Ngày đầu năm mới rộn ràng hơn bao giờ hết. Đường phố nhộn nhịp những tốp đàn ông đi từng đôi hoặc từng nhóm đông đúc, xa mã rầm rộ lướt qua. Tất nhiên, không có bóng hồng nào ra đường vào lúc này. Margaret có hai người bạn học cùng đứng tiếp khách với cô, một thiếu nữ miền Nam xinh đẹp có cha là nghị sĩ, hiện vẫn đang ở lại New York để theo học cái mà ngày nay chúng ta gọi là khóa học sau đại học, trau dồi thêm về âm nhạc và ngôn ngữ.
Margaret giờ đây đã thực sự là một thiếu nữ trưởng thành. Joe đã đưa cô tham dự mấy buổi tiệc, và nhà Beekmans cũng vừa tổ chức một buổi tiếp tân vô cùng long trọng.
Cô bé mặc chiếc áo đầm bằng vải cashmere màu xanh lam kết hợp với chiếc tạp dề vải Swiss trắng tinh tế, được điểm xuyết những chiếc nơ nhỏ xinh trông như những chú bướm. Cô Butler thấy cô bé quả là một đứa trẻ đáng yêu. Con bé đứng bên cửa sổ khá lâu, vô cùng thích thú trước cảnh tượng nhộn nhịp trên đường phố, trông lại vô cùng nên thơ. Mái tóc vốn có màu sáng nay đã được uốn xoăn bồng bềnh và buộc bằng dải lụa xanh thay vì dùng lược giắt. Mẹ con bé bảo rằng "thật là vẽ chuyện, chỉ tổ làm cho con bé đâm ra kiêu kỳ như công". Nhưng tôi nghĩ bà cũng lấy làm tự hào về cô con gái ngọt ngào và ngoan ngoãn ấy.
Hôm đó có một niềm vui lớn đối với cô bé. Vào khoảng giữa buổi chiều, có hai vị quý ông đến thăm cha con bé. Một người khá lớn tuổi, có bộ râu trắng đẹp mắt và mái tóc điểm hoa râm, ăn vận rất thời trang. Ông đeo chiếc cổ áo đứng cao có bẻ góc, thắt thứ trang sức gọi là khăn quàng cổ bằng lụa đen thêu hoa văn xanh đậm chìm, mặc một chiếc áo ghi-lê nhung hoa văn cài hai hàng khuy đặc trưng của thời bấy giờ, đính cúc mạ vàng lấp lánh hệt như nạm kim cương. Khoác bên ngoài là chiếc áo choàng dài hình tròn kiểu Tây Ban Nha mà ông đã cởi ra để ở sảnh. Người trẻ tuổi hơn có lẽ chừng mười tám hoặc đôi mươi.
Ben đang túc trực ở cửa liền xướng danh: "Ông Bounett và ông Eugene Bounett."
"Chúng tôi hầu như không dám mong gặp được vị nam chủ nhân nào ở nhà," vị khách lớn tuổi mở lời. "Tính ra chúng ta cũng có họ hàng xa, và con trai tôi đã từng gặp bác sĩ đây——"
Margaret liền cất lời trong khoảng lặng: "Cha cháu có ở nhà ạ. Hanny, xuống nhà gọi cha mau lên."
"Chắc hẳn là cô Underhill đây," chàng thanh trai trẻ lên tiếng. "Dạo này tôi hay gặp anh trai cô lắm. Và cô có biết bạn thân của anh ấy là Phil Hoffman không? Phải gọi là bác sĩ mới đúng nhỉ," cậu ta cười vang nói.
"Ồ, vâng," Margaret hơi đỏ mặt.
Rồi cha cô bước lên lầu. Họ chính là một nhánh của gia tộc Bounett từ New Rochelle, gốc gác xa xưa vốn từ Anh và Pháp sang từ thời kỳ cuộc đàn áp người Huguenot. Cha của ông Bounett đã đến New York làm một chàng thanh niên lập nghiệp từ hơn bảy mươi năm trước. Bản thân ông Bounett thì cưới người vợ đầu là một tiểu thư nhà Vermilye, có thân mẫu vốn là một người nhà Underhill ở White Plains. Bà ấy chính là chị em họ ruột với cha xứ Underhill. Bà đã qua đời hơn hai mươi năm, và những đứa con của họ – năm người vẫn còn sống – đều đã lập gia đình và ổn định cuộc sống khắp nơi, còn ông thì có thêm năm người con nữa với người vợ thứ. Đây chính là người con trai cả.
Họ trò chuyện về gia tộc một lúc lâu, rồi bà Underhill cũng được mời lên. Chàng thanh niên bước ra phòng khách phía sau, nơi chiếc bàn được bày biện rực rỡ theo không khí ngày lễ, và được giới thiệu với những người bạn của Margaret. Họ cùng nhau chơi trò tìm châm ngôn – vốn thường đem lại rất nhiều tiếng cười, ăn kẹo, hạnh nhân và bánh ngọt trong lúc những người lớn tuổi đang say sưa nhận họ hàng. Eugene giải thích rằng người em trai kế của cậu là Louis, tiếp đó là một cô em gái mảnh mai mười lăm tuổi và hai cậu nhóc tì hoàn thiện gia đình thứ hai của ông. Nhưng những anh chị lớn thì đều thân thiết như ruột thịt; quả thật cậu thấy có người chị là bà French là một trong những phụ nữ quyến rũ nhất mà cậu từng biết, chỉ tiếc là chị ấy lại sống ở chốn rừng thiêng nước độc Williamsburg. Francesca thì đã kết hôn với một người nhà Livingston và sống ở Manhattanville. Cậu không thể hiểu nổi sao lại có kẻ chịu sống ở ngoài thành phố – ý cậu là khu dưới Phố số Mười!
"Tiên nữ nhỏ này là em gái cô phải không?" cậu hỏi. "Đáng yêu quá chừng!"
Margaret mỉm cười. Cô thấy cậu Eugene thật biết nịnh khéo. Ngay sau đó những người khác cũng bước ra, ông Bounett thong thả nhâm nhi tách cà phê đen cùng chiếc bánh sandwich nhỏ xinh. Ông nhường phần bánh kẹo lại cho đám thanh trẻ. Và giờ khi đã phá vỡ được sự ngượng ngùng ban đầu, ông hi vọng gia đình Underhill sẽ qua lại thân thiết hơn. Nhà họ Bounett hiện đang sống ở Phố Hammersley, thực chất là đoạn kéo dài của phố Houston. Và có lẽ họ sẽ thích đến thăm người ông nội đã bước sang tuổi chín mươi mà vẫn giữ những nề nếp và phong cách cổ điển kiểu Pháp.
Cô Butler tỏ ra vô cùng hào hứng về những vị khách vừa ghé thăm. "Chà, gia đình các anh chị đậm chất Pháp quá nhỉ," cô nhận xét, "chỉ là biểu hiện ra qua nét mặt thôi."
"Chúng tôi đã hòa huyết với người Anh quá nhiều rồi," cha Underhill cất tiếng cười vang trầm ấm. "Nhưng tôi từng nghe kể rằng cố ngoại của tôi vốn là một tiểu thư đài các vô tích sự khi đặt chân đến xứ này, chưa từng biết tự mặc áo hay chải tóc, và phải có thị nữ hầu hạ cho đến tận cuối đời. Bà chưa bao giờ học nói tiếng Anh, hoặc chỉ bập bõm vài từ, nhưng lại chơi đàn hạc rất cừ và ngâm thơ tiếng Pháp hay đến mức người ta không quản đường xá xa xôi đến để chiêm ngưỡng. Thế nhưng các con gái của bà lại phải học hỏi bao điều khác và đều là những người phụ nữ rất tháo vát. Đến đời bà nội tôi đây, khi đã ở tuổi bảy mươi, vẫn có thể quay thành sợi trên cả guồng quay lớn lẫn guồng quay nhỏ chẳng kém gì bất kỳ thiếu nữ nào."
"Lãng mạn làm sao chứ lại!" cô Butler thốt lên.
"Trên gác mái ở Yonkers có một cái guồng quay sợi lớn, một cái guồng quay nhỏ, và một cái cối xay sợi ngộ nghĩnh lắm," bé Hanny, đang ngồi gọn trong lòng cô Butler, hào hứng kể, "và tụi cháu hay tưởng tượng cái guồng sợi ấy là cối xay để chơi trò xay bột ạ."
"Ta đã trải qua biết bao nhiêu ngày tháng miệt mài quay sợi!" bà Underhill chen vào. "Nhà Hunter trồng không biết bao nhiêu là lanh, và chúng ta tự kéo sợi để dệt khăn trải giường cùng khăn ăn đấy. Một người hàng xóm của chúng tôi có khung cửi và chuyên nhận dệt vải. Vải cotton hồi đó đắt đỏ lắm nên chúng tôi mừng vì vẫn giữ được thói quen dùng vải lanh. À mà này, thế giới đã thay đổi đi nhiều lắm kể từ những ngày trẻ của tôi."
Cuộc trò chuyện bị gián đoạn bởi một lượng lớn khách khứa kéo đến. Những chàng trai thị thành hợp mốt ghé thăm vào lúc xế chiều và tối muộn. Cây đèn chùm mạ vàng trên lò sưởi được thắp sáng, với biết bao nhánh và lăng kính tỏa ra thứ ánh sáng rực rỡ. Bên cạnh đó còn có những chân đèn gắn trên vách tường để thắp sáng các góc phòng, thứ phong cách nay lại được ưa chuộng trở lại khi mọi người nhận ra ánh nến mang lại vẻ dịu dàng và gợi cảm đến nhường nào. Nhà Underhill không lắp ống dẫn ga trong nhà, đó được xem là một trong những thứ xa xỉ. Ngay cả những con đường vùng ven thành phố lúc bấy giờ vẫn được thắp sáng bằng đèn dầu.
Steve bước vào trêu chọc đám con gái và nài nỉ họ cùng ăn quả hạch phỉ may mắn (philopena) với cậu. Cậu có vẻ tìm được rất nhiều quả như vậy. Và cậu bảo lời chúc tốt đẹp nhất mà cậu có thể dành cho họ trong năm 1845 chính là việc họ sẽ sớm tìm được một người chồng tốt, tốt hệt như người mà cậu đang phấn đấu để trở thành, và nếu họ không tin lời cậu thì cứ việc đi hỏi vợ cậu mà xem.
Đến tận tối muộn, hai vị bác sĩ mới ghé qua, và Joe thông báo rằng cậu muốn thưởng thức một bữa tối thuần chất gia đình cùng một tách trà để ngày mai còn đủ sức gánh vác công việc, bởi một nửa thành phố chắc sẽ lăn ra ốm vì nốc đủ loại đồ ngọt từ chiều đến giờ. Sau khi trêu ghọc mấy cô gái một chốc, cậu kéo bác sĩ Hoffman xuống tầng dưới, "tránh xa chốn đông người", như cậu nói, và bà Underhill liền pha cho họ một ấm trà thơm ngon tuyệt hảo. Bà và Martha bận rộn tối mặt với việc rửa bát đĩa cùng pha trà pha chế cà phê. Từ năm ngoái, Joe đã đặc biệt dặn dò không được dọn rượu vang đãi khách nữa.
Cậu bước ra nhà bếp để trò chuyện với mẹ về gia đình Bounett. Bác sĩ Hoffman mân mê chiếc thìa và từ chối uống thêm tách trà nào nữa. Ông Underhill tự hỏi sao anh chàng này mãi không chịu lên lầu tận hưởng khoảng thời gian vui vẻ bên mấy cô gái. Tiếng cười nói rộn rã vẫn vọng xuống tận dưới này.
"Thưa ông Underhill——" anh ta ngập ngừng mở lời.
"Hử—sao thế?" chủ nhà đáp lại, có phần ngạc nhiên trước quãng ngắt giọng đó.
Bác sĩ Hoffman hắng giọng. Chẳng có gì vướng ở cổ họng anh cả, cái chính là nhịp đập dồn dập trong lồng ngực đang làm anh khó thở và khiến khuôn mặt đỏ bừng lên.
"Thưa ông Underhill, cháu có một việc vô cùng hệ trọng muốn thỉnh cầu." Anh đứng dậy và bước lại gần hơn để có thể hạ thấp giọng. "Cháu—cháu vô cùng ngưỡng mộ con gái ông. Cháu sẵn sàng chọn cô ấy giữa muôn vạn người nếu có thể——"
Cha Underhill sững sờ ngước nhìn lên. Ông muốn ngăn chàng trai trẻ thốt ra thêm lời nào nữa, nhưng chưa kịp định thần lại sau cơn bất ngờ, thì anh ta đã nói hết mọi điều cần nói.
"Cháu muốn xin phép được qua lại với cô ấy, để tìm hiểu xem—liệu cô ấy có thể dủ lòng yêu mến và một ngày nào đó chấp nhận cháu làm chồng hay không. Cháu đã thực sự đem lòng yêu cô ấy mất rồi. Joe sẽ kể cho ông nghe mọi điều ông muốn biết về cháu. Tạ ơn Chúa, cháu là người sống có lập trường, và ngoài nghề nghiệp ra cháu cũng đã có sự nghiệp vững vàng bước đầu. Cháu muốn ông thấu hiểu dụng ý của cháu, và trao cho cháu cơ hội để chiếm được trái tim cô ấy——"
“Tôi chưa từng mảy may nghĩ tới chuyện này—” Người cha bối rối, trong khi kẻ si tình lúc này lại tỏ ra vô cùng điềm tĩnh.
"Vâng, cháu hiểu chứ. Tất nhiên, chúng cháu còn trẻ và chẳng việc gì phải vội vàng. Cháu chỉ muốn có được đặc quyền được ghé thăm cô ấy."
"Ừ, ừ," ông đáp lại trong niềm ngạc nhiên đầy lúng túng. "Ý tôi là——"
"Cảm ơn bác," chàng trai vừa nói vừa siết chặt tay ông. "Cháu hi vọng sẽ chiếm được sự tôn trọng và chấp thuận của bác. Cháu và Joe vốn đã như anh em từ lâu. Cháu rất ngưỡng mộ tất cả các thành viên trong gia đình mình."
Bé Hanny bay vụt vào phòng với đôi má ửng hồng và đôi mắt ánh lên vẻ háo hức.
"Joe đâu rồi ạ? Chị Margaret đang tìm anh ấy—chị bảo cháu phải ra hỏi xem hai bác có vui lòng tham gia điệu nhảy quadrille cùng mọi người, và lên lầu ngay sau khi dùng xong trà không ạ."
Joe đang ngồi dạng chân trên một chiếc ghế, bập bênh chiếc ghế lên xuống và trò chuyện với mẹ.
"Ồ, vâng, thưa điện hạ của lòng chúng ta. Phil này, nếu cậu đã dùng xong trà——" Joe cười lớn, ngầm hiểu rằng một cuộc giao dịch quan trọng khác cũng vừa được định đoạt xong xuôi.
Họ đã có một màn trình diễn điệu quadrille tuyệt vời. Sau đó cô Butler cất tiếng hát bài hát đầy mê hoặc—"The Mocking-Bird". Hai vị quý ông cất giọng hòa theo những giai điệu thịnh hành thời bấy giờ, và buổi tiệc cứ thế tàn dần. Cô bé đã lên giường đi ngủ từ trước đó khá lâu, dẫu con bé cứ khăng khăng rằng mình chẳng mệt mỏi chút nào, đôi mắt vẫn lấp lánh như những vì sao.
Ngay ngày hôm sau trời đổ tuyết, thế là các thiếu nữ chẳng thể ra đường dạo chơi ngày nào được nữa. Khắp nơi diễn ra các hoạt động trượt tuyết và vui chơi đủ mọi thể loại. Có hôm bác sĩ Hoffman đến đón Margaret và cô em gái nhỏ đi dạo bằng cỗ xe trượt tuyết xinh xắn. Sau đó anh hay lui tới nhà thờ St. Thomas để đi bộ về nhà cùng cô vào những buổi tối. Cha Underhill cảm thấy có đôi chút day dứt vì đã không báo trước với vợ về âm mưu này, nhưng rồi vào một buổi tối nọ bà cũng bắt đầu hoài nghi.
"Margaret còn quá trẻ để mà tập tành yêu đương," bà tuyên bố với giọng điệu đầy quả quyết.
"Margaret đã mười chín tuổi rồi," chồng bà đáp. "Và em cũng chỉ mới tròn đôi mươi khi chúng ta kết hôn."
"Thế vẫn là quá trẻ."
"Anh thấy chúng ta có đến mức bất hạnh đâu cơ chứ. Theo anh nhớ thì đó là một năm vô cùng hạnh phúc."
"Đừng có ngốc nghếch thế chứ, 'Milyer. Mà anh thì lúc nào cũng mềm lòng trước bọn trẻ. Chẳng có chút lý trí nào khi xét về chúng cả."
Nhưng sâu thẳm trong tim, bà thừa nhận rằng mình chẳng đánh đổi dù chỉ một năm đời sống hôn nhân để lấy bất kỳ thứ gì trên cõi đời này.
"Margaret còn chẳng biết tề gia nội trợ gì ráo trọi," bà tiếp lời.
"Chà, con bé vẫn còn thời gian để học mà. Và biết đâu chừng nó lại chẳng mặn mà gì với cậu thanh niên ấy thì sao."
"Nó thích người ta lắm rồi đấy. 'Milyer, anh mù dơi rồi à."
"Thì, nếu chúng đã có tình ý với nhau—đó là quy luật muôn đời của nhân thế. Chuyện này diễn ra từ thời Adam rồi em ạ."
"Thật là nực cười khi để Margaret cứ chưng diện lồng lộn lên để chờ trai đến tán tỉnh."
"Anh đoán em đành phải để mặc sự việc xuôi theo dòng thôi. Cậu Hoffman vốn gia thế tốt lại là một thanh niên ngoan ngoãn."
Vâng, cuối cùng bà đành phải xuôi theo dòng chảy ấy. Bà đâm ra khắt khe với Margaret một cách không cần thiết và vờ như không thấy; thời gian đầu bà cư xử với chàng thanh niên vô cùng câu nệ phép tắc. Bà chẳng đời nào dung túng cảnh anh ta đến chơi nhà vào những tối Chủ Nhật, một thói quen vẫn còn vương vấn lại. Nhưng thím Dolly lại rất tốt bụng với đôi uyên ương trẻ, và họ có quá nhiều bạn bè chung quanh. Hơn thế nữa, Margaret lại khá rụt rè, cô gần như chẳng biết phải đối phó ra sao trước những sự quan tâm vừa cung kính vừa ngọt ngào ấy. Cô chẳng thể đem những chuyện này thổ lộ với bất kỳ một ai trên đời.
Vợ chồng ông Underhill đã đến thăm những người họ hàng mới ở Phố Hammersley. Và vào Ngày sinh nhật Washington, ông đã đưa cô bé cùng Ben ghé thăm nơi đó.
Con phố vẫn được xem là khu vực thượng lưu của thị trấn. Dãy nhà trông vô cùng uy nghi với bậc thềm cao, nhà cao ba tầng rưỡi, có những khung cửa sổ nhỏ nằm ngay dưới mái nhà. Lan can bậc thềm được chạm trổ rất cầu kỳ, các chi tiết bao quanh cửa chính cùng ô cửa sổ bán nguyệt phía trên đều mang phong cách trang trí cổ điển. Họ được một cậu thiếu niên da màu dẫn vào phòng khách.
Đó là một căn phòng vô cùng lộng lẫy, cô bé nghĩ thầm, với trần nhà cao được chạm trổ hoa văn tinh xảo cùng đường gờ phào trang trí đắp nổi những chùm hoa lá bề thế. Các bức tường bên có màu xám nhạt, nhưng hầu như bị che lấp bởi những bức tranh. Rèm cửa có màu xanh lam trầm và thứ sắc màu mà chúng ta hay gọi là vàng cổ điển, rủ quét sát mặt sàn. Có một chiếc gương lớn trải dài từ sàn đến tận trần với khung chạm trổ vô cùng cầu kỳ, phần đỉnh tạo thành một tấm diềm rèm vắt ngang qua cửa sổ. Ở đầu bên kia căn phòng cũng có kiểu diềm rèm và rèm cửa tương tự nhưng không gắn kính. Thảm trải sàn có họa tiết huy hiệu lớn ở chính giữa cùng đủ loại hoa văn Ả Rập, họa tiết cuộn xoắn và hoa lá xung quanh. Đồ đạc trong phòng khá lạ mắt với ghế bành dài, ghế đẩu, ghế nệm không tựa và những chiếc bàn có hình thù kỳ lạ, để rồi sau này cô bé mới biết được rằng có hai hoặc ba món đồ từng thuộc về cung điện hoàng gia Versailles.
Một người phụ nữ với mái tóc và đôi mắt đen láy vô cùng dịu dàng bước ra từ sau lớp rèm.
"Tôi là bà French," cô cất giọng mềm mại, "và tôi rất vui được đón tiếp hai cháu. Đây có phải là cô bé mà chúng tôi vẫn hằng nghe kể nhiều đến thế không? Xin mời ngồi. Cha hiện đang vắng nhà, và ngài sẽ tiếc lắm khi bỏ lỡ dịp gặp các cháu đấy."
Cô ngồi thụp xuống một chiếc ghế đẩu và kéo cô bé lại gần mình.
"Để cô cởi mũ và áo khoác giúp cháu nhé. Có mấy đứa trẻ đang rất mong được gặp cháu đấy. Mẹ sẽ lên đây ngay thôi. Cháu có biết rằng cô đã suy nghĩ rất nghiêm túc về việc đến thăm gia đình cháu không? Cha và Eugene nhắc đến các cháu hoài."
"Còn ông ngoại của cháu thì sao ạ——"
"Hôm nay cụ rất khỏe. Cô vừa ở trong phòng đọc sách cho cụ nghe xong. Cụ sẽ rất vui khi biết các cháu đến thăm đấy."
Bà Bounett bước vào cùng con gái, một thiếu nữ mười lăm tuổi có dáng người khá cao gầy, da ngăm đen, với mái tóc đen dày buộc túm phía sau mà không hề bện lại. Trông con bé có vẻ lớn vượt cả trang phục đang mặc.
Đó chính là tiểu thư Luella. Chỉ một lát sau, con bé tiến lại chỗ Ben và hỏi cậu học trường nào, có nuôi con vật cưng nào không. Nhà chúng có một con sóc, vài con chuột lang và một con vẹt có thể nói nhại lại mọi thứ. Cậu có muốn ra xem chúng không?
Hanny cũng nhìn với vẻ mặt đầy háo hức.
"Em dẫn con bé đi nhé?" Lu hỏi vọng lên.
"Mấy đứa con trai đang ở dưới tầng đấy. Đừng có đùa nghịch thô bạo quá đấy."
Bên trong hơi mờ tối. Lu chộp lấy Hanny bế thốc lên tay rồi vút chạy xuống phòng ăn. Mấy đứa con trai mười ba và mười một tuổi đang chơi cờ đam trên chiếc bàn ăn lớn cỡ đại. Mọi thứ đối với Hanny đều to lớn đến ngợp thở. Những chiếc kệ của tủ đựng chén đĩa chật ních đồ thủy tinh, đồ bạc và những món đồ sứ màu xanh cổ kính kỳ lạ; mấy chiếc ghế có phần tựa lưng cao ngất ngưởng và được bọc da.
"Tụi mình đi xem chuột lang nhé," Lu bảo. "Nhưng tớ sẽ dẫn em ấy đi xem vẹt trước đã."
Có một người phụ nữ da màu mập mạp trong bếp gợi cho con bé nhớ đến dì Mary. Họ đi xuyên qua một căn phòng nhỏ nằm dưới mái hiên phía sau nhà, được dựng ở phần cuối của khoảng sân ngầm.
Có hai con vẹt và một con vẹt đuôi dài màu trắng đẹp tuyệt trần. Con Polly đang hờn dỗi. "Lo việc của mày đi!" đó là tất cả những gì nó thốt lên. Con Dan thì chẳng mấy chốc đã trở nên cởi mở, tuyên bố rằng "Nó rất vui được gặp mọi người và muốn được ăn nho."
"Câm mồm đi!" Polly hét lên.
"Tao thích nói bao nhiêu thì nói."
"Không đời nào nhé. Tao sang bóp cổ mày bây giờ."
"Giỏi thì bước ra đây!"
Rồi chúng ré lên chửi bới lẫn nhau với sự hung hăng hệt như hai con mèo đang chiến đấu. Polly lồng lộn quanh lồng như thể chực nhảy bổ ra ngoài đến nơi. Hanny nép sát vào người Lu, mặt cắt không còn giọt máu vì sợ hãi.
"Chúng không ra được đâu. Lúc điên lên thì chúng cấu xé nhau banh xác, còn bình thường thì ngọt ngào như mật. Bố tính bán bớt một con đi, nhưng tụi tớ chưa quyết định được con nào phải đi. Con Polly này lúc nổi hứng thì nói nhiều lắm. Tớ chẳng hiểu sao hôm nay nó lại nổi khùng lên thế. Polly ơi, con Polly xinh đẹp của tao, hát tặng tao một bài đi, lát nữa ra ngoài tớ mua kẹo bỏ nhiều lạc cho cậu—nhiều—lạc lắm đấy," con bé kéo dài giọng.
"Polly hát ư! Ồ, hò! hò! Polly hát dở tệ như quạ kêu ấy mà," con Dan rít lên chọc tức.
"Hát được nhé, hát được nhé!"
"Polly xinh đẹp! Polly muốn ăn bánh quy. Polly hát cho Dan yêu quý nghe nào. Ôi, u sầu quá!"
Polly hét lên một tiếng giận dữ điên cuồng.
Cậu thiếu niên da màu bước vào. "Cô Lu ơi, mấy con chim làm phiền đến cụ rồi. Để em bắt con Polly đi nhé. Con chim hư đốn này, mày chuẩn bị vào ngục tối rồi đấy."
Nói đoạn cậu ta xách thốc lồng Polly đi mất. Dan cười ngặt nghẽo đầy khoái chí. Mấy đứa con trai kéo đến, và Dan liền biểu diễn những ngón nghề tủ của mình trước sự thích thú tột độ của chúng.
"Nhưng con Polly vẫn là đứa buồn cười nhất," Lu tuyên bố. "Chỉ là tính nết nó xấu hổ khủng khiếp và ngày càng quái gở. Nhà tớ từng nuôi một con khỉ và nó quậy phá tới mức không chịu nổi. Thôi, giờ tụi mình đi xem chuột lang đi."
Chúng kéo nhau lên tận tầng trên cùng. "Tụi tớ từng nuôi chúng dưới tầng hầm," một trong mấy cậu con trai giải thích, "nhưng mấy con đã chết. Anh Gene bảo dưới đó tối và ẩm ướt quá."
Mấy đứa trẻ lỉnh kỉnh dắt nhau lên lầu. Có một chiếc chuồng quây trong một căn phòng nhỏ trông giống như cái kho chứa đủ loại đồ chơi hỏng hóc. Chao ôi, mấy sinh vật nhỏ xíu mới đáng yêu làm sao; chúng có bộ lông mềm mại đốm đen vàng, đôi mắt sáng long lanh, phát ra tiếng kêu rít nho nhỏ và rất thuần tính đến mức có thể bắt tay được. Lu chìa một con ra cho Hanny, nhưng con bé rụt tay lại vì nửa phần e sợ. Sau đó họ mang ra một con sóc, đó là một chú nhóc rất đẹp trai với đôi mắt hạt cườm và chiếc đuôi xù bông, khi thả ra nó liền trèo tót lên vai bất kỳ ai.
"Ước gì trời ấm áp một chút, chúng ta có thể ra ngoài đánh đu rồi. Ồ, các cậu có muốn đi xe ngựa không? Ngựa của tụi tớ đây này. Tụi tớ giờ chẳng mấy khi chơi nữa, dù vào mùa hè thì hay kéo ra sân."
Hanny á khẩu vì kinh ngạc. Con bé chưa từng thấy cỗ xe nào lớn nhường này ở các cửa hàng. Nó được bọc bằng lông thật, có phần bờm và đuôi tuyệt đẹp cùng đôi mắt long lanh. Bộ dây cương màu đỏ nạm bạc trông vô cùng lộng lẫy.
"Nó tráng lệ quá!" Ben thốt lên. "Hanny, thử trèo lên xem nào. Đừng có nhát gan thế chứ!" cậu giục khi thấy con bé ngần ngại lùi lại.
"Nhìn tớ này!" Lu phóng phắt lên lưng ngựa và phi nước đại đầy hứng khởi. Chú ngựa chuyển động bằng các lò xo và trông sống động như thật. Sau đó Hanny cũng bạo dạn thử leo lên và cảm thấy phấn khích vô cùng. Ôi, giá mà mình cũng sở hữu được một con nhỉ!
Con bé rụt rè hỏi: "Chắc nó đắt lắm phải không ạ?"
Jeffrey cười vang. "Anh Gene nhặt được nó trong một buổi đấu giá thanh lý tài sản, mua được rẻ như cho ấy mà," cậu nói. "Nhưng tụi tớ lớn vượt tầm rồi. Tớ chỉ thích một con ngựa pony thật cơ. Ước gì bố chịu nuôi ngựa."
"Nhà cháu có tận hai con cơ," cô bé nói.
"Thôi đi nào! Cậu đang đùa tớ đấy à."
"Không đâu," Ben điềm tĩnh đáp. "Tụi cháu đưa chúng từ trang trại xuống đây. Cha và Steve cần dùng đến chúng."
Jeffrey ngạc nhiên thốt lên: "Cả trang trại các cậu cũng sở hữu luôn sao? Chà, thế thì các cậu giàu sụ rồi còn gì!"
"Không, nhà cháu đâu có giàu đến thế," Ben đáp với giọng nghiêm túc. "Ngôi nhà của tụi cháu ở Phố First chẳng to đẹp được bằng nửa chỗ này đâu. Nhưng nhà cháu có một cơ ngơi rộng lớn ở vùng quê thật. Giờ bác cháu đang ở đó, và tụi cháu có cả trăm mẫu đất liền."
Cậu nhóc thốt lên: "Chúa ơi!"
"Mấy đứa ơi! Các cháu ơi, làm ơn đưa khách xuống gặp cụ đi nào."
"Ơ, tớ sợ các cậu phải về mất thôi," Lu tiếc nuối nói. "Các cậu đáng yêu quá chừng! Tớ chỉ ước gì mình có một đứa em gái nhỏ. Tớ mong các cậu ở lại đây chơi hẳn một tuần luôn. Nhưng chắc các cậu sẽ thấy bỡ ngỡ như mèo lạc lên gác mái mất thôi. Dù sao thì tớ cũng sẽ đối xử thật tốt với các cậu mà."
Con bé chộp lấy Hanny bế thốc lên rồi ba chân bốn cẳng chạy thẳng xuống lầu.
"Em đúng là bé hạt tiêu! Trông thế này mà chưa tròn chín tuổi á! Trông em hệt như một con búp bê vậy!"
"Ôi, xin cho cháu tự đi ạ," Hanny khẩn khoản nài nỉ.
Mẹ chúng đang đứng ở sảnh tầng dưới.
"Mấy đứa xuống nhà dưới hoặc vào phòng khách chơi đi. Đám trẻ con nhốn nháo làm ông mệt tai lắm đấy. Lu này, con trông cứ như con nhóc lông bông ấy. Đi chải lại mái tóc ngay cho mẹ."
Nằm giữa phòng khách và căn phòng phía sau là một không gian được thiết kế thành phòng đọc sách ở một bên và một vài gian tủ ở bên kia. Những cánh cửa lùa ngăn cách khu vực này với căn phòng phía sau. Căn phòng này rất rộng, kê một chiếc giường bốn trụ hoành tráng buông rèm lụa vàng xung quanh, một chiếc ghế sô-pha nhung, và kê sát khung cửa sổ là vài chiếc ghế bành cùng một chiếc bàn. Và từ một chiếc ghế đứng lên một cụ ông nhỏ thó kỳ lạ, trông có vẻ đã còm cõi đi nhiều nhưng toát lên phong thái của một bậc quý tộc từ đầu đến chân. Mái tóc cụ dài và uốn xoăn ở phần đuôi, trông mềm mịn như tơ lụa. Đôi mắt cụ đen láy và sáng ngời, khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn và chòm râu thưa thớt. Hanny lại liên tưởng đến cụ già ở công viên Bowling Green từng bị giam trong ngục Bastille. Chiếc áo khoác nhung đuôi tôm được cắt cúp táo bạo, viền lót bằng sa tanh màu mận chín, chiếc áo ghi-lê dài may bằng vải gấm thêu hoa, quần chẽn dài đến đầu gối được cài bằng những chiếc khuy bạc, còn giày lười thì đính những chiếc khuy thậm chí còn to hơn thế. Quả thực trên đó có nạm cả kim cương. Phần diếp ngực áo sơ mi được xếp li vô cùng tinh xảo, và chiếc trâm cài kim cương lấp lánh theo từng chuyển động của cụ.
"Đây là ông ngoại ạ," bà French giới thiệu. "Tất cả chúng cháu đều rất tự hào vì cụ vẫn minh mẫn trọn vẹn, và chúng cháu mong cụ sẽ sống tròn một trăm tuổi."
Cụ ông mỉm cười và chậm rãi lắc đầu. Cụ cầm lấy bàn tay Hanny, và bàn tay cụ mềm mại hệt như tay trẻ sơ sinh. Cụ bảo cụ rất vui được gặp cả hai anh em; cụ và cha của họ vừa ôn lại những chuyện xưa cùng mối quan hệ họ hàng.
Giọng nói của cụ vương vấn một âm sắc ngoại quốc rất hay. Đó là một giọng nói được luyện tập kỹ lưỡng và dịu dàng, nhưng vẫn phảng phất chút âm hưởng pha trộn.
"Và cụ đã trải qua cả thời kỳ Chiến tranh Cách mạng," Ben, người vừa nhẩm tính ngược thời gian, lên tiếng.
"Đúng vậy. Cha tôi vừa mới qua đời và để lại chín người con. Tôi là anh cả, và dưới còn có hai em gái. Thế nên tôi không được phép đi tòng quân. Người Anh đã chiếm đóng New York quá nhanh chóng. Nhưng đến năm 1812 thì tôi đã có thể tự do chiến đấu vì sự tự do và đất nước mà tôi đã nhận làm quê hương thứ hai. Chúng tôi chưa từng bị quấy rối hay đối xử tồi tệ, nhưng tất nhiên chúng tôi chẳng thể hỗ trợ gì cho đồng bào mình. Đó là một cuộc đấu tranh đằng đẵng và mệt mỏi. Ban đầu chẳng ai nghĩ phe nổi dậy có thể chiến thắng. Và tất cả những chuyện đó đã từ bảy mươi năm trước rồi, bảy mươi năm rồi đấy."
Cụ ngả người ra sau và thoáng lộ vẻ mệt mỏi.
"Các cháu nhớ ghé sang vào một buổi sáng thứ Bảy nào đó khi cụ thấy khỏe người, cụ sẽ kể cho nghe mọi chuyện về thời đó nhé," bà French dặn dò. "Trí nhớ của cụ cực kỳ minh mẫn, chỉ là cụ dễ bị mệt thôi."
"Không biết cụ đã từng nhìn thấy bức tượng Vua George đặt ở công viên Bowling Green chưa ạ," Hanny ngập ngừng hỏi. "Người ta đã đúc nó thành đạn phượt đấy ạ."
"Chà, cháu cũng biết chuyện đó cơ à?" Cụ mỉm cười và nhoài người tựa vào tay ghế. "Đúng vậy, thưa đứa cháu nhỏ. Các binh sĩ đã tề tựu để nghe bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc lên lần đầu tiên. Washington ngồi trên lưng ngựa cùng các sĩ quan tùy tùng vây quanh. Tiếng hoan hô vang dội như một tiếng gầm vang trời dậy đất từ muôn ngàn lồng ngực. Rồi họ kéo đến Tòa Thị Chính, giật bức tranh chân dung nhà vua xuống khỏi khung, và kéo bức tượng đi khắp các con phố. Vâng, kết cục cuối cùng của nó là biến thành những viên đạn cho phe nổi dậy, theo cách gọi của họ lúc bấy giờ. Đúng như lời con gái ta đã nói, hãy quay lại đây thăm ta lần nữa, ta sẽ kể cho các cháu nghe mọi điều các cháu muốn biết. Quả là một cô bé xinh xắn," cụ vừa nói vừa trìu mến siết nhẹ bàn tay Hanny.
Rồi họ chào từ biệt cụ và quay trở lại phòng khách.
"Cụ luôn ăn mặc chỉnh tề vào các dịp lễ tết," bà French mỉm cười giải thích, "dù cụ vẫn giữ thói quen mặc trang phục cổ điển ấy. Hôm nay cụ có rất nhiều người đến thăm. Mọi người vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến những thời kỳ xưa cũ. Và hãy tin tôi đi, tôi sẽ rất đỗi vui mừng nếu được tiếp tục duy trì mối quan hệ này. Các cháu hãy đón chờ chuyến thăm của cô sớm nhé."
Luella hôn từ biệt Hanny với sự cuồng nhiệt thái quá và nài nỉ con bé lần sau lại sang chơi. Vì đã quen sống cùng đám con trai, con bé chẳng mảy quan tâm đến Ben.
Cô bé có quá nhiều chuyện để kể cho Jim nghe, người vừa đi trượt băng về. Nào là cặp vẹt cãi nhau chửi bới, ngôi nhà lộng lẫy, những chú chuột lang kỳ cục, cùng con ngựa gỗ phi nước đại tuyệt đẹp mà tụi kia chẳng mảy ma mặn mà gì. "Và con Lu trông giống hệt con Dele, chỉ là không dễ thương bằng và cũng chẳng hài hước bằng, lại thêm mái tóc đen sì nữa chứ. Nó bế thốc tớ chạy ù xuống lầu làm tớ sợ suýt chết khiếp. Tớ chắc chắn không đời nào muốn làm em gái nó đâu. Còn cụ ngoại thì trông hệt như bức tranh vẽ những người Pháp cổ. Và thử nghĩ mà xem, cụ đọc tiếng Anh không thông thạo lắm và lúc nào cũng dùng cuốn Kinh Thánh tiếng Pháp của mình. Thời đó ở New York có biết bao nhiêu người ngoại quốc, tớ đoán họ không thể nói trôi chảy tiếng Anh được hết đâu."
"Và người ta vẫn giảng đạo bằng tiếng Hà Lan cho đến tận sau năm 1800 ở Nhà thờ Middle Dutch đấy thôi," Jim tiếp lời. "Và ngay cả khi các bài giảng đã chuyển sang tiếng Anh thì phần hát thánh ca vẫn phải dùng tiếng Hà Lan. Dì Nancy bảo ngày trước nơi đó lúc nào cũng chật nêm người chỉ để đến nghe họ hát."
"Thật kỳ lạ làm sao họ có thể hiểu nhau được nhỉ. Cậu có nghĩ là lũ trẻ thời đó bắt buộc phải học mọi thứ tiếng không?"
Jim nghe vậy liền ngửa cổ cười vang một trận lớn.