Con Gái Của Anderson Crow

Lượt đọc: 189 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17
Wicker Bonner, Harvard

❊ ❊ ❊

“Này, ở trên đó!” một giọng nam trầm vang lên từ phía bờ sông. Anderson Crow là người đầu tiên nhận ra bóng dáng của kẻ vừa gọi, và ông chẳng mất nhiều thời gian để nhận định rằng gã chẳng có chút nào giống hồn ma cả. Cất tiếng hô dõng dạc, ông chỉnh đốn lại đội ngũ đang hỗn loạn của mình, gom tất cả lại một cục như thể chuẩn bị chống trả một cuộc tấn công.

“Các người bị sao thế hả?” ông lớn tiếng quát đám thuộc hạ. “Đừng có mà hoảng loạn!”

“Anh đang nói chuyện với tôi đấy à?” giọng nói tươi trẻ từ dưới dới vọng lên.

“Cậu là ai?” ngài cảnh sát trưởng lớn tiếng hỏi vặn lại.

“Chẳng ai đặc biệt cả. Trên đó có chuyện gì thế? Làm cái gì mà ồn ào thế hả?”

“Lên đây rồi khắc biết.” Đoạn, nhận thấy gã đàn ông bên dưới đang chuẩn bị leo lên, ngài Crow quay sang dặn dò đội ngũ bằng giọng thấp và đầy nghiêm trọng. “Tên này phải canh chừng cho kỹ. Chắc chắn hắn có dính líu đến vụ này rồi. Bằng không sao hắn lại lang thang ở quanh đây gần cái ngôi nhà này làm gì? Tôi sẽ tra khảo hắn.”

“Có trời mới biết, hắn chẳng phải ma mãnh gì sất!” Ed Higgins lầm bầm, dán mắt quan sát gã mới đến đang lồm cồm bò lên bờ. “Này, hồi nãy anh có thấy tôi không hả? Chứ nếu mấy người mà chịu tiến lên, là tôi đã xông thẳng vào lục soát cái ngôi nhà đó từ trên xuống dưới rồi đấy. Mấy người sợ không dám đến đúng không?”

“Chà, anh thì hay ho quá nhỉ!” Anderson Crow đáp lại bằng vẻ mặt khinh bỉ tột độ.

Ngay sau đó, một thanh niên vạm vỡ đã đứng trước mặt vị cảnh sát trưởng, người đang ném ánh mắt săm soi và đầy uy quyền về phía hắn. Gương mặt khôi ngô với những đường nét rắn rỏi của kẻ mới đến bừng sáng lên một nụ cười cực kỳ thân thiện.

“Dưới này cô quạnh như ma qu ấy nhỉ? Rất vui được gặp các bác, các anh. Có chuyện gì thế—một cuộc đua xe đạp à?”

“Không, thưa cậu; chúng tôi có chút công chuyện ở đây thôi,” Anderson Crow đáp lời mang tính ngoại giao. “Cậu làm gì ở đây thế?”

“Trượt băng. Tên tôi là Wicker Bonner, tôi đang đến thăm ông chú tôi, Nghị sĩ Bonner, ở bờ sông bên kia. Chắc các bác biết ông ấy chứ. Tôi đã lảng vảng ở đây cả tuần nay để săn bắn, mà dạo này chẳng gặp chút may mắn nào cả. Chán chết đi được! À ha, hóa ra bác là một sĩ quan—lại còn là thám tử nữa chứ. Ôi chao, chẳng lẽ các bác đang truy lùng ai đó hay sao? Nếu phải thế, cho tôi tham gia với nhé. Tôi đang thèm cảm giác kích thích muốn chết đây.”

Gương mặt chàng trai tràn ngập vẻ háo hức và giọng nói thì rất chân thật. Hơn nữa, cậu ta là một anh chàng cao lớn, lực lưỡng, tay chân vạm vỡ và tấm lưng rộng lớn. Nói chung, cậu ta sẽ là một tân binh tuyệt vời, Anderson Crow thầm nghĩ. Cậu ta mặc chiếc quần tất cộc bằng vải nhung gân sần sùi, chiếc áo khoác dày cài khuy kín mít đến tận chiếc cổ quấn khăn kín mít. Một chiếc mũ len sụp xuống tận mang tai và một đôi giày trượt băng đangủng lủng lẳng trên tay.

“Vâng, thưa cậu; tôi là thám tử, và chúng tôi lên đây để điều tra chút việc. Tôi thấy cậu là người Chicago phả không.”

“Sao bác lại nghĩ thế?”

“Đừng có hòng lừa tôi. Tôi lúc nào cũng đoán trúng. Cậu vừa nói ‘I've bean hangin'’ thay vì ‘I've ben hangin'.' Thấy chưa? Người ta nói ‘bean’ ở Chicago đấy. Ha! ha! Cậu không ngờ tôi có thể suy luận ra điều đó phải không?”

“Tôi xin thú nhận là tôi không ngờ tới thật,” ngài Bonner đáp với một nụ cười khô khan. “Dù sao thì tôi cũng là người Boston.”

“Chứ sao,” Isaac Porter xen vào; “đó là nơi xuất thân của mấy hạt đậu mà, Anderson.”

“Thôi, chuyện đó chẳng quan trọng,” ngài Crow nói, vội vàng đổi chủ đề. “Chúng ta đang mất thời gian lắm rồi.”

“Ý anh là ở lại đây á?” Ed Higgins hỏi, tỏ ra rất sẵn sàng lên đường. Đám đông vô thức liếc mắt về phía ngôi nhà nằm giữa đám liễu rủ. Người thanh niên lạ mặt thấy ánh mắt đồng loạt hướng về một phía liền cất lời hỏi. Thế là ngài Crow, với sự hỗ trợ của bảy người đàn ông và năm cậu nhóc, đã thuật lại cho anh chàng Wicker Bonner, cựu sinh viên Harvard, nghe về nguyên nhân khiến họ từ Tinkletown kéo đến ngôi nhà ma ám này, cũng như những gì họ đã chứng kiến khi vừa đặt chân tới. Gương mặt trẻ tuổi của Bonner rực lên niềm vui thích vì sự kích thích.

“Tuyệt cú mèo!” cậu ta kêu lên, dán chặt đôi mắt hân hoan vào cái thứ đáng ghét nằm giữa những tán cây. “Chúng ta hãy vào lục soát nơi đó đi. Ôi chao, thật là hào hứng quá đi mất!”

“Cấm có hòng!” Ed Higgins nói. “Anh không thể dụ tôi bước chân vào cái ngôi nhà đó đâu. Có khi khối kẻ bước vào rồi chẳng bao giờ thấy đường sống mà quay ra ấy chứ.”

“Chà, những người giỏi giang hơn chúng ta còn từng bỏ mạng cơ mà,” ngài Bonner thản nhiên đáp. “Đi thôi; tôi sẽ đi đầu tiên. Chuyện cái nơi này bị ma ám chỉ nhảm nhí hết chỗ nói. Dù sao đi nữa, chẳng có con ma nào lại đi quậy phá vào giờ này cả. Trờ cũng đã tối hẳn đâu.”

“Nhưng mà, khỉ thật,” Anderson Crow nổi giận đùng đùng, “chính mắt chúng tôi đã thấy nó cơ mà!”

“Tôi thấy nó đầu tiên cơ,” Isaac Porter tự hào lên tiếng.

“Nhưng cháu nghe thấy tiếng nó trước tiên cơ,” cậu nhóc Bud chen vào.

“Tất cả các người chắc đã nốc toàn rượu táo nặng hay nước ngọt hoặc thứ gì đại loại thế rồi,” gã lực lưỡng cười nhạo báng.

“Này, nghe đây, cậu bắt đầu hỗn xược rồi đấy, và—” viên cảnh sát trưởng bắt đầu ngắt lời, phồng rôm rốp lên như một con bồ câu.

“Cẩn thận đằng sau kìa!” anh chàng Bonner hét lớn, và Anderson giật mình suýt rớt cả giày, lại còn làm rách cả vạt áo sơ mi phía sau vì động tác quay người quá đỗi đột ngột.

“Sông James giật mình!” ông há hốc mồm thở dốc.

“Đừng bao giờ quay lưng lại với một mối nguy hiểm chưa rõ mặt,” chàng trai trẻ điềm tĩnh nhắc nhở. “Hãy luôn sẵn sàng đối mặt với nó.”

“Nếu quay mặt về hướng ngược lại thì lúc muốn chạy trốn anh sẽ chuồn lẹ hơn đấy,” Jim Borum châm chọc, vừa bồi thêm một miếng thuốc lào mới.

“Mấy giờ rồi nhỉ?” Wicker Bonner hỏi.

Anderson Crow nheo mắt nhìn qua những ngọn cây trụi lá lên hướng mặt trời lặn; rồi ông nhìn xuống chiếc bóng của một thân cây non trên bờ sông.

“Khoảng năm giờ bảy phút—buổi chiều,” ông phán quyết một cách chắc nịch. Bonner tỏ ra bất lịch sự khi rút đồng hồ ra để kiểm tra lại.

“Bác chạy nhanh hơn một phút đấy,” cậu nhận xét; nhưng ánh mắt nhìn Anderson lại đong đầy sự thán phục và kính trọng mới mẻ.

“Hắn ta có thể thám thính được mọi thứ trên đời này,” Porter cười trừ một cách yếu ớt trước trò đùa của chính mình.

“Thôi, chúng ta hãy lên lục soát cái túp lều cũ kỹ đó nào,” Bonner thông báo, sải bước tiến về phía hàng liễu. Đám đông chần chừ lùi lại. “Tôi sẽ đi một mình nếu các anh sợ không dám đến,” cậu tiếp lời. “Tôi đinh ninh rằng các anh chẳng thấy cái gì sạt, và cái tiếng động mà mấy cậu nhóc nghe thấy chỉ là tiếng gió thổi vi vu qua kẽ lá mà thôi. Nào, nói thật đi, có bao nhiêu người trong số các anh đã nhìn thấy nó thật sự?”

“Tôi có thấy!” câu trả lời phát ra từ mọi cổ họng một cách đồng lòng đến mức tiếng chửi thề bồi thêm của Jim Borum bỗng trở nên lạc lõng và mạnh mẽ như một đoạn cao trào.

“Vậy thì rất đáng để điều tra đấy chứ,” chàng trai người Boston tuyên bố. “Đó quả thực là một câu chuyện vô cùng kỳ bí, và ít nhất là ngài Cảnh sát trưởng đây, phải hậu thuẫn cho tôi trong nỗ lực làm sáng tỏ nó. Hãy kể lại cho tôi nghe chính xác những gì các anh đã nhìn thấy và trông nó ra sao đi.”

“Tôi không để ai dạy đời tôi phải làm nhiệm vụ gì hết,” Anderson hậm hực khịt mũi, mấy ngôi sao trên ngực run lên vì niềm tự hào bị tổn thương. “Dĩ nhiên là tôi sẽ giải mã bí ẩn này rồi. Chúng ta phải xem bên trong ngôi nhà đó có những gì. Ban đầu tôi cứ tưởng là đám lang thang cơ đấy.”

“Vậy thì dẫn đường đi, tôi theo sau!” Bonner cười toe toét nói.

“Tôi cứ tưởng là cậu hốt hoảng muốn xung phong đi đầu cơ mà!” Anderson thốt lên với sự khôn khéo đầy tinh tế. “Cứ đi trước đi, nếu cậu gan lì thế cơ chứ. Tôi thách cậu đấy.”

Bonner cười lớn đủ để đánh thức mọi con ma ở hạt Bramble rồi sải bước thật nhanh về phía ngôi nhà. Anderson Crow chậm chạp theo sau và đám đông lủi thủi bám gót, ai nấy đều cao độ cảnh giác trước dấu hiệu kháng cự đầu tiên.

“Ước gì tôi tìm được cái đèn lồng chết tiệt đó,” Anderson vừa lầm bầm vừa chăm chú dò dẫm tìm kiếm trong đám cỏ rậm rạp dọc đường đi, nhân cơ hội để Bonner tiến lên tận ngưỡng cửa cổ kính bỏ hoang cách xa ông cả một quãng dài.

“Lên đây nào!” người thủ lĩnh gan dạ gọi giật lại khi thấy tất cả mọi người ngoại trừ viên cảnh sát trưởng đều đã dừng chân. “Các anh không cần đèn lồng đâu. Vẫn còn ban ngày chán mà, anh bạn già ạ. Chúng ta sẽ tìm xem cái thứ mà các anh nhìn thấy ở cửa sổ rốt cuộc là gì.”

“Đó là lần cuối cùng người ta thấy hắn,” Isaac Porter lầm bầm khi tấm lưng rộng lớn của Bonner khuất hẳn qua khung cửa thấp lè tè được gọi là lối đi. Ngôi nhà chẳng còn lấy một chiếc khung cửa hay tấm kính nào, và cánh cửa thì cũng đã mục nát rời khỏi bản lề từ lâu lắm rồi.

“Hắn sẽ chẳng bao giờ bước ra được đâu. Về nhà thôi,” Ed Higgins quả quyết nói thêm.

“Các anh có vào không đấy?” tiếng Bonner vọng ra từ sâu bên trong ngôi nhà. Giọng cậu ta vang lên nghe âm u và mang âm hưởng tiên tri.

“Khỉ thật, không đợi người ta một phút được à?” Anderson Crow đáp lại, vẫn dũng cảm nhưng đầy kiên định tìm kiếm chiếc đèn lồng tối vô cùng cần thiết.

“Trong này ổn lắm. Chẳng có bóng người nào bén mảng đến ngôi nhà này từ nhiều năm nay rồi. Vào đi thôi, tuyệt lắm đấy!”

Cuối cùng Anderson Crow cũng đánh bạo tiến đến cửa ra vào và thò đầu ngó vào trong. Bonner đang đứng gần chiếc lò sưởi đổ nát, thản nhiên châm một điếu thuốc lá.

“Cậu chơi một vố nên thân với tôi đấy nhỉ,” ông càu nhàu. “Tôi cứ tưởng có màn hay ho gì chứ. Chẳng có lấy một bóng người ở đây, và xưa nay vốn dĩ cũng chẳng có ai.”

“Trời ạ, gã này đúng là không thể thấy ma khi chúng không muốn cho thấy!” Anderson Crow nói. “Đó đích thị là ma rồi, chuyện đó rành rành ra đấy. Tôi biết thừa từ đời nào rồi. Chẳng có thứ gì thuộc về con người lại trông như thế, và chẳng có sinh vật sống nào lại rên rỉ như vậy cả.”

Lúc này phần còn lại của nhóm đã kéo đến cửa túp lều. Những kẻ ít nhát gan hơn thì đánh bạo bước hẳn vào trong, trong khi số khác bằng lòng với việc nhòm qua những ô cửa sổ nhỏ.

“Chà, nếu các anh chắc chắn là mình đã nhìn thấy gì đó thật, tốt nhất chúng ta nên lục soát thật kỹ ngôi nhà và khu đất xung quanh,” Bonner nói, rồi lập tức bắt đầu dò la khắp hai căn phòng.

Sàn nhà kêu cót két và nơi đây sực nức mùi gỗ mục. Rêu mốc bám đầy những bức tường trát dở, mạng nhện giăng kín trần nhà, và nấm mốc mục rửa bao phủ lấy lớp rác rưởi ở các góc phòng. Nhìn chung, đây là một cái xó xỉnh vô cùng tồi tệ, nơi mà chẳng có một con ma có tự trọng nào lại thèm chọn làm chốn dung thân. Khi đến lúc phải trèo lên cái gác xép nhỏ, đám bề tôi của Bonner liền nổi loạn. Cậu ta buộc phải đi một mình, mang theo chiếc đèn lồng mà một trong số mấy cậu nhóc đã tìm thấy. Khu vực này của ngôi nhà thậm chí còn ghê tởm hơn cả tầng dưới, và thật bất khả thi nếu muốn miêu tả tình trạng của nó. Cậu chẳng thấy bóng dáng sự sống nào, liền chán nản rút lui trong sự ghê tởm tột cùng. Tiếp theo là chuyến thám hiểm xuống tầng hầm. Một lần nữa cậu chẳng có lấy một ai đi theo, đám người Tinkletown kiên quyết từ chối đặt chân xuống nơi thi thể của bà cụ Rank từng được chôn cất. Bonner cười chế nhạo họ và lội xuống một mình. Nơi đây nồng nặc mùi tuổi tác và đất ẩm mốc, nhưng lại có vẻ sạch sẽ hơn khu vực trên lầu. Tầng hầm nhỏ hơn bất kỳ phòng sinh hoạt nào ở trên và chỉ có thể đi xuống thông qua nhà bếp. Không có lối thoát hiểm nào dẫn thẳng ra bên ngoài ngôi nhà, nhưng có một ô cửa sổ nhỏ nằm ở phía nam. Bonner kiểm tra căn phòng thật kỹ lưỡng rồi quay lại nhập hội với mọi người. Chẳng hiểu vì lý do gì mà đám thuộc hạ đã rút ra ngoài trời thoáng ngay khi cậu rời đi để xuống dưới đó. Chẳng ai rõ đích xác tại sao, thế nhưng khi một người vừa cất bước chuồn ra thì những người khác cũng lật đật bám theo với mức độ hăng hái không kém.

“Cậu có thấy gì không?” viên cảnh sát trưởng hạch hỏi.

“Bà cụ Rank trông ra sao khi còn sống nhỉ?” Bonner hỏi với một vẻ mặt vô cùng kỳ bí. Không một ai đáp lời; thế nhưng những đôi chân lập tức lùi phắt lại, trong khi vẻ mặt của tất cả đều xuất hiện sự hoang mang tột độ. “Đừng có lùi vào cái giếng đang mở nắp đằng kia,” chàng trai trẻ với nụ cười thích thú cất tiếng cảnh báo ngay ngưỡng cửa. Anderson Crow giật mình quay phắt lại, mặt đỏ bừng tức giận khi nhận ra cái giếng cách đó ít nhất cũng phải năm mươi thước. “Tôi vừa nhìn thấy dưới đó có thứ gì trông giống như ngón chân của một người phụ nữ,” Bonner tiếp tục nói với giọng cực kỳ nghiêm túc.

“Lạy Chúa! Tôi đã bảo mà!” viên cảnh sát trưởng hét lên, quay sang nhìn bè bạn. Dù cố gắng hết sức, họ chẳng thể nhớ nổi Anderson từng bảo điều gì, nhưng toàn bộ đám đông vẫn đồng loạt gật đầu tán thưởng.

“Tuy nhiên, tôi đoán đó chỉ là hồn ma của một ngón chân thôi, bởi vì khi tôi định nhặt nó lên thì nó nguây nguẩy trườn đi, và tôi nghĩ hình như nó còn khúc khích cười nữa cơ. Nó biến mất—sao thế? Các anh định đi đâu đấy?”

Chỉ cần biết rằng viên cảnh sát trưởng cùng đám thuộc hạ đã rút lui có trật tự đến một bãi đất trống ở đằng xa—nơi ánh sáng đỡ âm u hơn một chút—để chờ đợi sự xuất hiện của Wicker Bonner, kẻ đang ung dung nhưng không kém phần buồn cười khi kiểm tra bên ngoài ngôi nhà cùng khu vườn liền kề. Chẳng tìm thấy điều gì khác thường ngoại trừ sự hoang tàn mục nát, cậu quay lại nhập bọn với vẻ mặt hiện rõ sự bất mãn.

“Thôi, chắc tôi quay lại với chỗ băng trượt đây,” cậu nói; “cái xó xỉnh ấy yên tĩnh chẳng khác gì nghĩa địa cả. Các anh đúng là một lũ chuyên chọc ghẹo cừ khôi, và tôi xin thú nhận là mình đã bị sập bẫy rồi đấy.”

Dù vậy, Bonner vẫn cảm thấy hoang mang và đầy ngờ vực. Cậu đã lùng sục ngôi nhà vô cùng kỹ lưỡng từ trên xuống dưới và chẳng thấy có gì bất thường, thế nhưng đám đàn ông và lũ trẻ con này lại khẳng định chắc nịch đến mức cậu không thể tin là tất cả bọn họ đều bị hoa mắt.

“Chuyện này làm tôi thấy hứng thú rồi đấy,” cuối cùng cậu cất lời. “Tôi sẽ nói cho anh biết chúng ta sẽ làm gì thế này, ngài Crow. Tối nay anh và tôi sẽ mò xuống đây, dựng tạm một cái lều nào đó rồi chia phiên canh gác đến sáng. Nếu có thứ gì đáng xem, chúng ta sẽ lòi mặt nó ra. Tôi sẽ lấy đôi nệm rơm ở nhà thuyền của chúng tôi mang ra và—”

“Tôi bị thấp khớp rồi ngài Bonner ạ, ngủ ở cái vũng lầy này khác nào rước họa vào thân,” Anderson vội vã phản đối.

“Thế thì tôi sẽ đi một mình vậy. Tôi chẳng sợ gì sất. Ý tôi không phải là sẽ ngủ trong cái túp lều cũ rích đó đâu, nhưng tôi sẽ tá túc ở ngoài rừng này. Chẳng có con người nào thèm ngủ nổi ở cái xó ấy đâu. Có ai xung phong làm bạn với tôi không?”

Im lặng bao trùm.

“Tôi không trách các anh đâu. Thú thật là cũng cần phải có gan lắm chứ bộ. Điều kiện duy nhất của tôi là các anh phải từ làng kéo xuống đây thật sớm vào sáng mai. Rất có thể tôi sẽ có vài điều quan trọng để báo cáo với ngài Crow đấy.”

“Chúng ta sẽ chỉ nhặt xác cậu ta mang về thôi,” cụ ông Borton rên rỉ.

“Này bác sĩ,” một giọng cao vót cất lên, “cháu ở lại với chú.” Đó chính là cậu nhóc Bud, và sau vụ này toàn bộ Tinkletown sẽ vang dội những giai thoại về lòng dũng cảm của cậu bé. Cậu nhóc đã thầm ngưỡng mộ anh chàng vận động viên táo bạo đến từ thị trấn Boston, và giờ thì cậu đã sẵn sàng dấn thân cùng anh trong cuộc phiêu lưu này. Cậu cảm thấy vô cùng sung sướng khi được người hùng vỗ vai cái bốp và gọi cậu là kẻ nam nhi duy nhất trong đám đông.

Vào lúc tám giờ tối hôm đó, Bonner và cậu nhóc Bud—vừa kiên quyết vừa run lẩy bẩy—từ bờ sông bước lên và dựng một cái lều giữa đám cây cối gần ngôi nhà ma ám. Từ chiếc xe trượt tuyết dưới sông, họ kéo theo đồ giường chiếu và lương thực lên. Bud mang theo một khẩu súng săn nòng đơn cũ kỹ, một con dao và cái tẩu mà cậu đang tập tành hút; Bonner chuẩn bị một tấm chăn da ngựa kiểu Navajo, một khẩu súng lục cùng một cây gậy đi đường nặng trịch. Cậu còn mang theo một bình whisky dẹt cỡ lớn và chiếc tẩu thuốc đã cùng cậu tốt nghiệp ở Harvard.

Đến chín giờ, cậu đặt một cậu nhóc đang phát ốm vào chiếc ổ lạnh ngắt—kẻ đang vô cùng ngượng ngùng khi phải thừa nhận rằng thứ tẩu thuốc này quá nặng đô với mình, nhưng lại cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm khi được cuộn tròn ấm áp trong những tấm chăn với cái đầu được giấu kín mít chẳng lộ ra ngoài. Bud đã dành trọn một tiếng đồng hồ để huyên thuyên kể cho Bonner nghe về vụ bắt cóc Rosalie Gray cùng hành động anh dũng của chính cậu trong vụ việc đó. Cậu thú nhận mình từng đánh ngã một tên ác nhân, ngặt nỗi bọn chúng quá đông. Bonner kiên lắng nghe một cách lịch sự rồi—đưa vị anh hùng đi ngủ.

Bonner thiu thiu chợp mắt vào lúc nửa đêm. Chỉ độ một tiếng sau, cậu đột ngột ngồi bật dậy, hoàn toàn tỉnh táo và cảnh giác. Cậu mơ hồ có cảm giác lạnh buốt thấu xương và tóc gáy thì đang dựng ngược cả lên.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.