Công chúa xứ Mars

Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TỪ NIỀM VUI ĐẾN CÁI CHẾT

❊ ❊ ❊

Trong suốt mười ngày, lũ hò reo xứ Thark cùng các đồng minh hoang dã của chúng đã được khoản đãi và vui chơi tiệc tùng; rồi sau đó, chất đầy những món quà đắt giá và được hộ tống bởi mười ngàn binh lính Helium do Mors Kajak chỉ huy, họ bắt đầu hành trình trở về vùng đất của mình. Vị jed xứ Helium tiểu quốc cùng một phái đoàn nhỏ gồm các quý tộc đã đồng hành cùng họ suốt quãng đường đến Thark nhằm thắt chặt hơn nữa mối dây hòa bình và hữu nghị mới.

Sola cũng đi cùng Tars Tarkas, cha cô—người trước toàn thể các tù trưởng đã công nhận cô là con gái mình.

Ba tuần sau, Mors Kajak và các sĩ quan của ông, cùng với Tars Tarkas và Sola, trở về trên một chiến hạm từng được phái đến Thark để đón họ kịp dự buổi lễ se duyên cho Dejah Thoris và John Carter thành một đôi.

Suốt chín năm, tôi phục vụ trong các hội đồng và chiến đấu trong các quân đoàn của Helium với tư cách là một vương tử thuộc dòng dõi Tardos Mors. Người dân dường như chẳng bao giờ biết mệt mỏi trong việc ban ơn huệ cho tôi, và chẳng có ngày nào trôi qua mà không mang lại một minh chứng mới về tình yêu của họ dành cho vị công chúa của tôi, nàng Dejah Thoris không ai bì kịp.

Trong một chiếc lồng ấp bằng vàng trên mái cung điện của chúng tôi nằm một quả trứng trắng muốt. Gần suốt năm năm trời, mười binh lính thuộc Cận vệ của jeddak đã túc trực canh giữ nó, và không ngày nào tôi ở trong thành phố mà Dejah Thoris cùng tôi không đứng tay trong tay trước đền thờ nhỏ của mình để hoạch định cho tương lai, khi chiếc vỏ mỏng manh ấy nứt vỡ.

Hình ảnh của đêm cuối cùng khi chúng tôi ngồi đó, thì thầm với nhau về mối tình kỳ lạ đã đan cài cuộc đời chúng tôi lại với nhau và về điều kỳ diệu sắp sửa đến để làm gia tăng hạnh phúc lẫn hiện thực hóa những hy vọng của chúng tôi, vẫn còn hằn sâu trong ký ức tôi.

Ở đằng xa, chúng tôi thấy ánh sáng trắng rực rỡ của một phi thuyền đang đến gần, nhưng chúng tôi không hề gán cho một cảnh tượng quá đỗi bình thường ấy bất kỳ ý nghĩa đặc biệt nào. Nó lao về phía Helium tựa như một tia chớp, cho đến tận tốc độ của nó đã nói lên sự bất thường.

Phát những tín hiệu tuyên bố nó là một con tàu mang thông điệp cho jeddak, nó lượn vòng trong sự sốt ruột khi chờ đợi chiếc thuyền tuần tra chậm chạp phải hộ tống nó đến các bến đỗ của cung điện.

Mười phút sau khi nó cập bến cung điện, một bức thông điệp đã triệu tập tôi đến phòng họp hội đồng, nơi mà tôi thấy đang dần chật kín các thành viên của cơ quan đó.

Trên bục cao của ngai vàng là Tardos Mors, đang đi đi lại lại với khuôn mặt căng thẳng. Khi tất cả đã ngồi vào chỗ, ông quay về phía chúng tôi.

"Sáng nay," ông nói, "tin tức đã bay đến các chính quyền của Barsoom rằng người quản giữ nhà máy tạo khí quyển đã không gửi báo cáo không dây trong suốt hai ngày, và những cuộc gọi gần như không dứt từ hàng chục thủ phủ gửi đến ông ta cũng chẳng hề nhận được một lời hồi đáp."

“Các đại sứ của các quốc gia khác đã yêu cầu chúng ta nhúng tay vào việc này và thúc giục người phụ tá quản lý đến nhà máy. Cả ngày nay, một ngàn tuần dương hạm đã lùng sục tìm kiếm ông ta cho đến tận lúc này, một trong số chúng đã trở thi thể của ông ta về; nó được tìm thấy dưới các hầm ngầm bên dưới ngôi nhà của ông ta, bị sát hại một cách dã man bởi một thích khách nào đó.”

“Ta không cần phải nói cho các vị biết điều này có ý nghĩa gì đối với Barsoom. Sẽ mất hàng tháng trời để đột nhập vào những bức tường hùng vĩ đó—thực ra công việc đã được khởi cõng—và sẽ có rất ít điều phải sợ nếu cỗ máy của trạm bơm hoạt động như lẽ ra nó phải thế và như tất cả chúng vẫn làm trong hàng trăm năm qua; nhưng điều tồi tệ nhất, chúng ta e rằng, đã xảy ra. Các dụng cụ cho thấy áp suất không khí đang giảm nhanh chóng trên khắp mọi miền của Barsoom—cỗ máy đã ngừng hoạt động.”

“Thưa các ngài,” ông kết luận, “chúng ta còn nhiều nhất là ba ngày để sống.”

Bao trùm là sự im lặng tuyệt đối trong vài phút, rồi một nhà quý tộc trẻ tuổi đứng dậy, giơ cao thanh gươm tuốt trần trên đầu và hướng về phía Tardos Mors.

“Những người con của Helium đã luôn tự hào rằng họ từng cho Barsoom thấy một quốc gia của người da đỏ nên sống như thế nào; giờ đây chính là cơ hội để chúng ta cho họ thấy họ nên chết ra sao. Hãy cứ tiến hành các nhiệm vụ của mình như thể một ngàn năm hữu ích vẫn còn đang trải dài trước mắt chúng ta.”

Căn phòng vang lên tiếng vỗ tay, và vì chẳng còn việc gì tốt hơn để làm ngoài việc xoa dịu nỗi sợ hãi của người dân bằng chính tấm gương của mình, chúng tôi trở về với những nụ cười trên môi và nỗi đau đang gặm nhấm cõi lòng.

Khi tôi trở về cung điện, tôi phát hiện ra rằng lời đồn đã đến tai Dejah Thoris, thế nên tôi đã kể cho nàng nghe tất cả những gì mình vừa nghe được.

“Chúng ta đã rất hạnh phúc, John Carter,” nàng nói, “và em cảm ơn bất kỳ định mệnh nào giáng xuống chúng ta, vì nó cho phép chúng ta được chết cùng nhau.”

Hai ngày tiếp theo không mang lại sự thay đổi đáng chú ý nào trong nguồn cung cấp không khí, nhưng vào buổi sáng của ngày thứ ba, việc thở trở nên khó khăn ở những vùng cao trên mái nhà. Các đại lộ và quảng trường của Helium chật cứng người. Mọi hoạt động kinh doanh đều đình trệ. Phần lớn người dân dũng cảm đối diện với số phận không thể thay đổi của mình. Tuy nhiên, rải rác đây đó, một số nam nữ vẫn gục ngã trong nỗi đau buồn lặng lẽ.

Vào khoảng giữa ngày, nhiều người yếu đuối bắt đầu gục ngã, và chỉ trong vòng một giờ, người dân Barsoom đã chìm dần từng hàng ngàn người vào trạng thái bất tỉnh vốn đi trước cái chết do ngạt thở.

Dejah Thoris và tôi cùng các thành viên khác trong hoàng tộc đã tập trung tại một khu vườn trũng nằm trong khoảng sân bên trong cung điện. Chúng tôi trò chuyện bằng những âm thanh thì thầm, khi nào có dịp trò chuyện, bởi nỗi kinh hoàng trước bóng tối lạnh lẽo của cái chết đang len lỏi bao trùm lấy chúng tôi. Ngay cả Woola cũng dường như cảm nhận được sức nặng của thảm họa sắp chập tới, bởi nó áp sát vào Dejah Thoris và tôi, rên rỉ đầy thảm thương.

Chiếc lồng ấp nhỏ đã được mang xuống từ mái cung điện theo yêu cầu của Dejah Thoris, và nàng ngồi đăm đăm nhìn với đầy vẻ khao khát sinh linh nhỏ bé vô danh mà giờ đây nàng sẽ chẳng bao giờ có dịp thấu hiểu.

Khi việc thở bắt đầu trở nên thấy rõ là khó khăn, Tardos Mors đứng dậy, cất lời:

“Hãy từ biệt nhau đi. Những ngày tháng vĩ đại của Barsoom đã khép lại. Mặt trời ngày mai sẽ soi xuống một thế giới chết chóc—nơi qua suốt muôn đời phải trôi dạt giữa thiên hà mà thậm chí không có lấy nổi những ký ức trú ngụ. Đó là hồi kết.”

Ông cúi xuống hôn những người phụ nữ trong gia đình, và đặt bàn tay mạnh mẽ của mình lên vai những người đàn ông.

Khi tôi đau đớn quay đi khỏi ông, ánh mắt tôi rơi vào Dejah Thoris. Đầu nàng gục xuống ngực, thoạt nhìn trông chẳng khác nào một cỗ thi thể không còn sự sống. Với một tiếng kêu, tôi lao đến bên nàng và ôm bổng nàng vào lòng.

Đôi mắt nàng mở ra và nhìn vào mắt tôi.

“Hôn em đi, John Carter,” nàng thì thầm. “Em yêu anh! Em yêu anh! Thật tàn nhẫn làm sao khi chúng ta buộc phải chia lìa vào lúc vừa mới bắt đầu một cuộc đời ngập tràn tình yêu và hạnh phúc.”

Khi tôi áp đôi môi thân yêu của nàng vào môi mình, cảm giác quen thuộc về sức mạnh và uy quyền bất khả chiến bại lại trỗi dậy trong tôi. Dòng máu chiến binh của Virginia bừng tỉnh trong huyết quản tôi.

“Sẽ không có chuyện đó đâu, thưa công chúa của anh,” tôi thét lên. “Phải có, nhất định phải có một cách nào đó, và John Carter—người đã chiến đấu băng qua một thế giới xa lạ vì tình yêu dành cho em—sẽ tìm ra nó.”

Và cùng với lời nói của tôi, một chuỗi chín âm thanh đã lâu bị lãng quên chợt len lỏi vượt qua ngưỡng cửa tâm thức tôi. Tựa như một tia chớp trong đêm tối, ý nghĩa trọn vẹn của chúng bừng sáng trong tâm trí tôi—chìa khóa mở ba cánh cửa lớn của nhà máy khí quyển!

Đột ngột quay người về phía Tardos Mors trong khi tôi vẫn đang ôm chặt tình yêu đang hấp hối của mình vào ngực, tôi hét lên.

“Một cỗ phi cơ, thưa Jeddak! Nhanh lên! Ra lệnh cho chiếc phi cơ nhanh nhất của ngài đến mái cung điện đi. Tôi vẫn có thể cứu lấy Barsoom.”

Ông không chần chừ thắc mắc, ngay lập tức một vệ binh đã lao đi đến bến đỗ gần nhất; và mặc dù không khí trên mái nhà vô cùng loãng và gần như cạn kiệt, họ vẫn xoay sở hạ thủy được cỗ máy trinh sát không khí một chỗ ngồi nhanh nhất mà kỹ nghệ của Barsoom từng sản xuất.

Hôn Dejah Thoris mười lần và ra lệnh cho Woola—kẻ suýt nữa đã lẽo đẽo theo sau tôi—hãy ở lại canh gác nàng, tôi tung mình với sức mạnh và sự lanh lẹ ngày nào lên bức tường thành cao ngút của cung điện, và chỉ một khoảnh khắc sau, tôi đã lao về phía mục tiêu hy vọng của toàn thể Barsoom.

Tôi buộc phải bay là là sát mặt đất để có đủ không khí thở, nhưng tôi chọn một đường bay thẳng băng băng qua một lòng biển cổ xưa nên chỉ phải bay cao hơn mặt đất vài feet.

Tôi di chuyển với tốc độ khủng khiếp bởi sứ mệnh của tôi là một cuộc đua tranh thời gian với thần chết. Gương mặt của Dejah Thoris cứ hiện hoài trước mắt tôi. Khi tôi quay lại nhìn lần cuối lúc rời khỏi khu vườn cung điện, tôi đã thấy nàng lảo đảo và gục xuống đất bên cạnh chiếc lồng ấp nhỏ. Tôi thừa biết rằng nàng đã chìm vào cơn hôn mê cuối cùng vốn sẽ chấm dứt bằng cái chết nếu nguồn không khí không được bổ sung, thế nên, vứt bỏ mọi sự cẩn trọng qua một bên, tôi ném phăng khỏi tàu mọi thứ ngoại trừ động cơ và la bàn, thậm chí cả những món đồ trang sức của mình; và với tư thế nằm sấp dọc theo mạn tàu, một tay giữ bánh lái trong khi tay kia đẩy cần tốc độ đến mức tối đa, tôi xé toạc bầu không khí mỏng manh của cõi Sao Hỏa đang hấp hối với tốc độ của một vì sao băng.

Một giờ trước khi trời tối, những bức tường vĩ đại của nhà máy khí quyển bỗng sừng sững hiện ra trước mắt tôi, và với một cú va đập đến lợm giọng, tôi lao sầm xuống đất ngay trước cánh cửa nhỏ đang giữ chặt tia lửa sự sống của cư dân trên cả một hành tinh.

Bên cạnh cánh cửa, một đội ngũ đông đảo những người đàn ông đã và đang quần quật khoét thủng bức tường, nhưng họ hầu như chỉ mới làm xước được bề mặt cứng như đá lửa ấy, và giờ đây phần lớn bọn họ đang nằm trong giấc ngủ ngàn thu mà ngay cả không khí cũng chẳng thể đánh thức họ dậy được nữa.

Tình hình ở đây có vẻ tồi tệ hơn nhiều so với ở Helium, và tôi phải rất chật vật mới thở nổi. Vẫn còn vài người đàn ông tỉnh táo, và tôi lên tiếng hỏi một trong số họ.

“Nếu tôi có thể mở những cánh cửa này, có ai khởi động được các cỗ máy không?” tôi hỏi.

“Tôi có thể,” hắn đáp, “nếu ngài mở chúng thật nhanh. Tôi chỉ có thể cầm cự thêm vài khoảnh khắc nữa thôi. Nhưng vô ích thôi, cả hai người họ đều đã chết và chẳng ai khác trên Barsoom nắm giữ bí mật về những ổ khóa khủng khiếp này. Trong ba ngày qua, những kẻ phát cuồng vì sợ hãi đã tụ tập xung quanh cánh cổng này trong những nỗ lực vô vọng nhằm giải mã bí ẩn của nó.”

Tôi không còn thời gian để đôi co, cơ thể tôi đang dần trở nên vô cùng suy yếu và tôi rất khó khăn mới giữ được sự minh mẫn trong tâm trí.

Thế nhưng, bằng một nỗ lực cuối cùng, khi khuỵu gối xuống trong cơn suy kiệt, tôi phóng chín làn sóng suy nghĩ thẳng vào thứ đáng sợ trước mặt. Tên người Sao Hỏa đã bò đến bên cạnh tôi, và với đôi mắt trợn trừng dán chặt vào tấm bảng duy nhất trước mặt, chúng ta chờ đợi trong sự im lặng của cõi chết.

Từ từ, cánh cửa hùng vĩ lùi lại phía sau nhường chỗ cho chúng tôi. Tôi định đứng dậy bước theo nó nhưng bản thân đã quá kiệt sức.

“Hãy đuổi theo nó,” tôi thét lên với người đồng hành, “và nếu anh đến được phòng máy bơm, hãy khởi động toàn bộ các máy bơm đi. Đó là cơ hội duy nhất để Barsoom có thể tồn tại vào ngày mai!”

Từ vị trí đang nằm, tôi mở cánh cửa thứ hai, rồi đến cánh cửa thứ ba; và khi nhìn thấy tia hy vọng của Barsoom đang yếu ớt bò bằng cả tay lẫn đầu gối bước qua ô cửa cuối cùng, tôi ngất lịm xuống mặt đất.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.