Cô Bé Ở New York Xưa

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
Những Cuộc Tiêu Khiển Khác Nhau

❊ ❊ ❊

Các trường học đã mở cửa trở lại. Hanny không quá lớn để đến lớp của bà Craven; thực ra, lớp học của cô bé bắt đầu với một vài cô bé lớn hơn hai hoặc ba tuổi. Ben bắt đầu đi làm, ra khỏi nhà vào buổi sáng cùng John. Jim cảm thấy khá cô đơn.

Cô gái "lý tưởng" của cậu tỏ thái độ bất chấp và kiêu kỳ với cậu một cách không thể chối cãi. Cuối cùng thì chuyện gì đến cũng đã đến với cô ấy. Nhờ sự giúp đỡ của một người quen, cha cô đã kiếm được một vị trí trong Sở Hải quan. Công việc ấy không hẳn quá cao sang, nhưng nghe rất oai. Và thay vì mức lương cỏn con năm trăm đô-la kiếm được ở cửa hàng giày dép, mức lương mới lên tới một nghìn đô-la. Họ sắp chuyển đến khu vực Đại lộ First. Hanny cảm thấy tiếc vì nhà mới của họ chỉ cách lớp học của bà Craven vài căn nhà. Phải chi Lily chuyển đi hẳn khỏi khu phố này thì hay biết mấy!

Dĩ nhiên là cô nàng coi thường trường công lập. Cô ta sắp chuyển sang học viện Rutgers. Cô ta ngẩng cao đầu khi đi lại trong suốt quá trình chuyển nhà, và nhìn Hanny cứ như thể chưa từng quen biết.

Nhưng có rất nhiều điều thú vị thu hút sự chú ý của Hanny. Thỉnh thoảng, cô bé đọc báo cho cha nghe, và tờ báo tràn ngập những lời đe dọa cùng các sự kiện đầy kích động. Trong năm trước, nền độc lập của Texas đã được Mexico chấp thuận với điều kiện phải duy trì sự tồn tại độc lập của xứ này. Nhưng vào Ngày Độc lập, tại một đại hội, người dân đã chấp nhận một số điều kiện do Hoa Kỳ đưa ra và tuyên bố sáp nhập. Vì sợ xảy ra biến động bất ngờ, Tướng Zachary Taylor đã được cử đi cùng một quân đoàn chiếm đóng, và Thiếu tướng hải quân Connor cùng một đội tàu chiến tiến vào vịnh Mexico. Những lời bàn tán về chiến tranh râm ran khắp nơi.

Sau đó, chúng ta lại vướng vào rắc rối với nước Anh về một số vấn đề biên giới ở Oregon. "Lấy toàn bộ Oregon hoặc không lấy gì cả," đó là khẩu hiệu lúc bấy giờ. Nước Anh được thông báo trước một năm rằng các bước đi sẽ được tiến hành để giải quyết dứt điểm vấn đề này. Những kẻ nhát gan thì lớn tiếng tuyên bố rằng dải đất hoang vu ấy chẳng đáng để tranh chấp.

Nếu bạn được ngắm nhìn một cuốn tập bản đồ của thời đại đó, tôi nghĩ bạn sẽ khá ngạc nhiên, và tất cả chúng ta giờ đây đều tin rằng địa chỉ không hề là một khoa học chính xác. Cô bé và cha mình đã nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả những điều ấy. Nào là xứ Oregon rộng lớn và cồng kềnh. Nào là Châu Mỹ thuộc Anh và Châu Mỹ thuộc Nga. Nào là quần đảo Nova Zembla và Spitzbergen, và mặc dù đã có những giấc mơ về một vùng Biển Bắc Cực không bị đóng băng, chẳng ai màng tới nó cả. Chúng ta có một Sa mạc Lớn của người Mỹ, cùng một số vùng đất hoang vu ở phía bên kia dãy núi Rocky. Một nhà thám hiểm trẻ tuổi đầy gan dạ, John Charles Frémont, đã phát hiện ra một vùng biển nội địa mà ông đặt tên là Hồ Salt, rồi đi ngược lên Pháo đài Vancouver bên bờ sông Columbia.

Bây giờ ông lại lên đường để khảo sát California và Oregon. Vào thời đó, chúng ta từng nghĩ Kansas và Nebraska là những vùng rất xa xôi về phía Tây, còn bờ biển Thái Bình Dương gần như là một vùng đất vô danh. Chúng ta vừa phê chuẩn một hiệp ước với Trung Quốc sau một thời gian dài họ tỏ ra bướng bỉnh, trong khi Nhật Bản vẫn là Vương quốc Cẩn Ẩn và Thiên hoàng là một ẩn số.

Và thế là mọi người đều bàn tán về chiến tranh. Nhưng chuyện đó lại quá xa vời nên chẳng ai thực sự cần phải hoảng sợ trừ khi chúng ta xảy ra chiến tranh với nước Anh.

Có nhiều vấn đề khác khiến cô bé vô cùng bận lòng. Vào mùa hè, việc bác sĩ Hoffman đến đón Margaret đi chơi bằng xe ngựa hoặc đi dạo buổi tối dường như chẳng có gì lạ. Nhưng giờ đây, ông bắt đầu đến vào chiều Chủ nhật và ở lại dùng trà. Bà Underhill tỏ ra rất cởi mở và niềm nở với ông. Bà đã chấp nhận chuyện đính hôn của Margaret, và thú thật là bà vô cùng tự hào về điều đó. Ngay từ bây giờ, bất chấp những quy tắc ngữ pháp của Lindley Murray, bà đã bắt đầu "dành dụm", theo cách mọi người hay nói, để sắm sửa đồ đạc cho đám cưới. Có một vài món đồ tinh xảo của họ hàng Lois mà bà định dành riêng cho cô. Những súc vải muslin được mang về nhà và cắt thành ga giường cùng vỏ gối. Tất cả đều phải được khâu lược và vắt sổ bằng tay. Một năm chuẩn bị xem ra cũng chẳng phải là quá dài.

Có hôm Josie nhắc đến chuyện Margaret đã đính hôn. Hanny không đáp lời. Cô bé đi về nhà với một tâm trạng kỳ lạ. Chắc chắn là Steve đã cưới Dolly, nhưng chuyện đó lại khác. Sao mà Margaret có thể rời xa tất cả bọn họ để đi theo một kẻ không thuộc về gia đình mình cơ chứ! Cô bé không thể hiểu nổi điều bí ẩn đó. Nó khó hiểu chẳng kém gì cái chết của người họ hàng Lois. Lúc đó cô bé nào biết rằng đó là một điều bí ẩn ngay cả với những kẻ đang yêu và những nhà thơ đã viết về nó.

Mẹ cô bé đang ngồi vá áo bên cửa sổ tầng hầm phía trước. Martha đang là nốt đống quần áo và cất tiếng hát:

“Ôi hạnh phúc biết bao

Những ai vâng lời Cứu Chúa

Và đã tích trữ kho báu trên thiên đàng.”

Martha đã gia nhập đạo vào mùa đông năm trước và gia nhập nhà thờ Giám lý ở phố Norfolk. Thỉnh thoảng, cô bé cũng đi theo chị ấy dự buổi cầu nguyện sớm vào tối Chủ nhật, bởi vì cô bé mê mẩn những tiếng hát thánh thót nơi đó.

Nhưng giờ đây cô bé tiến đến chỗ mẹ, đứng thẳng người trước mặt bà với đôi mắt mở lớn đầy vẻ nghiêm túc.

“Mẹ ơi,” giọng cô bé mang một vẻ trang nghiêm kỳ lạ, “mẹ thực sự để Margaret cưới bác sĩ Hoffman sao?”

“Trời ạ, con bé này, sao mà làm mẹ giật mình thế!” Mẹ cô bé vội vã thêu nhanh hơn. “À, mẹ cũng chẳng rõ mình có liên quan gì nhiều đến chuyện đó không nữa. Và mẹ nghĩ thế nào họ cũng sẽ cưới nhau thôi. Khi người ta yêu nhau—”

“Yêu nhau.” Cô bé từng đọc cụm từ này trong một vài cuốn sách. Chắc hẳn nó phải khác với việc yêu thương thông thường.

“Đừng có ngốc nghếch thế,” mẹ cô mỉm cười pha chút nghiêm khắc. “Ai rồi sớm muộn gì cũng yêu và kết hôn thôi. Gần như tất cả mọi người. Và nếu mẹ không yêu cha con rồi kết hôn với ông ấy, có lẽ con đã chẳng có được một người cha tuyệt vời đến thế.”

“Ôi mẹ ơi, con thật mừng vì mẹ đã làm thế!” Cô bé ôm chầm lấy cổ mẹ và hôn bà thắm thiết đến mức khóe mắt mẹ rưng rưng ngấn lệ. Chà, bà sẽ chẳng thể chịu nổi nếu phải bỏ lỡ niềm vui tuyệt diệu khi có được cô con gái nhỏ này trên đời!

“Thôi nào con, đừng có bóp cổ mẹ chứ,” bà cất giọng có phần run rẩy.

“Nhưng bác sĩ Hoffman không giống cha—”

“Không đâu con. Và Margaret bây giờ cũng không giống mẹ. Họ còn trẻ, và có lẽ khi đã kết hôn được nhiều năm, họ cũng sẽ hạnh phúc như thế khi cùng nhau già đi. Và vì Margaret yêu anh ấy và anh ấy yêu nó—chà, chúng ta đều rất vui mừng với Dolly. Nó cũng giống như một đứa con gái nữa vậy.”

“Nhưng chúng ta đã có rất nhiều con trai rồi mà,” cô bé ngây thơ nói mà không hề nhận ra sự hài hước trong câu nói của mình.

“Đúng vậy, thực ra chúng ta chưa cần thêm anh ta lúc này. Nhưng anh ấy là bạn thân của Joe, là một thanh niên tốt, và cha con đã đồng ý. Đó là lẽ thường ở đời. Các cô bé chưa thể hiểu hết được đâu, nhưng khi lớn lên các con khắc hiểu. Thôi, đi cất mũ đi, rồi con có thể ra dọn bàn ăn.”

Vâng, đó thực sự là một điều bí ẩn lớn. Margaret bỗng chốc trở nên tách biệt, được khoác lên một vẻ thiêng liêng nào đó. Trực giác sâu sắc của Hanny chưa đủ trải nghiệm để hình dung hay kìm nén nó. Tất cả các cô gái đều quý mến Charles—giá như có nhiều cậu con trai hơn và có những cơn ghen tuông giữa các cô gái, có lẽ cô bé đã có được một nhận thức chính xác hơn. Nhưng dù họ từng coi cậu như một người cha, một chàng trai đang yêu lại hoàn toàn nằm ngoài danh mục đơn giản của bọn họ.

Lát sau, Margaret bước xuống. Cô diện chiếc áo đầm bằng vải merino màu nâu xinh xắn được viền những dải nhung đỏ thắm, và trên cổ thắt một chiếc nơ trắng viền đỏ. Mái tóc phía trước được uốn thành từng lọn xoăn nhỏ.

“Mẹ ơi, chúng ta có thể ăn tối sớm một chút được không, hoặc con ăn trước được không ạ? Buổi hòa nhạc bắt đầu lúc bảy giờ rưỡi và chúng con muốn đến đó sớm để chọn được chỗ ngồi đẹp. Bác sĩ Hoffman sẽ đến lúc sáu giờ rưỡi đấy ạ.”

Cha bước vào. Bà Underhill vội đứng dậy mang trà ra. Jim huýt sáo bước xuống các bậc thềm dẫn xuống tầng hầm. Họ chẳng cần phải đợi John và Benny Frank nữa.

Hanny nhìn chị mình cứ như thể chị là một người hoàn toàn xa lạ, mang một vẻ cao quý đầy trang nghiêm. Sao chị lại có thể đem lòng yêu bác sĩ Hoffman cơ chứ?

Cô bé vẫn chưa lý giải được điều đó khi lên giường đi ngủ một mình. Giờ đây dâng lên trong lòng một cảm giác trống trải về những năm tháng dài đằng đẵng không có Margaret bên cạnh.

Đó là thứ Sáu, và đến chủ nhật tuần đó, bác sĩ Hoffman hiên ngang bước vào phòng khách với những bước chân tự nhiên và đầy thoải mái của người trong nhà. Margaret đang ở trên lầu. Hanny ngồi trên chiếc ghế bập bênh nhỏ đọc cuốn sách trường Chúa nhật. Ông mỉm cười tiến đến chỗ cô bé, lấy cuốn sách đi, nắm lấy cả hai tay kéo cô đứng dậy, rồi ngồi xuống và đặt cô bé vào lòng trước khi cô kịp phản kháng.

“Hanny,” ông bắt đầu, “em có biết mình sắp trở thành em gái nhỏ của anh không? Anh chẳng thể nhớ nổi mình từng có một em gái nào, vì những đứa em của anh toàn là chị lớn. Và anh rất vui khi có em. Em là một cô bé thật ngọt ngào và đáng yêu. Em có thể dành cho anh một lời chào mừng được không?”

Giọng nói của ông điều gì đó đã chạm đến lòng cô bé.

“Hôm thứ Sáu em không vui chút nào,” cô bé chậm rãi nói. “Em không muốn Margaret phải rời xa tụi em—”

“Vậy thì em phải thu nhận cả anh vào đây nữa chứ.”

“Vẫn còn phòng của Stephen mà,” cô bé ngây thơ gợi ý.

“Ừ, phòng đó cũng được đấy. Nhưng anh sẽ không mang Margaret đi trong một thời gian rất, rất dài đâu.”

“Ồ!” Cô bé trút được một gánh nặng.

“Nhưng anh muốn em yêu quý anh,” ông siết nhẹ cô bé vào lòng, tự hỏi làm sao mà cô bé lại có thể giữ được sự ngây thơ đáng yêu đến thế. “Em chịu thử xem nào? Em sẽ làm cho Margaret hạnh phúc hơn rất nhiều đấy. Chúng ta sẽ buồn lắm nếu em không thương tụi anh, và bây giờ nếu đã yêu thương một người, em phải yêu luôn người kia chứ.”

Rồi Margaret bước xuống, và cô ấy cũng nói y hệt như vậy, thế là Hanny chẳng còn cách nào khác đành phải hứa. Và điều đó dường như chẳng làm phiền lòng bất cứ ai. Khi cô bé nhắc đến viễn cảnh đó với cha, ông vừa cười vừa ôm cô vào lòng rồi bảo: “Thế nào đi nữa, cha vẫn còn cô con gái nhỏ của cha đây mà.”

Dolly và Stephen đã chuyển về tổ ấm mới của họ và tổ chức một buổi "tiệc tân gia", một bữa tiệc lớn vô cùng hoành tráng suýt soát đám cưới. Và ngôi nhà mới mới đẹp làm sao! Có cả phòng tắm với chậu rửa mặt bằng đá cẩm thạch, hệ thống đèn gas ở mọi phòng, cùng những tấm thảm lót sàn sáng màu in đầy hoa và lá xanh tươi. Có âm nhạc, có khiêu vũ và tiệc tùng, và cụ ông Beekman đã đi quanh quẩn bên cô bé để kể rằng Katschina dạo này không được khỏe lắm, và ông sợ sẽ mất con bé mất. Dolly bảo cô bé hãy ghé sang chơi từ chiều thứ sáu sau giờ học cho đến sáng thứ hai. Không biết sau này Margaret và bác sĩ Hoffman có một ngôi nhà đẹp thế này không nhỉ?

Giờ đây cô bé có thêm nhiều bài học phải ghi nhớ. Và môn ngữ pháp bỗng gắn liền một cách kỳ lạ với hình ảnh bà Murray vô cùng ngọt ngào và ân cần với các sĩ quan Anh trong lúc những người lính Liên bang lặng lẽ lướt qua—bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, cô bé dường như nhìn thấy rõ mồn một cảnh tượng ấy. Môn lịch sử bắt đầu mở ra trước mắt cô một thế giới rộng lớn. Một điều nữa thu hút sự chú ý của cô bé, đó là vào những ngày thời tiết đẹp, Daisy Jasper đều đến trường tham gia buổi học sáng. Tất nhiên là cô bé học rất kém, bởi vì chưa từng đến trường ngày nào. Giờ đây cô bé đã có thể đi lại mà không cần nạng, nhưng Sam luôn luôn theo sát chăm sóc rất chu đáo. Ngôi nhà của gia đình Jasper đã trở thành chốn hội tụ của lũ trẻ, hệt như nhà của gia đình Dean trước đây. Ngay cả Hoàng tử Charlie tuấn tú cũng được phép đến đó. Daisy rất thích thú khi được nhìn họ nhảy múa theo điệu nhạc từ chiếc hộp kỳ diệu của mình. Nhưng Charles vẫn chưa đủ tiền mua chiếc đàn accordion. Cậu cần một bộ quần áo mới nếu có tiền tiêu xài phung phí, và bà Reed khăng khăng đòi số tiền đó phải được gửi vào ngân hàng trong khi cha cậu bảo rằng ông có thể mua cho cậu tất cả những bộ quần áo cần thiết.

Một vài nữ sinh trong trường đang làm những món đồ xinh xắn để chuẩn bị cho một hội chợ diễn ra ở tầng hầm Nhà thờ Hiển Linh trên phố Stanton, và họ nài nỉ Hanny giúp một tay. Họ cũng sẽ tổ chức một buổi hội chợ ở nhà thờ của Martha nữa, thế là những ngón tay nhỏ bé lại thoăn thoắt làm việc đầy hứng khởi. Hanny vừa học được một kỹ năng mới, và cô bé vô cùng tự hào khi đem nó áp dụng vào trường học. Đó là nghệ thuật móc len. Sát vách chuồng ngựa trên phố Houston có một gia đình người Đức rất ngăn nắp với lũ trẻ đông đúc. Người chồng làm nghề đóng giày, sửa chữa giày bốt. Vợ ông nhận viền giày và khâu những miếng da gia cố vào phần cổ vải của giày cao cổ. Giày cài khuy lúc bấy giờ vẫn chưa thịnh hành. Người ta thường đi giày buộc dây đằng trước hoặc bên hông. Và rất ít quý bà đi giày cao hơn loại gót thấp gọi là spring heel. Dĩ nhiên, một số người vẫn đi loại giày mỏng manh một cách ngớ ngẩn, nhưng nếu không chê bai thì họ thường đi giày cao su; đó là cao su Ấn Độ chính hiệu trăm phần trăm, đôi khi hơi thô kệch nhưng lại bền đến hai, ba năm.

Hai cô con gái nhỏ người Đức là Lena và Gretchen nhận trách nhiệm chăm sóc các em và làm mọi việc nhà. Hanny có cảm giác lúc nào họ cũng bận rộn tất bật. Lena đan tất, găng tay và mũ, đôi bàn tay nhỏ xíu di chuyển thoăn thoắt như cánh chim. Có hôm cô bé đang làm một món đồ rất đẹp bằng sợi len màu hồng nhạt và chiếc kim ngà có đầu móc nhỏ xíu ở đuôi.

“Ôi, đó là cái gì vậy?” Hanny háo hức kêu lên.

“Ren. Ren móc đấy. Một quý cô trên Đại lộ Grand sẽ trả cho tôi mười xu một yard. Món này dùng cho váy lót của trẻ sơ sinh. Và bạn có thể làm mũ lưỡi trai, mũ trùm đầu cùng khăn choàng. Lúc đầu nó làm mình hơi bối rối chút xíu, nhưng giờ thì mình móc nhanh lắm rồi, nhanh hơn đan nhiều. Và mình sẽ nhận được tất cả công việc nào mình có thể làm.”

“Ôi, giá mà mình cũng học được!” Hanny thốt lên.

“Mình sẽ chỉ cho bạn vì bạn rất tốt với chúng mình. Cậu con trai nhà bạn đã mang cho mẹ tôi cả một bọc quần áo lớn. Nhưng tôi sẽ không dạy mấy đứa trẻ quanh đây đâu. Bọn chúng lại đòi làm để bán cho các cửa hàng cho mà xem. Bạn có thể làm ren bằng chỉ cotton, và ôi chao, làm bằng lụa thì đẹp tuyệt vời. Món đó đáng giá lắm đấy.”

Hanny liền mua kim móc và len. Ban đầu cô bé cũng cảm thấy “bối rối” không kém. Nhưng cô bé vốn là một đứa trẻ khéo tay, và một khi đã nắm được “mẹo”, cô nhận ra có vô vàn kiểu dáng phong phú biết bao. Và ôi chao, nó mới cuốn hút làm sao! Cô bé hầu như không còn thời gian để học bài, và có hôm đã thực sự đọc sai phần định nghĩa. Nhưng cô bé đã nài nỉ bà Craven cho phép học lại và kiểm tra bù sau giờ học, bởi vì cô bé biết cha sẽ rất buồn nếu thấy điểm kém của mình.

Khi đã làm được hai yard ren màu hồng xinh xắn, cô bé liền đem khoe với Margaret. Cô bé định làm thêm hai yard màu xanh nữa để tặng cả hai cho quầy hàng của Katy Rhodes tại Hội chợ. Margaret vô cùng thích thú và bảo cô bé phải dạy lại cho mình mới được. Daisy Jasper cũng tập tành làm một chút. Cô bé học rất nhanh và có thiên bẩm tuyệt vời về hội họa.

Ôi trời! Họ bận rộn làm sao. Ai nấy đều hào hứng và say mê đến mức suýt quên cả việc lôi búp bê ra chơi hay đọc truyện tranh. Martha nói: “Cả nhà cũng làm gì đó cho hội chợ của nhà thờ em đi chứ,” và Margaret đã hứa sẽ giúp.

Jim cảm thấy có chút chạnh lòng vì Lily Ludlow không mời cậu đến dự bữa tiệc của cô ấy, vốn là một sự kiện khá lớn. Cô ta lớn tiếng tuyên bố rằng mình đã cắt đứt quan hệ với đám đông ở trường công và sắp kết giao với toàn bạn mới. Nhưng ngay tuần sau đó, Jim tình cờ gặp lại cô ta ở một bữa tiệc khác, và trông cậu mới bảnh bao và nam tính làm sao khiến cô ta vô cùng hối hận vì sự vội vã của mình. Jim vốn kiêu hãnh và điềm đạm, suốt buổi tối hôm ấy không hề khiêu vũ với cô ta lần nào cũng như không thèm chọn cô ta trong bất kỳ trò chơi nào.

Dolly và Stephen trở về nhà dự tiệc Lễ Tạ ơn. Nếu Hanny không quá mải mê bận rộn với những thứ khác, có lẽ cô bé đã cảm thấy mình bị bỏ rơi trong một số việc, chỉ có cha là chưa bao giờ bỏ quên cô bé. Và Ben mang về nhà những cuốn sách hấp dẫn đến mức cô bé thực sự ước gì mình được thức khuya như người lớn thay vì phải đi ngủ lúc chín giờ.

Hội chợ nhà thờ Hiển Linh diễn ra đầu tiên, vào tuần trước Giáng sinh. Phòng học chủ nhật được trang hoàng lộng lẫy bằng cây xanh, những chiếc bàn được kê nối dài phủ các tấm khăn trắng tinh qua lưng ghế. Và ôi, những món đồ đáng yêu làm sao! Dường như mọi thứ đôi tay con người có thể làm ra, từ những món đồ hữu ích cho đến trang trí, từ những con búp bê mặc đồ đẹp mắt cho đến gối cắm kim, từ những chiếc tạp dề trắng đính ren và nơ ruy-băng trên những chiếc túi xinh xắn cho đến những miếng nhấc nồi mộc mạc nhất. Mọi người cười nói rôm rả và vui vẻ hết mức.

Ở căn phòng phía sau được thuê làm lớp học ban ngày—thực ra, cô bé suýt chút nữa đã được gửi đến đây học—là những dãy bàn phục vụ đồ ăn thức uống. Cà phê và trà tỏa hương thơm ngào ngạt, những món ăn khác nhau trông vô cùng hấp dẫn.

Đây là hội chợ đầu tiên của Hanny, nhưng thời đó người ta vốn không có thói quen đưa trẻ con đi khắp nơi, hay thậm chí bản thân người lớn cũng ít khi đi chơi xa. Cuộc sống gia đình khi ấy mang nặng tính quây quần sum họp ấm cúng đúng nghĩa. Cha chính là người hộ tống cô bé, còn mẹ thì dặn dò: “Này, đừng có làm con bé đau bụng vì nhồi cho nó mấy thứ đồ ăn vặt linh tinh nhé, kẻo mùa đông này nó chẳng được đi chơi đâu nữa đấy.” Thế nên bạn thấy đấy, họ phải hết sức cẩn thận. Nhưng cuối cùng họ cũng được thưởng thức món bánh ngọt và kem ngon tuyệt, và cha đã mua cho cô bé một hộp kẹo nặng cả cân buộc nơ xinh xắn, cùng chiếc giỏ đựng đồ khâu vá đáng yêu nhất đời với một hàng túi lụa màu xanh dọc bên trong.

Katy Rhodes đang túc trực tại một quầy hàng cùng mẹ, nhưng cô bé vẫn tranh thủ thì thầm với Hanny rằng “mấy dải ren của cậu vừa bày ra đã bán sạch veo ngay lập tức, và nhiều người hỏi mua đến nỗi tớ chỉ ước gì chúng ta có tới cả trăm yard.”

Điều đó làm cô bé vô cùng thích thú.

“Nó giống như một cửa hàng thực thụ vậy,” Hanny kể với mẹ; “chỉ có điều ai nấy đều quen biết nhau, và có đủ mọi thứ món đồ trên đời. Rất nhiều người đến ăn tối ở đó chắc họ kiếm được khối tiền. Và con mệt đừ cả người luôn, chỉ có điều mọi thứ đẹp tuyệt vời.”

Nhà thờ của Martha chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm trường chủ nhật Giáng sinh, và Charles Reed sẽ hát đơn một bài cùng sự phụ họa của dàn hợp xướng bốn giọng. Gia đình Dean và một nửa số cư dân trong con phố đã đến dự. Margaret cùng bác sĩ Hoffman, và lần này John cùng Ben là người đưa cô bé đi. Mẹ thì đã ở nhà Steve suốt cả ngày hôm đó.

Có một bục giảng lớn được dựng ở cuối nhà thờ, và đông đúc những đứa trẻ xinh xắn mặc trang phục trắng xếp thành từng tầng cao thấp khác nhau. Sau lời cầu nguyện và phần hát của cộng đoàn, các tiết mục chính thức bắt đầu. Đám đông trẻ em cùng cất tiếng hát những bài thánh ca tuyệt diệu, tiếp theo là một số màn đối thoại sinh động và các tiết mục đơn ca được thể hiện vô cùng xuất sắc. Khi đến lượt “Hoàng tử Charlie tuấn tú”, cậu bé dường như ngập ngừng giây lát. Hanny nghĩ rằng cô bé chắc sẽ sợ chết khiếp nếu phải đứng trước đông đảo người như thế. Tôi nghĩ Charles chắc cũng thế nếu là chuyện của một năm về trước.

Tiếng đàn piano bắt đầu vang lên phần đệm dịu dàng. Sau vài nốt nhạc đầu tiên, giọng ca trong trẻo của cậu thiếu niên bỗng vang lên cao vút như tiếng chim hót. Mọi người nín lặng trong sự ngạc nhiên và thán phục. Gương mặt thanh tân, non nớt và dáng người mảnh dẻ ấy trông càng nhỏ bé hơn trên chiếc bục cao. Khuôn mặt mang một vẻ đẹp ngây thơ mà thời nay hẳn sẽ được ca ngợi là mang đậm tính nghệ thuật.

Dàn hợp xướng hòa giọng thật tuyệt vời. Bài hát đơn ca có ba đoạn, và thực tình, tôi không nghĩ khán giả có lỗi khi dành những tràng pháo tay nồng nhiệt đến thế. Cậu thiếu niên phải bước ra lần nữa để hát thêm, lần này là một khúc thánh ca Giáng sinh vui tươi mà họ từng tập luyện ở lớp học thanh nhạc.

Khi các tiết mục kết thúc, lũ trẻ đều được dẫn xuống tầng lầu dưới và trông chúng thật xinh xắn khi tản ra xung quanh. Lại có thêm một điều bất ngờ nữa, một điều khiến cô bé vô cùng thích thú. Tại một gian hàng được trang trí đẹp mắt có hai sinh linh nhỏ bé kỳ lạ mang một câu chuyện riêng. Các cô bé này đã từng tham dự trường chủ nhật hai lần. Một nhà truyền giáo đến Trung Quốc, khi nhìn thấy những đứa trẻ này sắp bị đem bán, đã ra tay cứu giúp bằng cách tự mình bỏ tiền mua lại chúng. Ông đã mang chúng theo khi trở về nước, và giờ đây những tấm lòng hảo tâm đang quyên góp tiền để lo cho chúng một mái nhà và một nền giáo dục đàng hoàng.

Hanny chen lên phía trước, nắm chặt lấy bàn tay John. Trông chúng thật lạ lẫm. Đứa lớn hơn và lớn tuổi hơn hoàn toàn không xinh xắn gì, nhưng đứa nhỏ hơn lại mang một vẻ rụt rè dễ thương và trông không quá đờ đẫn. Làn da vàng nâu, đôi mắt xếch tối màu, hàng lông mày đen và mái tóc đen được búi lên theo một kiểu cách kỳ lạ cùng những chiếc trâm dài, kết hợp với trang phục kiểu Trung Hoa khiến chúng trông vô cùng lạ mắt. Người đàn ông đi cùng cho biết có hàng trăm đứa trẻ bị bán ở Trung Quốc như thế, và phụ nữ mua chúng về để làm vợ tương lai cho con trai họ, rồi đối xử với chúng chẳng khác nào nô lệ. Bàn chân của những đứa trẻ này không bị bó lại, tục lệ đó chủ yếu áp dụng cho tầng lớp thượng lưu. Ông mang theo một số đôi giày Trung Quốc do phụ nữ trưởng thành đi, chúng ngắn ngủi và kỳ quặc làm sao, trông hệt như mấy chiếc gối cắm kim được làm cho Hội chợ vậy.

Hồi đó chúng ta nào đâu ngờ rằng người Trung Quốc rồi sẽ đến sinh sống chung với chúng ta và lập nên một khu phố Tàu ngay giữa lòng thành phố; sẽ làm công việc giặt là và nắm quyền quản lý trong bếp núc của chúng ta; rằng những chiếc áo sơ mi xanh và đôi giày mũi nhọn kỳ lạ sẽ trở thành cảnh tượng quen thuộc trên đường phố. Thế nên lũ trẻ người Trung Quốc khi đó là một sự hiếu kỳ lớn. Thật vậy, phải mất vài năm sau Hanny mới được nhìn thấy một cư dân khác đến từ Vương quốc của các loài hoa.

“Em có muốn bỏ chút gì vào ống quyên góp không?” John chìa ra một đồng tư bản trước mặt cô bé.

Đôi mắt cô bé ánh lên vẻ thích thú. Sau đó, cô bé bắt tay với những thiếu nữ người Trung Hoa nhỏ bé, và cô cảm thấy hệt như mình vừa đặt chân đến một xứ sở xa xôi nào đó.

Nếu bà Reed có mặt ở đó, hẳn bà đã lôi xềnh xệch Charles về nhà ngay lập tức. Bà không có thói quen khen ngợi trẻ con, hay bất cứ ai khác cũng vậy. Theo quan điểm của bà, ai cũng cần phải chịu sự giáo dục nghiêm khắc. Bà hầu như không đồng tình với lớp học thanh nhạc, và nếu thực sự hiểu rằng Charles sẽ đứng một mình đối mặt với khán giả, rồi nhận được những lời tán dương cho việc mình làm, lại còn bước vào hội chợ để được khen ngợi và "đãi ngộ", hẳn bà đã vô cùng hoảng hốt và bắt cậu chịu hình phạt nghiêm khắc nhất trong suốt tháng tiếp theo.

Charles đã cố gắng thuyết phục mẹ đến dự, nhưng bà bận chuẩn bị gà tây cho bữa ăn ngày Giáng sinh và chẳng có thời gian cho những chuyện vô bổ ấy. Chẳng có người phụ nữ nào làm tròn bổn phận với gia đình và nhà cửa mà lại đi làm thế cả. Bà cho rằng kỷ luật càng khắc nghiệt, càng lạnh lùng và cứng nhắc bao nhiêu, thì càng chứa đựng nhiều phẩm hạnh bấy nhiêu. Bà chẳng màng đến mục đích đặc biệt nào cả; đối với bà, đó là con đường duy nhất mà người ta phải luôn cẩn trọng bước đi và cố gắng làm cho nó càng chông chênh, trắc trở càng tốt.

Ông Reed thầm tự hào về cậu con trai của mình. Ông có chút lo lắng rằng tất cả những lời tán dương và sự chú ý này chưa chắc đã là điều hay, nhưng trông cậu con trai vui vẻ làm sao, lại đang là đêm Giáng sinh với bầu không khí vui tươi lan tỏa khắp nơi. Bản thân ông cũng vô cùng xúc động. Có lẽ sự hạnh phúc suy cho cùng không hẳn là một điều yếu đuối và tội lỗi như thế. Nó có vẻ chẳng hề phá hủy gia đình Underhill chút nào.

Nhưng ông vẫn dặn dò Charles khi hai cha con sắp về đến nhà: “Con đừng có khoe mẽ hay làm rùm beng về buổi tối nay nhé. Mẹ con vốn nghĩ mấy chuyện đó có vẻ hơi ngớ ngẩn đấy.”

Tất cả mọi người cùng lũ lượt kéo về, cười nói rôm rả và chúc nhau ngủ ngon vui vẻ. Martha đang giữ chìa khóa tầng hầm nên họ cùng ùa vào nhà. Quả thật, Martha đã trở nên gắn bó như người trong nhà đến mức bác sĩ Hoffman cũng dành cho cô rất nhiều sự tôn trọng.

Cha đang ở trên phòng khách lầu trên đọc báo. Ông ngước lên nhìn và gật đầu chào.

“Ôi!” Hanny kêu lên, “mẹ đâu rồi ạ? Ngôi nhà trông tối tăm, tẻ nhạt và chẳng có chút không khí Giáng sinh nào cả. Mọi thứ ngoài đó tuyệt vời lắm ạ, và ôi cha ơi! Charles hát hay như thiên thần ấy, phải không Margaret? Họ bắt cậu ấy phải hát lại lần nữa, và trông cậu ấy thực sự rất đẹp trai. Lại có cả hai cô bé người Trung Quốc ở hội chợ nữa, những sinh linh nhỏ bé thật kỳ lạ,” cô bé đỏ mặt, vì từ đó gợi nhắc đến Lily Ludlow. “Bàn tay chúng mềm mại như lụa vậy, và khi chúng nói chuyện—chà, cha không thể tưởng tượng nổi đâu! Nghe cứ như tiếng gõ mấy khúc gỗ nhỏ xíu vào nhau và làm mấy góc va vào nhau lách cách ấy. Nhưng mẹ đâu rồi ạ?”

“Mẹ ở lại nhà Steve suốt đêm nay con ạ. Họ muốn mẹ ở lại phụ giúp.”

“Ôi trời! Sẽ chẳng có ngày Giáng sinh nào ra hồn nếu thiếu mẹ mất thôi,” cô bé thốt lên với vẻ mặt buồn rười rượi.

“Thôi nào, chắc sáng mai mẹ về thôi con.”

“Hanny, đã hơn mười một giờ rồi, em phải đi ngủ ngay lập tức đấy,” Margaret nhắc nhở.

“Em chỉ muốn được thức suốt đêm nay một lần thôi. Và em có thể treo chiếc bít tất của mình lên được không ạ?”

“Để đó lo. Lại đây nào con. Còn mấy cậu con trai, lên giường đi ngủ hết đi.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Amanda M. Douglas

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.