Vài ngày sau, Anderson Crow trở về Tinkletown từ New York, nơi ông vừa tiễn Rosalie Bonner và chồng lên đường sang Anh, cùng đi với bà Banks và Elsie, những người cũng đã đặt vé trên chuyến tàu thủy ấy. Ông diện một bộ đồ vải sẹc màu xanh mới tinh, một chiếc mũ phan-na-ma và đôi giày da bóng khiến ông đau cả chân. Hơn thế nữa, ông còn chống một cây gậy mới có phần núm vàng to bản vàắt một chiếc ghim cài áo đính ngọc trai khổng lồ trên cà vạt. Chưa hết, tóc và râu của ông đã được bàn tay người thợ cắt tóc ở khách sạn Holland House tút tát lại một cách hoàn hảo. Sáng nào vợ ông cũng phải dùng bàn là ủi qua chiếc quần của ông để giữ cho đường li luôn sắc nét. Nói chung, diện mạo mới của Anderson không chỉ là một sự ngỡ ngàng đối với gia đình và toàn thể dân làng, mà ngay cả chính bản thân ông cũng thấy thế. Ông gần như sững sờ mỗi khi bắt gặp hình ảnh mình phản chiếu qua các ô cửa kính cửa hàng.
Suốt cả ngày, ông thong thả dạo bước trên phố, từ cửa hàng này sang cửa hàng khác, hoặc hiên ngang tựa lưng vào bất kỳ cột đèn nào tình cờ nằm ở vị trí thuận lợi. Đương nhiên, ông đã trở thành đề tài bàn tán rôm rả của cả thị trấn.
"Chúa thánh thần ơi!" Alf Reesling thốt lên khi bắt gặp ông vào cuối ngày. "Đó có phải là tổng thống không?"
"Đó là Anderson Crow," Blootch Peabody giải thích.
"Ai mới chết à?" Alf gặng hỏi.
"Thì liên quan gì chứ?"
"Ừ thì, anh ta đang mặc quần áo của ai thế?" Alf tiếp lời, hoàn toàn bị choáng ngợp trước hình ảnh trước mắt.
"Cậu tốt nhất là đừng để ông ấy nghe thấy cậu nói thế đấy," Isaac Porter cảnh giác. "Ông ấy sắm mấy thứ đó ở New York đấy. Ông ấy bảo chính cậu chủ trẻ Bonner đã tặng chúng cho ông ấy làm quà cưới. Còn Rosalie thì tặng một cái trâm ngọc để cài vào cravat, và quỷ tha ma bắt thế nào mà giờ lúc nào ông ấy cũng phải đeo cổ cồn. Cái tay luật sư Barnes thì tặng cây gậy. Chà chà! Trông ông ấy cứ như một vị vua ấy nhỉ, phải không?"
Vào khoảnh khắc đó, Anderson tiến lại gần nhóm người đang tụ tập trước cửa hàng của Lamson. Ông bước đi với một vẻ bệ vệ mà thoạt nhìn, người ta thấy nó thể hiện sự đau đớn ở phần thân dưới nhiều hơn là sự uy nghi ở nửa thân trên.
"Các cậu đoán tính đến giờ này họ đi được bao xa rồi, Blootch?" ôngân cần hỏi.
"Khoảng mười dặm xa hơn lúc nãy ông hỏi," Blootch đáp, vừa liếc nhìn đồng hồ.
"Ừ, thế thì chắc chẳng mấy chốc nữa là họ tới Liverpool thôi. Họ đi một con tàu cực kỳ nhanh cơ mà. Người ta bảo đi mất chưa đầy sáu ngày. Để xem nào. Họ nhổ neo từ hôm kia. Chắc giờ này họ đã ra khỏi tầm mắt thấy đất liền rồi ấy chứ."
"Đúng thế, trừ phi họ đang đi qua mấy hòn đảo," Blootch đồng tình.
"Sấm sét đánh chết cậu đi! Cậu đang luyên thuyên cái gì thế hả?" Anderson ra chiều khinh bỉ nói. "Cuba với Puerto Rico người ta vượt qua từ đời thủa nào rồi. Mấy hòn đảo đó có xa Boston mấy đâu. Cậu không nhớ hồi chiến tranh với Tây Ban Nha dân chúng Boston sợ hú vía à? Sợ đạn pháo Tây Ban Nha bắn hơi quá tầm rồi làm nát bét thị trấn ấy phỏng? Đảo với chả điếc gì! Họ đã ra đến vùng biển sâu từ lâu rồi mấy chú ạ. Ôi dào, tôi cứ lo lắng cho con bé Rosalie thế nào ấy. Lỡ cái con thuyền khỉ gió đó mà đâm phải đá ngầm hay bị lật hay gì gì đó thì sao! Chúng có bao giờ bơi nổi vào bờ đâu."
Ồ, chẳng có nguy hiểm gì đâu, Anderson ạ," ông Lamson nói. "Những con tàu đó hoàn toàn an toàn mà. Tôi đoán là khi cập bến họ sẽ đánh điện tín cho ông."
"Không, họ sẽ đánh điện tín cáp quang cơ, Wick bảo thế đấy. Mẹ kiếp, tôi mừng vì mọi chuyện đã được giải quyết ổn thỏa. Các cậu không biết từng ấy năm trời tôi đã khổ sở thế nào để tìm xem bố mẹ nó là ai đâu. Tất nhiên là lúc nào tôi cũng biết họ là người ngoại quốc rồi, nhưng con bé Rosalie lại chẳng hề có giọng địa phương chút nào, thế nên các cậu mới hiểu vì sao tôi bị đánh lạc hướng. Nó nói tiếng Mỹ sõi chẳng kém gì chúng ta cả. Tôi mừng quýnh lên khi cuối cùng cũng tóm được cái cô Banks." Đám đông chẳng ở vị thế nào để tranh cãi với ông về điểm này. "Cái cô Banks đó là một cô gái tuyệt vời đấy, các cậu ạ. Cô ấy đã cư xử rất đúng mực. Và con bé Rosalie của tôi cũng vậy—ý tôi là phu nhân Rosalie. Nó bắt con bé Elsie phải giữ lại một phần số tiền. Tuần tới luật sư Barnes sẽ sang Anh để giúp giải quyết ổn thỏa mọi chuyện cho phu nhân Rosalie. Ông ấy bảo cô ấy có gần một triệu đô la đang bị phong tỏa ở đâu đó bên ấy. Dù sao thì mọi chuyện cũng xuôi chèo mát mái rồi, vì bà Banks nói thế mà. Các cậu có nghe thấy con bé Rosalie nói gì khi biết chắc chắn mình là một quý bà người Anh không?"
"Không; nó nói gì thế?"
"Nó chỉ hếch cái cái mũi chết tiệt của nó lên rồi bảo rằng: 'Tôi là người Mỹ cho đến hết đời.'"
"Muôn năm!" Alf Reesling hô lớn, tung chiếc mũ mới của Isaac Porter lên không trung. Đám đông hò reo hưởng ứng.
"Tôi đã từng kể cho các cậu nghe cách tôi biết chắc từ đầu rằng chính một người đàn ông đã bỏ rơi con bé Rosalie ở hiên nhà chưa?" Anderson hỏi.
"Ơ, thế hoá ra lúc nào ông chẳng bảo là phụ nữ," Alf nói. "Chính ông đã từng buộc tội tôi là kẻ đó cơ mà."
"Nhảm nhí! Phụ nữ với chả phông bầy gì! Tôi biết chắc đó là một đàn ông. Đây là điều mà các cậu không biết đâu, Alf nhé. Tôi đã đo đạc những dấu chân trên bậc thềm nhà ngay sau khi cô ta—ý tôi là hắn ta—đặt chiếc giỏ xuống. Mũi bàn chân hướng ra ngoài, rõ như ban ngày, in hằn ngay trên lớp tuyết ấy." Ông dừng lại để thông tin ngấm vào bộ não đang bối rối của họ. "Các cậu không biết là một trăm phần trăm phụ nữ đều quay mũi bàn chân vào trong khi đi lên lầu à? Để tránh bị vướng vào váy chứ sao! Trời ạ, lẽ ra các cậu cũng phải nghĩ ra điều đó chứ!"
Ai đó đã nhồi sọ Anderson về đặc điểm thuần túy nữ tính này, và ông đang tận dụng nó triệt để. Nhân tiện, cũng phải nói thêm rằng mọi người đàn ông ở Tinkletown đều tự mình quan sát thực tế để kiểm chứng.
"Có ai nhìn thấy Mục sư MacFarlane không?" Anderson tiếp lời. "Wick Bonner đã đưa cho tôi tờ một trăm đô la để trả công ông ấy làm lễ cưới ở nhà chúng tôi tối hôm đó. Thôi đi cho tôi nhờ, Ed Higgins! Tôi không đi quanh đây để khoe tờ tiền đó cho thiên hạ thấy đâu. Bọn trộm cắp mà đánh hơi được việc tôi đang giữ nó thì chắc chắn chúng sẽ tìm cách thèm thuồng và nẫng mất. Tôi chẳng bận tâm nếu các cậu chưa từng nhìn thấy ngần ấy tiền tụm lại một chỗ đâu. Đó chẳng phải việc của tôi. Này, tối nay các cậu có đến dự cuộc họp thị trấn không đấy?"
Tối hôm đó, tất cả bọn họ đều có mặt tại buổi họp của hội đồng thị trấn. Cuộc họp diễn ra như thường lệ tại Sảnh Odd Fellows, nằm phía trên cửa hàng vải vóc của Peterson, và chỗ đứng còn không có lấy một chỗ khi viên thư ký đọc biên bản của buổi họp trước. Tin đồn đã lan ra rằng sắp có một chuyện bất thường xảy ra. Đó không phải là một lời đồn vô căn cứ, bởi chẳng lâu sau khi phiên họp bắt đầu, Anderson Crow đã đứng dậy để phát biểu trước hội đồng.
"Thưa các ngài," ông cất giọng run lên vì xúc động, "tôi đến trước quý vị như đã thông báo từ trước. Tại đây, tôi xin tuyên bố từ nhiệm chức vụ cảnh sát trưởng Tinkletown, ủy viên phụ trách đường sá và đội trưởng đội cứu hỏa—cùng bất kỳ chức vụ nào khác mà tôi đang nắm giữ nhưng tạm thời quên mất tên. Nay tôi xin đề nghị quý vị bổ nhiệm anh Ed Higgins thay thế vị trí của tôi. Anh ấy đã thèm khát cái công việc này từ lâu rồi, và bảo rằng nó sẽ chẳng làm ảnh hưởng gì đến công việc kinh doanh của anh ấy nhiều hơn trước đây đối với tôi cả. Tôi đã làm việc vất vả suốt ngần ấy năm trời và cảm thấy mình xứng đáng được nghỉ ngơi. Hơn nữa, sự tình giờ đây đã đến mức lũ trộm cắp cùng đám tội phạm khác chẳng thèm bén mảng đến Tinkletown chỉ vì có mặt tôi, và tôi nghĩ thị trấn đang bị kìm hãm đáng kể bởi lý do đó. Việc gì phải lập ra một vị cảnh sát trưởng cùng cái nhà giam nếu chẳng có ma nào thèm bén mảng đến đây để phạm tội cơ chứ? Thời buổi này chúng toàn phải phạm tội ở tận Thành phố New York hay Chicago, đơn giản vì ở trển an toàn hơn ở đây. Lấy ngay vụ án gần đây nhất của tôi mà xem. Chẳng phải nó được dàn dựng ở New York đó sao? Chà, lẽ ra không nên thế mới phải. Ngay cả bọn cướp tàu hỏa cũng chọn New York để lên kế hoạch cơ mà. Tôi cảm thấy lợi ích lớn nhất của thị trấn sẽ được phục vụ nếu tôi từ chức và tạo cơ hội cho bọn tội phạm. Tất cả các ngài đều biết Ed Higgins rồi đấy. Hắn sẽ tóm cổ bọn chúng nếu như còn bất kỳ ai trên đời này làm được việc đó. Tôi đề nghị bổ nhiệm anh ấy."
Kiến nghị đã được thông qua, cũng giống như lời cảm ơn được nhiệt tình hô vang nhằm tri ân Anderson Crow.
"Các ngài đã làm tôi vinh dự quá," viên cựu cảnh sát trưởng phát biểu khi tiếng "đồng ý" dần lắng xuống. "Tôi xin hứa sẽ hỗ trợ Cảnh sát trưởng Higgins bằng mọi cách có thể. Tôi sẽ hướng dẫn anh ấy tường tận phải làm gì trong mọi tình huống. Tuy nhiên, tôi cũng xin tuyên bố là tôi không hề giải nghệ khỏi ngành thám tử đâu nhé. Tôi sắp sửa mở một văn phòng thám tử của riêng mình ngay tại đây. Mọi thể loại vụ án thám tử sẽ được nhận giải quyết với mức giá phải chăng. Tôi đã cho in những tấm danh thiếp này ở nhà máy in tờ Banner vào ngày hôm nay, và ông Squires sẽ nhận đăng quảng cáo cho tôi suốt một năm trên tờ báo đó."
Ông tự hào trao một tấm danh thiếp cho chủ tịch hội đồng và sau đó thông báo với đám đông rằng mỗi người có mặt ở đây đều có thể nhận một tấm bằng cách liên hệ với con trai ông là Roscoe, người đang đợi ở hành lang sau buổi họp. Trên danh thiếp đề:
"Anderson Crow,
Thám tử.
Nhận mọi thể loại vụ án và
Sự hài lòng
Được đảm bảo.
Những điều bí ẩn lúc nửa đêm là
Chuyên môn chính."
Bà Bonner, khi nghe tin về việc từ chức của ông vào ngày hôm sau, ngay lúc bà đang chuẩn bị lên đường đi Boston, đã khô khan nhận xét với vị nghị sĩ rằng:
"Tôi vẫn duy trì quan điểm rằng Anderson Crow là một kẻ hoàn toàn phi lý."
Không còn nghi ngờ gì nữa, toàn bộ thế giới này, ngoại trừ cái làng Tinkletown bé nhỏ, đều đồng tình với quan điểm ấy của bà.