết câu nói ấy, rồi tiếp lời: “Em thấu hiểu cảm giác của chị. Khi nghĩ về Billy với tư cách là bố của Junior, cảm giác đó hoàn toàn khác với lúc nghĩ về anh ấy như người chồng của em, và nó tạo ra một cảm giác là lạ nghẹn đắng ở cổ họng hệt như lúc em muốn khóc vậy—”

“Em thì có quái gì mà phải khóc,” cô gay gắt vặn lại, “chẳng có gì cả, trong khi đôi lúc chị có cảm giác mình chỉ chực khóc thành dòng sông nước mắt đây này!”

Tôi nhận ra mình phải cẩn trọng hơn nên vội vã chuyển chủ đề. “William,” tôi lên tiếng sau phút ngập ngừng, “đang cảm thấy lo lắng vì có một kẻ cứ lảng vảng đi săn trong khu vườn.”

“Nó đã báo lại với tôi rồi. Tôi không tài nào hiểu nổi sao lại có kẻ dám đột nhập vào khu đất đã treo biển cấm. Tôi đã sai William ra cảnh cáo, nhưng xem chừng chẳng ăn thua gì. Tối qua tôi chưa nghe tiếng súng nổ. Nếu hắn dám nổ súng, tôi sẽ tự mình ra mặt dằn mặt hắn.”

Tôi thầm tự hỏi liệu Định mệnh có sắp đặt mọi chuyện theo cái cách đó hay không, và tôi cũng tự hỏi không biết việc xúi hắn nổ súng có tính là phạm lời hứa của mình không cơ chứ! Chúng tôi cặm cụi khâu vá trong bầu không khí tĩnh lặng suốt một hồi, nhưng Nàng Crusoe có vẻ bồn chồn đứng ngồi không yên. Cuối cùng cô thẫn thờ đi ra cửa sổ. Đó là một cánh cửa kính kiểu Pháp dài mở ra ban công. Cô vạch tấm rèm nhung sang hai bên và nhìn ra ngoài. “Hắn lại ở kìa,” cô bực dọc thốt lên, “cạnh cổng cùng với khẩu súng và con chó săn—”

Tôi đứng dậy bước đến bên cô. Người đàn ông đứng cạnh cột cổng, còn con chó ngồi ngoan ngoãn dưới chân. Trông họ hệt như một cặp tượng đá được cắm trên đỉnh đồi tròn vo, với những thung lũng nhấp nhô trải dài bên dưới cùng các chóp núi và bầu trời hoàng hôn vàng rực phía xa. Nàng Crusoe vô cùng tức tối trước cảnh tượng đó.

“Lát nữa mang trà lên, tôi sẽ sai William ra đuổi cổ hắn đi. Tôi không đời nào để lũ thú hoang dã của mình bị bắn hạ. Sáng nay có cả một đàn gà gô xuất hiện trên thảm cỏ, và bầy sóc của tôi còn thường xuyên lên tận hiên nhà để xin ăn. Đàn ông đúng là những sinh vật tàn nhẫn với súng ống và cạm bẫy.”

“Đàn bà cũng tàn nhẫn không kém đâu chị,” tôi nói, và giờ đây tôi quyết định lấy hết can đảm. “Giả sử nhé, ôi, giả sử như chim cổ đỏ mẹ tự ý bỏ tổ đi và không bao giờ cho chim bố được chia sẻ niềm hạnh phúc làm cha của nó, chị có gọi đó là tàn nhẫn không?”

“Ý em là gì?” giọng cô run lên lẩy bẩy.

“Chị đã tự ý giấu chiếc… tổ của mình rồi còn gì—”

“Tại sao tôi lại không được phép giấu nó chứ? Tôi luôn tâm niệm rằng khi nào muốn có một mái ấm thực sự, nơi đó sẽ chính là chốn này. Và thời điểm tôi khao khát một… mái ấm đã đến. Thế nên tôi đã lên kế hoạch đến đây… cùng anh ấy. Đó phải là món quà bất ngờ của tôi — anh ấy thậm chí còn chẳng biết khu đất cổ kính này thuộc về tôi cơ mà. Anh ấy nghĩ đó chỉ là một trong những đòi hỏi bốc đồng thất thường của tôi thôi, nhưng anh ấy vẫn nhượng bộ chiều theo ý tôi. Khi khởi hành chúng tôi đi cùng một nhóm bạn; họ rời đoàn ở Washington. Chính vào lúc chỉ còn lại hai chúng tôi — chúng tôi đã cãi nhau — và tôi bỏ trốn. Tôi để lại mẩu giấy nhắn bảo rằng đã sang Pháp. Chắc hẳn anh ấy đã đi tìm nhưng không thấy tôi. Tôi thậm chí còn chẳng dám chắc liệu anh ấy có còn muốn tìm tôi nữa không.”

“Chị có muốn được tìm thấy không?”

“Tôi không biết nữa. Thôi đừng bàn về chuyện đó nữa thì hơn.”

William bưng trà vào và được lệnh ra lệnh cho kẻ đột nhập cút đi.

“Tui đi ra rùi cô Lily,” ông đáp với vẻ đường bệ, “nhưng hắn nhứt định không chịu đi. Hắn bảo hắn không đi đâu hết, và tui thì chịu thua không làm gì được hắn.”

Cô lại tiến ra cửa sổ, lần này cô giật phăng tấm rèm phai màu sang một bên rồi bước thẳng ra ban công.

Tôi nghe thấy tiếng cô thét lên một tiếng; rồi cả căn phòng dường như chao đảo quay cuồng trước mắt tôi khi cô lùi phắt vào trong, kéo sập tấm rèm che khuất phía sau. Toàn bộ huyết dịch trên mặt cô rút sạch không còn một giọt.

“William,” cô cất giọng sắc lạnh, “tên đàn ông đó… đang tiến về phía ngôi nhà! Nếu hắn hỏi tìm tôi — bảo rằng tôi không… có nhà.”

“Dạ thưa vâng ạ,” William lủi thủi đi xuống nhà để đối phó với những cú gõ cửa rầm rầm bằng tay nắm bằng đồng.

Chúng tôi nghe tiếng mở cửa, nghe thấy giọng nói sắc sảo, dồn dập. Nghe cả lời đáp mang phong thái đường bệ của William. Rồi giọng nói dồn dập ấy cất lên: “Hãy nhắn với chủ nhân của anh rằng tôi sẽ kiên nhẫn chờ đợi.”

William mang lời nhắn bước lên lầu. “Hắn đang ngồi lù lù ngoài hiên nhà kia kìa, nhìn cái bộ dạng đó chắc hắn tính ngồi lì ở đấy suốt đêm luôn quá.”

“Cứ để mặc hắn ngồi đấy,” Nàng Crusoe bất lịch sự phán một câu xanh rờn. “Khóa chặt tất cả các cửa lại đi William, rồi dọn trà tiếp đi.”

Cô ngồi đó nhấm nháp một tách trà còn nóng bỏng rẫy, cái đầu ngẩng cao kiêu kỳ và chân thì nhịp đập xuống sàn nhà. Nhưng tôi thì chẳng nuốt nổi dù chỉ một ngụm. Tâm trí tôi quay cuồng phát ốm lên được bởi suy nghĩ về việc anh ấy yêu cô biết nhường nào, và về việc cô đã hóa đá trái tim mình ra sao.

Cuối cùng tôi không sao chịu đựng thêm được nữa. Những giọt nước mắt cứ thế lăn dài trên má. Nàng Crusoe đặt tách trà xuống khay rồi trợn tròn mắt nhìn tôi đầy kinh ngạc. “Có chuyện gì thế hả?”

“Ôi, sao chị có thể nhẫn tâm thế… trong khi anh ấy yêu chị sâu sắc đến vậy?”

Tôi chẳng hiểu sao mình lại dám thốt ra câu đó, bởi vì đôi mắt cô đang trừng trừng lóe lên ngọn lửa giận dữ trên khuôn mặt tái nhợt, còn lồng ngực tôi thì đập thình thịch, nhưng ngặt nỗi ngay lúc đó bé Robinson Crusoe đang cất tiếng eo éo trong chiếc nôi có mui trùm, còn bố của bé Robin thì đang ngồi bơ vơ ở bậc thềm trước nhà với cánh cửa gỗ sồi đóng sập cài then khóa chặt ngoài tầm với.

Cô nhoài người về phía trước, và tôi thừa biết điều gì sắp xảy ra. “Làm sao em biết đó là… chồng tôi?”

Đôi mắt tôi thẳng thắn đối diện với cô. “Anh ấy đã tới tiệm tạp hóa. Anh ấy đi tìm chị.”

“Và em đã nói cho anh ta biết tôi đang ở đây ư?”

“Không. Em rất muốn nói. Nhưng em đã hứa rồi.”

Cả hai chìm vào im lặng suốt một thoáng. Sự tĩnh mịch bị phá vỡ bởi một tiếng thịch khô khốc, hệt như có chú sóc bay nào vừa rớt từ mái nhà xuống ban công. Một khúc củi trong lò sưởi nổ lách tách văng ra, và tiếng ê a của đứa trẻ trong chiếc nôi có mui được đáp lại bằng tiếng reo hò của đứa bé trên đùi tôi.

Nàng Crusoe ôm lấy đầu gối bằng hai cánh tay trắng ngần như thể đang lạnh run lên, dẫu cho căn phòng đang sưởi ấm rực lửa. “Chị nghĩ lẽ ra em phải nói cho tôi biết chứ. Đó mới là cách ứng xử thân thiện giữa những người bạn với nhau—”

“Billy bảo làm thế là không nên.”

“Billy thì liên quan gì đến chuyện này chứ?”

“Billy gắn liền với mọi thứ trong cuộc đời em. Em đã bàn bạc kỹ lưỡng với anh ấy — và — và Billy thật tuyệt vời biết bao khi được cùng anh ấy sẻ chia mọi chuyện—”

Tôi oà khóc nức nở, những giọt nước mắt tí tách rơi trên mái đầu quý giá của Junior. Và cuối cùng cô cất lời, nét mặt đã dịu lại: “Cái con bé ngốc nghếch này, rốt cuộc em muốn chị phải làm gì đây?”

“Nếu đó là Billy, em sẽ mời anh ấy vào nhà — và cho anh ấy xem — đứa con—”

“Nếu là Billy, em sẽ đặt trái tim mình dưới gót giày cho anh ấy giẫm đạp. Tôi không đời nào làm thế—”

Lại một chú sóc nữa rơi phịch xuống ban công. Mặt trời đang lặn dần, và xuyên qua khe hở tấm rèm nhung tôi có thể nhìn thấy sắc đỏ như máu của hoàng hôn đang buông xuống phía sau những ngọn điệp trùng.

Nàng Crusoe đứng dậy, bồn chồn đi bách bộ quanh phòng. Cơn gió nổi lên làm khung cửa sổ dài kêu lách cách lạch cạch. Một bóng râm nuốt chửng lấy vầng thái dương.

“Chị đoán nếu em là tôi,” cuối cùng cô lên tiếng, “em sẽ bồng con trên tay, đi ra ngoài và nói với kẻ đang ngồi ở bậc thềm kia rằng, ‘Hãy bước vào đây và làm chúa tể điền trang cùng là vị vua ngự trị trên trái tim vợ con đi anh.’”

Tôi ôm ghì Junior vào lòng, giọng run rẩy. “Em sẽ chẳng bao giờ nói những lời kiểu đó với… Billy—”

“Thế em sẽ nói gì nào?”

“Em sẽ nói” — tôi nghẹn ngào, rồi bật khóc ở khúc cuối — “ôi, người tình ơi, người yêu hỡi, đây chính là đứa con trai của anh — và em là người mẹ hạnh phúc của nó đây—”

Cô khựng lại trước mặt tôi, đứng lặng ngắm nhìn, nét giận hờn đã tan biến sạch sành sanh trong đáy mắt. Thế rồi, chưa kịp để cô quay người hay kịp thốt lên lời nào, cánh cửa sổ dài bỗng bị bật tung bởi một thứ sức mạnh lớn lao hơn cả cuồng phong bão táp. Chẳng hề có chú sóc bay nào trên ban công cả, và chiếc bóng râm vừa che khuất mặt trời chính là dáng vóc cao lớn vạm vỡ của người đàn ông đang đứng sừng sững giữa hai tấm rèm nhung! Anh bước một bước dài băng qua căn phòng.

“Em tưởng chốt cài với khóa cửa có thể ngăn cản anh đến với em được sao?” anh hỏi, rồi nắm chặt lấy đôi tay Nàng Crusoe kéo sệt cô về phía mình. Cô chống cự trong giây lát. Để rồi sau đó toàn thân mảnh dẻ trắng ngần ấy bị vùi lấp trong vòng tay khao khát cuồng nhiệt của anh.

Chà, ngay khi gom góp xong xuôi đồ đạc của Junior, tôi liền đi xuống dưới nhà để chờ Billy. Nhưng trước khi rời đi, tôi kịp nhìn thấy cô quỳ sụp xuống bên chiếc nôi có mui trùm, bế bổng cậu bé Robin nhỏ xíu lên, và vẫn giữ nguyên tư thế quỳ gối ấy, cô giơ cao đứa bé về phía người cha, hệt như cách các nữ tu sĩ dâng cao chén thánh Galahad vậy.

Và bạn có đoán được tôi nghe thấy cô nói gì không?

“Ôi, người tình ơi, người yêu hỡi, đây chính là đứa con trai của anh — và em là người mẹ hạnh phúc của nó đây!”

Billy bước vào với gương mặt hồng hào rạng rỡ sau chuyến đi bộ trong tiết trời buốt giá, và tôi không sao diễn tả nổi cảm giác tuyệt vời nhường nào khi áp má lạnh buốt của anh vào má mình, cảm nhận đôi môi ấm áp của anh đặt lên môi tôi. Chúng tôi là một bộ ba ngập tràn hạnh phúc trước lò sưởi thư phòng, và chẳng mấy chốc có thêm bộ ba ngập tràn hạnh phúc từ trên lầu nhập tiệc cùng. Họ đối xử với vợ chồng tôi cứ như thể chúng tôi là một cặp thiên thần hộ mệnh vậy. Sau đó chúng tôi cùng nhau thưởng thức bữa tối, với Mandy và William đứng hầu bàn cười rạng rỡ phía sau.

Và đêm hôm đó tôi đã kể hết mọi chuyện cho Billy nghe. “Tuyệt vời quá phải không anh? Họ sẽ sinh sống trên điền trang Davenport cũ, và đó sẽ là tổ ấm thực sự của họ.”

Bây giờ thì ai trong vùng cũng ghé thăm chúng tôi. Bạn thấy đấy, gia thế của Nàng Crusoe danh giá hơn bất kỳ ai khác, chưa kể đến khối tài sản kếch xù của chồng cô. Và tôi được thơm lây nhờ ánh hào quang phản chiếu từ cô, bởi vì tình bạn giữa chúng tôi, như cô vẫn hay nói, được xây dựng trên một nền móng vững như bàn thạch. Nhưng Billy thì bảo nó được xây dựng trên một xác tàu đắm. Mặc dù vậy, dẫu anh hay nói đùa cợt, tôi thừa biết anh vô cùng hãnh diện về tình bạn với người cha của bé Robin. Và khi mùa xuân tới, chúng tôi sẽ dọn đi — mang theo cụ mèo Tid, bé Junior diễm phúc cùng toàn bộ gia sản gia đình chuyển đến một ngôi nhà tranh xinh xắn có khu vườn bao quanh bốn bề và nằm thụt sâu vào trong cách biệt khỏi con đường lớn. Bạn thấy đấy, chúng tôi cảm thấy mình hoàn toàn có đủ khả năng tài chính cho việc đó, bởi chúng tôi nắm giữ độc quyền cung cấp mọi nhu yếu phẩm cho điền trang nhà Davenant, và nhờ thế vững vàng đứng vững trên đôi chân của chính mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.