"Được rồi; thỉnh thoảng cũng phải ra ngoài một chút chứ."
"Tôi nào có thời gian thảnh thơi," bà Underhill đáp. "Phải có ai đó làm việc chứ, bằng không thì tất cả các người sớm thành một đống lộn xộn mất. Này đây con bé Margaret thì cứ cắm cổ gõ piano, học tiếng Pháp cùng đủ thứ chuyện trên đời. Tôi dám cá có ngày ông sẽ phải dắt con bé sang tận Paris để nó khoe dải thành tích của mình cho mà xem."
"Tôi hy vọng chúng tôi sẽ làm rạng danh lẫn nhau," ông đáp lại bằng một nụ cười khô khang, hóm hỉnh, ra vẻ thích thú.
"Thế gian quay nhanh đến mức người ta chẳng tài nào bắt kịp. Ước gì công việc cũng tiến nhanh được nhường ấy! Sao mấy ông thông minh rảnh rỗi suốt ngày cứ ngồi ì một chỗ không chịu sáng chế ra cái máy nào vừa biết nấu nướng, vừa biết may vá lại còn quét dọn nhà cửa luôn đi?"
"Tôi nghĩ Martha đã là một cái máy làm việc nhà khá tốt rồi đấy. Và bà có thể kiếm thêm một cái máy nữa để may vá."
Bà chẳng hề hay biết rằng Elias Howe đang miệt mài làm việc để tạo ra một người thợ may bằng sắt và thép không biết mệt mỏi, ngày đêm vắt óc suy nghĩ để chế tạo ra một cái lỗ kim sao cho thật hoàn hảo.
"Có mà giàu nứt đố đổ vách mới thuê nổi ngần ấy người! Con bé Margaret đáng lẽ ra phải ngồi may vá ngay lúc này đây, thế mà nó cứ cặm cụi bận tâm mấy bức vẽ của thằng John. Gia đình tôi toàn người thông minh xuất chúng thế này chắc làm tôi phát điên mất thôi. Thế rồi khi tôi qua đời thì các người sẽ sống sao nổi..."
"Chúng tôi đâu có dễ để bà rời xa thế được. Mà nếu thỉnh thoảng bà chịu khó ra ngoài hít thở chút không khí. Nào, mình," giọng ông chứa đầy vẻ nài nỉ.
"Ồ, 'Milyer ông ạ," bà cất lời, động lòng trước giọng điệu ấy, "hôm nay tôi thực sự không đi được. Tôi còn bao nhiêu là áo sơ mi phải cắt, với lại cô Weir vừa mách cho tôi có một con bé sẵn lòng đến may vá với giá năm mươi xu một ngày. Tôi định thuê nó mấy ngày. Còn ông, hãy đi thăm mấy kẻ khốn khổ tội nghiệp xem họ có thiếu thốn gì không. Rồi nếu tôi thực sự giúp được gì cho họ, tôi sẽ đi."
Cuộc nói chuyện nào cuối cùng cũng kết quả là bà lại mềm lòng. Bà vẫn còn chút bực bội và nhạy cảm về chuyện đính hôn của Steve, đồng thời cũng kiêu hãnh vì tiểu thư Beekman đã chấp nhận cậu. Stephen nằng nặc đòi phải có người đến phụ giúp việc may vá, và rằng mẹ cậu cần chút thời gian cho riêng mình. Phải may áo cho bảy người đàn ông và con trai thực sự chẳng phải chuyện đùa. Cô con gái nhỏ đang học cách khâu bít tất rất cẩn thận và đã giúp mẹ làm công việc đó.
Thế là cha Underhill đánh chiếc xe ngựa kéo con ngựa già Dobbin, dùng bộ dây cương bình thường, bởi vì Steve đã dùng con ngựa quý Prince cùng bộ yên cương nạm bạc, và người lớn trong nhà thừa biết ông đi đâu. Tháng Tám công việc buôn bán ế ẩm, thế nên đàn ông cũng có chút thời gian để giải trí, và người cha luôn tận hưởng niềm vui bên cô con gái nhỏ của mình. Sự hiểu biết hạn hẹp cùng những lời nhận xét kỳ cục của con bé khiến ông buồn cười, và tình yêu ngây thơ, ngọt ngào của nó chạm đến tận cùng tâm can ông.
Buổi chiều đã ngả khi họ khởi hành. Con Dobbin không còn trẻ trung và nhanh nhẹn như con Prince, thế nên họ cứ thong thả rong ruổi trên đường, ngắm nhìn những khu vườn, hàng cây, những khóm dây leo hoang dại và cây sumac, rồi những dải đất đá lổn nhổn đan xen với lều lán của những kẻ chiếm đất trái phép cùng lũ dê, lợn, ngỗng và gà. Nhiều năm sau, mỗi khi cưỡi ngựa qua công viên Central Park, bà lại tự hỏi liệu tất cả những điều này chỉ là giấc mơ hay chính mắt bà đã từng chứng kiến.
Họ ghé qua nhà ông Brockner để thăm hỏi.
"Ồ," ông thốt lên, "bà Brockner mà lỡ mất chuyến ghé thăm này chắc chắn sẽ tiếc lắm đây. Bà ấy vẫn luôn nhắc đến cô con gái nhỏ của anh và định bụng sẽ tìm gặp bằng được. Tiếc là bà ấy lại vừa đi Saratoga hai tuần để xem mấy bộ thời trang mới. Nhưng nhất định anh chị phải ghé lại đấy nhé."
Sau đó ông chỉ đường cho họ, họ lái xe theo hướng tây và chẳng mấy chốc đã đến ngôi nhà đá nhỏ mang rõ dấu ấn tàn tạ của thời gian lẫn sự bỏ bê. Tầng trệt là đá thô, còn nửa tầng trên lợp ván gỗ từng được sơn màu đỏ. Có hai ô cửa sổ nhỏ ở hai đầu hồi nhà, nhưng ở phía trước, phần mái hiên nhô ra che khuất cửa ra vào và cửa sổ, nay đã mục nát và phủ đầy rêu phong. Trước cửa có một phiến đá phẳng lớn làm bậc thềm, một căn phòng ở một bên với hai cửa sổ, và bên kia chỉ có một cửa. Cửa chính chia đôi ở giữa, phần trên mở rộng. Trên cửa có chiếc vòng gõ cửa bằng đồng kỳ lạ, còn phần dưới cài then theo kiểu cổ xưa. Khoảng sân nhỏ trông ngăn nắp, dọc hàng rào mọc một hàng cỏ ba lá ngọt um tùm, thỉnh thoảng lại bị lũ dê ghé sang gặm nhấm.
Khi bước lên bậc thềm, họ thấy một cụ bà đang ngồi trên chiếc ghế bập bênh, bên cạnh là chiếc bàn nhỏ và vài món đồ đan trên đùi. Rõ ràng cụ đã thiu thiu ngủ. Hanny nhón gót rướn người lên. Một con mèo xám lớn cũng đang nằm ngủ say. Xung quanh sàn nhà trải vài tấm thảm, có hai chiếc ghế bầy tay rất cổ với phần đáy đan bằng sậy mịn được sơn vàng, hai cánh cửa mở ở hai bên hành lang, và phía sau là chiếc cầu thang xoắn ốc mòn vẹt dẫn lên gác.
Ông Underhill với tay gõ nhẹ vài cái. Con mèo ngẩng đầu lên kêu một tiếng dịu dàng như đang gọi, rồi tiến lại gần cụ bà và rướn người lên đầu gối cụ. Cụ giật mình liếc về phía cửa, đoạn đứng dậy với vẻ hơi bối rối.
Vị khách cất lời: "Tôi đang tìm một vị tiểu thư họ Underhill."
"Ồ, xin lỗi ông." Cụ tháo then cửa dưới. "Hình như tôi vừa thiu thiu ngủ. Tiểu thư Underhill ư?" Cụ hỏi lại với vẻ ngạc nhiên. "Tôi là... một trong hai người chị em. Xin mời vào."
Cụ kéo một chiếc ghế bầy tay ra mời khách và nhường chiếc ghế đẩu của mình cho cô bé.
"Bản thân tôi cũng là người họ Underhill, tính ra thì cũng có chút họ hàng xa. Chúng tôi đã nghe về các cụ từ dạo trước, nhưng ngập đầu vì công việc kinh doanh nên mãi đến nay tôi mới có dịp đến thăm các cụ được."
"Chắc chắn là anh rất tốt bụng. Chúng tôi từng có họ hàng ở Long Island, và hình như cả ở vùng này nữa, nhưng chúng tôi đã mất liên lạc từ lâu lắm rồi. Thực ra giờ chẳng còn ai bên cạnh cả. Em gái tôi là Jane đã hơn tám tuổi, còn tôi thì kém nó ba tuổi."
Cụ là một người gầy gò, hốc hác, đôi tay trắng đến mức gần như trong suốt. Cụ mặc chiếc áo dài màu xám, khoác chiếc khăn choàng cổ màu trắng chéo qua ngực như một tín đồ phái Quaker. Chiếc mũ vải muslin sang trọng của cụ có đường viền hẹp và giản dị đặc trưng của giáo phái ấy.
Ông Underhill sơ lược về gia thế của mình, việc chuyển đến thành phố sinh sống, rồi nhắc đến việc nghe thông tin về họ từ ông Brockner.
"Các anh thật tốt bụng khi cất công tìm đến chúng tôi," cụ nói, giọng run run đầy xúc động. "Bây giờ chắc tôi chẳng thể nhớ nổi gì về họ hàng bên nội nữa. Cha tôi đã tử trận trong trận chiến Harlem Heights, còn người anh trai duy nhất của tôi thì bị bắt làm tù binh. Gia đình Ferrises, họ hàng bên ngoại chúng tôi, từng sở hữu một trang trại rộng lớn ở quanh đây. Nhưng phần lớn đã bị tàn phá, và ít lâu sau ngôi nhà tổ tiên cũng bị thiêu rụi. Ngôi nhà này được xây cho chúng tôi trước khi người Anh rút khỏi thành phố. Anh tôi đã qua đời vì bệnh sốt trong tù, và khi ấy chỉ còn lại mẹ tôi cùng hai chị em chúng tôi."
Hanny đang ngồi sát cạnh cụ. Con bé với tay nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhăn néo.
Con bé thốt lên với vẻ ngạc nhiên đến nghẹt thở: "Ý cụ là khi ấy cụ còn sống — và là một cô bé trong Cuộc chiến tranh giành độc lập sao?"
"À, khi ấy ta lên chín tuổi," cụ nở một nụ cười phớt buồn. "Ta nghi ngờ là cháu còn chẳng lớn hơn ngấY ấy."
"Cháu vừa qua tuổi lên tám ạ," Hanny đáp.
"Và trận chiến diễn ra ngay ở phía đằng kia," cụ gật đầu ra hiệu. "Tất cả chúng tôi đều vô cùng hy vọng Đại tướng Washington sẽ giành chiến thắng. Cha tôi rất yêu nước và vô cùng kiên định với nền độc lập của đất nước. Hai đạo quân bị ngăn cách bởi vùng đồng bằng Harlem, còn Đại tướng Howe thì tiến đánh qua đèo McGowan, cái hẻm núi đá ở đằng kia. Nhưng quân ta đã ép họ phải rút ra cánh đồng quang đãng, và nếu không có một trung đoàn lính Hessian thì họ đã đánh đuổi được quân Anh khỏi chiến trường rồi. Chỉ là ta tin rằng Washington đã thấy việc rút lui là thượng sách. Ta nghe nói đó suýt là một chiến thắng, dẫu rằng chưa hẳn trọn vẹn. Nhưng chúng tôi đã hoảng sợ đến phát cuồng, vì có thể nghe rõ tiếng la hét và súng nổ. Và rồi tin dữ ập đến rằng cha đã hy sinh."
"Ôi!" cô bé kêu lên, rồi áp má mềm mại của mình lên bàn tay nhăn nheo ấy. Giá như lúc đó mình cũng đang sống nhỉ! — và con bé ngước nhìn cha với đôi mắt ngấn lệ.
"Đó là một quãng thời gian vô cùng buồn bã. Một số người nhà Ferris lại đứng về phía Nhà vua. Cháu biết đấy, rất nhiều người tin rằng phe nổi dậy hoàn toàn sai lầm và cho rằng họ chẳng bao giờ có thể thắng nổi. Cực phản đối việc cha ủng hộ phe liên bang chính là bác Ferris của ta."
Cô bé mở to mắt hỏi: "Nhưng cụ không muốn nước Anh thắng trận phải không ạ?"
"Chúng tôi chìm trong vô vàn khốn khó. Ta nhớ mẹ rất cay đắng, và mọi người gọi bà là kẻ theo phe Bảo hoàng. Rồi người anh trai mới mười bảy tuổi của ta cũng bị bắt làm tù binh. Bác Ferris bảo đó sẽ là một bài học hay cho một kẻ bồng bột đầu nóng, và việc ngồi tù hai hay ba tháng sẽ làm dịu bớt sự nhiệt huyết của nó. Nhưng anh ấy đã ngã bệnh và qua đời trước khi chúng tôi kịp biết là anh thực sự lâm bệnh nặng. Rồi nhà chúng tôi bị thiêu rụi. Mẹ nghĩ rằng có kẻ đã phóng hỏa. Ôi con bé ngoan ơi, trong nhà biết bao nhiêu là đồ đạc! Mẹ ta chưa từng rời khỏi ngôi nhà cũ bởi vì bà ngoại là một người góa bụa. Sau đó đất đai bị chia tách, và ngôi nhà nhỏ này được xây lên cho mẹ và hai chị em tôi. Quân Anh chiếm đóng thành phố, và người ta đồn rằng bác ta kiếm được khối tiền từ đó. Dù vậy, người Anh đối xử rất tử tế với chúng tôi, và kể từ đó chẳng ai còn quấy rầy chúng tôi nữa. Cưng à, ngày trước chúng tôi từng nghĩ việc đi xuống khu Bowling Green chẳng khác nào một chuyến hành trình dài cả ngày trời."
Cô bé lắng nghe với đôi mắt mở lớn và thở dài một hơi thật dài.
"Đã có rất nhiều đổi thay. Nhưng không hiểu sao chúng tôi vẫn cứ sống qua ngày cho đến tận khi hầu như mọi người đều quên béng mất sự hiện diện của mình. Chắc cháu cũng muốn gặp chị Jane, dù chị ấy hơi lãng tai và trí tuệ không còn được minh mẫn cho lắm. Ta không biết nữa..." cụ ngập ngừng.
Ông Underhill cất lời hỏi: "Các cụ sống ở đây một mình thế này ư?"
"Không hẳn là một mình; không đâu. Bốn năm trước, chúng tôi đã bán mảnh đất bên cạnh cho một gia đình người Đức, họ là những người rất tốt bụng. Người mẹ thường sang giúp chúng tôi làm mấy việc vặt, chăm sóc khu vườn và ngủ lại đây vào ban đêm. Bác sĩ cho rằng để chị em chúng tôi ở đây một mình thì không an toàn chút nào. Điều đó cũng giúp họ dễ dàng trả tiền mua đất hơn. Giờ thì tiền bán đất hầu như đã cạn sạch rồi. Nhưng chừng đó cũng đủ sống hết quãng đời còn lại của chúng tôi thôi," cụ bình thản nói với một tiếng thở dài dịu dàng đầy sự hy sinh.
"Và các cụ không còn người họ hàng nào khác, ý tôi là không ai lui tới chăm sóc các cụ một chút sao?"
"À, cháu biết đấy, bà ngoại đã để lại những cảm xúc khó xử với họ hàng. Bà không nghĩ các thuộc địa có quyền gây chiến tranh. Và sau cái chết của cha, mẹ cũng cảm thấy phần nào như thế. Họ bỏ mặc chúng tôi, và chúng tôi cũng chẳng bận tâm tìm kiếm họ. Chúng tôi cũng chẳng biết nhiều về dòng họ Underhill. Dù sao thì ta phải nói rằng các anh rất tốt bụng khi đã cất công đến đây," giọng cụ nghẹn ngào.
Đúng lúc ấy cửa mở ra và tiểu thư Underhill vội vã đứng dậy đỡ lấy tay người chị để dìu bà ngồi xuống ghế. Bà cao và đậm người hơn, và cô bé nghĩ rằng đây chính là người già nhất mà mình từng thấy trong đời. Chiếc mũ của bà lệch sang một bên, chiếc khăn choàng tuột xuống một bên vai, trông bà có vẻ khá lếu thế tò mò nhìn quanh.
Lois chỉnh lại trang phục cho chị, đỡ bà ngồi xuống rồi giới thiệu với các vị khách.
"Tôi đói rồi. Tôi muốn ăn gì đó, Lois," bà kêu lên bằng giọng rên rỉ, run rẩy, chẳng màng đến sự hiện diện của người lạ.
Tiểu thư Underhill xin phép rồi đi lấy một đĩa bánh mỳ bơ cùng một cốc sữa.
Bà nói với các vị khách: "Có lẽ anh chị muốn tham quan phòng khách cũ của chúng tôi chứ," rồi mở cửa bước vào.
Phía bên này nhà có hai căn phòng. Căn phòng phía sau được dùng làm phòng ngủ. Bà mở toang các cánh chớp, chút ánh nắng muộn màng len lỏi qua tấm thảm phai màu từng là niềm tự hào vô bờ của hai người phụ nữ trẻ. Nào là những bức chân dung gia đình, một người đàn ông mặc áo đuôi tôm buộc tóc đuôi sam cùng chiếc áo sơ mi nhún bèo ngực, một người khác đội bộ tóc giả trắng bồng bềnh xõa qua vai, và vài vị phu nhân diện những bộ trang phục trông vô cùng kỳ quặc. Có chiếc ghế sofa bọc da đen nạm đinh đồng lấp lánh như vừa được đánh bóng gần đây, một chiếc tủ đựng sách kiêm bàn làm việc cao chạm trần, những chân nến bằng đồng và bạc cùng khay đựng kéo cắt bấc đèn, bên cạnh là chiếc "hộp đánh lửa" bằng thép sáng bóng đặt trên chiếc lò sưởi cao và hẹp. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ gụ lớn được đánh bóng nhẵn bóng đến mức soi rõ cả mặt. Nhưng ở góc phòng lại có một món đồ kỳ lạ cao ngòng, nay đã xỉn màu nhiều, được trang trí bằng những dây leo màu trắng và mạ vàng rủ xuống quấn quýt lấy nhau. Những sợi dây kẽm dài căng từ đỉnh xuống tận đáy.
Khi thấy cô bé đang chăm chú quan sát, tiểu thư Lois liền lên tiếng: "Chắc là cháu không biết đây là cái gì đâu nhỉ! Đó là một chiếc đàn hạc. Các tiểu thư thường chơi loại đàn này khi chúng ta còn trẻ. Hồi đó họ còn có cả đàn spinet nữa. Ta tin là bây giờ nó đã được cải tiến và gọi là đàn piano."
Cô bé ngạc nhiên thốt lên: "Đàn hạc á!" Khái niệm về đàn hạc trong đầu con bé vô cùng mơ hồ, nhưng nó cứ nghĩ đó là một thứ gì đó có thể mang theo bên mình. Nó từng nghe bọn trẻ hát rằng:
"Con muốn làm thiên thần
Và đứng bên thiên thần;
Vương miện trên trán,
Tay cầm đàn hạc,"
và kích thước to lớn của món đồ này khiến con bé bối rối.
Con bé hỏi: "Nhưng làm sao mà cụ chơi được ạ?"
"Cháu đứng thế này này. Cháu có thể ngồi, nhưng đứng thì trông sẽ duyên dáng hơn. Và cháu chơi nó theo cách này."
Bà lướt ngón tay trên những dây đàn đã gỉ sét. Vài sợi phát ra thứ âm thanh thê thảm nghe tựa như tiếng khóc.
Bà buồn bã nói: "Tất cả chúng ta đều đã già đi cùng nhau rồi. Vào thời của ta, đây được coi là một tài năng lớn. Ta tin là bây giờ người ta vẫn chơi đàn hạc. Chúng tôi từng có rất nhiều món đồ kỳ lạ, nhưng cách đây vài năm, một hội đồng nào đó đã đến và mua lại chúng. Chúng tôi túng quẫn đến mức cần tiền, mà khi chết đi lại chẳng có ai để thừa kế. Từng có những bộ đồ sứ cổ vô cùng đẹp đẽ, rồi một quý cô đã mua chiếc quạt và chiếc khăn tay mà bà ngoại ta đã dùng trong ngày cưới. Chiếc khăn tay được thêu tại một tu viện nào đó ở Ý, tinh xảo như mạng nhện vậy. Mẹ ta đã dùng nó, rồi sau đó nó được cất đi dành cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi chẳng bao giờ cần dùng đến nữa," bà thở dài nhẹ nhõm.
Bà chốc chốc lại lẩn đi để xem chừng Jane, người đang ngấu nghiến ăn như thể đã bị bỏ đói từ lâu. Qua những mẩu đối thoại rời rạc, ông Underhill láng mờ nhận ra rằng họ đã bán dần đất đai và một số vật gia bảo quý giá, cho đến nay chỉ còn lại ngôi nhà cũ kỹ này cùng một mảnh đất nhỏ xíu.
Bức bách muốn gặp khách, cụ Jane lúc này đã nóng lòng muốn ra ngoài. Nhưng vì quá lãng tai nên Lois phải lặp lại mọi lời, và cụ hình như cứ vừa nghe xong là quên ngay lập tức. Con ngựa Dobbin hí lên như thể nó nghĩ cuộc thăm viếng thế là đã quá đủ rồi.
Ông Underhill nhét vội một tờ tiền vào tay tiểu thư Lois khi cúi chào tạm biệt. "Hãy mua chút quà tẩm bổ cho chị của bà nhé," ông nói thêm.
Đôi mắt cụ rưng rưng ngấn lệ: "Cảm ơn sự tử tế của anh. Lần sau hãy ghé lại và dắt theo cả cô con gái Margaret nữa nhé," cụ dặn cô bé.
Họ đánh xe đi về hướng tây một đoạn ngắn. Con hẻm núi đá vẫn còn đó, và ngay dưới chân nó là một trong những chiến trường xưa của vùng này. Hanny ngẩn ngơ nhìn ngắm.
Người cha bắt đầu kể: "Hồi đó Washington đã rút quân lên tận Kingsbridge. Nhận ra không thể giữ nổi nơi đó, họ tiếp tục tiến về White Plains, bị đuổi sát nút bởi một vài trung đoàn lính Hessian. Ban đầu họ có vẻ không gặp nhiều may mắn cho lắm, vì họ lại một lần nữa bị đánh bại. Bà ngoại có thể kể cho con nghe rất nhiều điều về chuyện đó. Rồi có một ông bác họ từng bị thiêu rụi nhà cửa và buộc phải trốn chạy đến một ngôi nhà nhỏ cũ kỹ trên đỉnh đồi. Hồi đó cha con ta cũng chỉ là một cậu bé."
Cô bé trố mắt ngạc nhiên. Bố cũng biết về chiến tranh cơ á?
"Chuyện đó xảy ra từ đời xửa đời xưa rồi — tựa như nạn hồng thủy hay chuyện bán Giô-sép vậy. Và bà ngoại thực sự đã sống qua thời đó sao?"
"Bà ngoại trạc tuổi tiểu thư Lois đấy."
"Tiểu thư Lois trông không đến nỗi quá già, nhưng cụ kia thì có. Cháu thấy sợ cụ ấy."
"Đừng nghĩ về cụ ấy nữa con gái cưng ạ. Thật đáng buồn khi mất đi trí minh mẫn và trở thành gánh nặng cho người khác."
Sau hồi lâu suy ngẫm, con bé tự tin đáp: "Bố thì chắc chắn không bao giờ bị thế đâu."
Ông đáp lại, lòng thầm thốt lên một lời cầu nguyện ngắn ngủn tận đáy lòng: "Cha mong là mình sẽ không bao giờ như vậy."
Con Dobbin nằng nặc đòi phi nước đại trở về nhà. Nó đang tơ tưởng đến bữa tối của mình rồi đấy. Cô bé cảm thấy thật tiếc vì không có Benny Frank ở bên để cùng bàn tán về những chuyến phiêu lưu vừa qua. Margaret và mẹ đang lược áo sơ mi; John thì đang phác thảo các bản vẽ trên bàn ăn. Cậu đã tìm được một chỗ làm trong ngành xây dựng nhà cửa và đang theo học ngành kiến trúc cùng nghề vẽ kỹ thuật. Có khách đến tìm bố nên con bé bị bỏ lại một mình. Gia đình Dean cùng mấy đứa trẻ trong khu phố đã đi vác cặp đi thăm họ hàng. Con bé thẫn thờ đi qua đi lại một lúc, tự hỏi thế giới này sao mà kỳ lạ thế, bao điều kỳ diệu đã xảy ra, và mơ hồ cảm thấy rằng tương lai chắc chẳng còn gì lạ lùng hơn thế nữa.
Cuối tuần đó, cô bé cùng Margaret lên White Plains vì bà ngoại rất nóng lòng muốn gặp hai chị em.
Trong mắt cô bé, người bà giờ đây mang một vẻ hấp dẫn mới mẻ đầy kỳ lạ. Đối với một cô bé tám tuổi, việc có một người thân từng sống qua thời kỳ Chiến tranh giành độc lập quả là một sự tưởng tượng vượt xa thực tế. Bà ngoại cũng thấy con bé thật tuyệt vời. Dù bà không mấy ưng những chiếc váy ngắn và quần xẻ ống dài tận mắt cá chân, nhưng phải công nhận trông cô bé diện chúng rất đáng yêu. Và khi nhận ra con bé khéo tay nhường nào trong việc khâu lai áo, thêu mũi rùa, khâu vá, lại còn đọc sách rành mạch đến mức nghe thật thích tai, bà đành thừa nhận Hannah Ann thực sự rất đáng khen, và tận đáy lòng, bà thầm thú nhận đây là một cô bé vô cùng ngọt ngào.
Bà nói: "Ta đã bắt đầu làm chiếc chăn chắp vá chuỗi hạt kiểu Ireland mới cho cháu rồi đấy. Ta đã làm xong một ô mẫu và cắt sẵn một chồng khá dày. Dì Eunice vừa vớ được một khúc vải calico màu xanh lá tuyệt đẹp. Ta đã phân vân không biết nên chọn màu xanh lá hay màu đỏ, nhưng chuỗi hạt Ireland thường được chắp bằng vải xanh lá. Trông có vẻ hợp lý hơn."
Và dạo ấy người ta vẫn chưa bắt đầu hát bài "The Wearing of the Green."
Họ hàng nhà Ann liền thốt lên: "Chúa ơi, cậu đúng là một sinh linh cổ cổ kỳ cục đến mức chẳng thể phân biệt nổi ai già hơn, cậu hay là bà ngoại nữa."
Cô bé bèn thắc mắc: "Sống theo kiểu cổ xưa thì có gì..." — con bé ngập ngừng không biết nên dùng từ gì, từ 'sai trái' hoặc 'tồi tệ' thì nghe có vẻ nặng nề quá — "...kỳ cục lắm hả cậu?"
"À, thì, kỳ cục chứ. Nhưng Hannah Ann à, cậu vừa đáng yêu lại vừa lém lỉnh kinh khủng, và tụi tớ chỉ muốn giữ cậu ở lại đây mãi mãi thôi."
Nói rồi cậu ôm siết lấy cô bé suýt ngạt thở và hôn hít tới tấp cả chục cái.
Vừa ngồi khâu vá, bà ngoại vừa kể cho họ nghe bao câu chuyện kỳ thú. Nào là sự huy hoàng của ngôi trang trạch nhà Underhill xưa cũ, những bộ đồ bạc và đĩa ăn từ nước Anh đưa sang, bộ đồ sứ thật do một thuyền trưởng hải quân, cũng là người họ Underhill, mang về từ Trung Quốc, và hành trình đi về mất ròng rã ba năm trời. Cả chiếc khăn choàng Ấn Độ lộng lẫy phải mất tới bảy năm mới dệt xong, rồi chiếc áo dài lụa Ba Tư mua lại từ một vị thủ lĩnh hoặc vua Moghul nào đó — bà không nhớ rõ lắm, chỉ nghĩ rằng ở những xứ sở ấy họ có vua hoặc hoàng đế. Bà cho Hanny xem một mảnh lụa nhỏ và một chiếc dải rằn buộc eo đưa từ Paris sang, "Vì con thấy đấy," bà giải thích, "chúng ta căm ghét nước Anh đến độ thà chết chứ nhất quyết không mua bất cứ thứ gì của họ nếu có thể tránh được. Chính người Pháp đã vượt biển sang và giúp đỡ chúng ta."
"Họ đánh nhau vì chuyện gì thế hả bà?"
"Ôi con bé ngốc, vì rất nhiều chuyện ấy chứ. Bây giờ con chưa thể hiểu hết được đâu, nhưng dần dần rồi con sẽ biết. Những người đến đây khai phá vùng đất này muốn có quyền tự trị lấy đất nước mình. Họ nghĩ rằng một vị vua ở cách xa hàng ngàn dặm chẳng thể nào thấu hiểu điều gì là tốt nhất cho họ. Rồi nước Anh cứ gửi hàng hóa sang và bắt chúng ta phải trả tiền bất kể chúng ta có muốn hay không. Đó là một cuộc đấu tranh dai dẳng, nhưng cuối cùng chúng ta đã thắng, và người Anh buộc phải cuốn gói về nước. Này con, nếu chúng ta không chiến đấu, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có nổi một đất nước," gương mặt già nua của bà ngoại bừng lên vẻ tự hào.
Cô bé nghĩ rằng thật kinh khủng làm sao nếu không có một đất nước, dẫu rằng trong đầu con bé mọi thứ vẫn còn vô cùng hỗn độn. Tuy nhiên, con bé vẫn thấy vui vì mình đứng về phía chiến thắng.
Hầu như ngày nào chú David cũng đưa con bé đi dạo bằng xe ngựa. Họ ghé thăm ngôi nhà cũ trên đồi nằm khuất trong một khu rừng rậm, nơi gia đình từng phải tá túc cho đến khi ngôi nhà mới được xây xong. Họ đi vòng quanh chiến trường xưa, nhưng sáu mươi năm hòa bình đã mang lại những đổi thay to lớn, và năm mươi năm tiếp theo sẽ chứng kiến một thị trấn xinh đẹp cùng những tòa dinh thự cao tầng mọc lên khắp nơi. Con bé lại mày mò tìm hiểu về lịch sử của New Amsterdam và dần hiểu rõ hơn, dẫu đôi khi nó vẫn nghi ngờ không biết ông Dederich Knickerbocker thỉnh thoảng có đang "nói đùa" giống y như bố mình không.
Chuyến thăm kết thúc sớm hơn dự định, hay ít nhất là bà ngoại nghĩ thế, và bà rất tiếc nuối khi phải chia tay cô bé. Bà tính sẽ ghé xuống thăm khi công việc đồng áng mùa thu hoàn tất, và bà chỉ cho Hanny mang theo bốn ô chăn chắp vá, bởi vì một khi đã đi học thì sẽ chẳng còn nhiều thời gian để may vá nữa.
Họ dừng chân ở Yonkers hai ngày để đón mấy cậu con trai trông đã rám nắng và phúng phính hẳn lên. Dì Crete đã khỏe hơn rất nhiều và không còn phải quấn vải quanh mặt nữa. Dì bảo suy cho cùng thì chẳng nơi đâu bằng Yonkers cả. Retty trông có vẻ vui vẻ và hoạt bát, nhưng trong bếp đã có một cô hầu mới vì dì Mary đã dọn đi sống cùng các con. George bảo khi nào thu hoạch xong mùa vụ, cậu cũng sẽ xuống dưới đó một chuyến.
Trường học bắt đầu chính thức vào ngày 1 tháng Chín. Thời tiết tất nhiên là vẫn oi bức. Mùa hè thường hay kéo dài lê thê thế đấy. Lũ trẻ từng hét lạc cả giọng vì vui sướng khi trường đóng cửa, nay lại làm cho đường phố và sân trường vang dội tiếng cười nói rộn ràng trở lại. Dù không hẳn là những đứam mê học hành, nhưng chúng rất thích thú với trò vui chơi và tình bạn bè thân thiết. Và khi chúng xếp hàng diễu hành dọc theo những dãy ghế dài hát vang bài:
"Hỡi Columbia, vùng đất hạnh phúc;
Hỡi những người anh hùng, đoàn quân sinh ra từ thiên đàng,
Những người đã chiến đấu và đổ máu vì sự nghiệp tự do!"
bạn hoàn toàn có thể tin chắc rằng một thế hệ ái quốc tiếp theo đang được nuôi dưỡng để sẵn sàng cho những tình huống khẩn cấp trong tương lai. Ôi, chúng sở hữu những cuống họng và lá phổi khỏe khoắn làm sao!
Bà Underhill đã ghé thăm bà Craven và cảm thấy vô cùng ưng ý. Thế là cô bé sẽ đi học cùng Josie và Tudie Dean.
Vài cư dân mới vừa chuyển đến khu phố cách đó hai căn nhà. Thành viên trong gia đình ấy gồm một cô bé bảy tuổi là con của người con trai trưởng, một thiếu nữ khoảng mười bốn tuổi, hai cô con gái lớn — một người làm giáo viên, người kia làm hoa giả tại một xưởng ở trung tâm thành phố — và hai cậu con trai. Người anh cả làm việc cho một tờ báo và sức khỏe khá yếu. Vợ anh, cũng là mẹ của cô bé kia, đã qua đời từ vài năm trước. Đứa trẻ có vẻ ngoài khá xanh xao, gầy gò với đôi mắt to tròn, thẫm màu cùng gương mặt già trước tuổi mang nét buồn man mác. Và khi bà Whitney ghé qua vài ngày sau đó để hỏi thăm xem bà Underhill gửi con bé học ở trường nào, bà cũng quyết định cho cháu gái mình đến lớp của cô Craven.
"Nó là đứa trẻ khá mong manh và thừa hưởng nét đẹp từ người mẹ. Tôi vẫn bảo con trai mình rằng nó cần được giao du với bạn bè chứ không phải cứ ngồiì một chỗ ôm mèo mà cưng nựng. Nhưng Ophelia, con gái tôi làm giáo viên ở khu trung tâm nơi chúng tôi từng sống, lại bảo trường công không phải là nơi thích hợp cho nó. Hơn nữa cháu gái chị trông ngoan ngoãn và điềm đạm quá."
Nora, tên mọi người gọi con bé, ban đầu rất rụt rè. Hanny liền tiến lại gần và thấy mấy chị em nhà Dean đang đợi ở hiên nhà. Nora không thốt nổi một lời, chỉ trân trân nhìn như sắp khóc đến nơi. Bà Craven ân cần đón lấy con bé như một người mẹ, nhưng có vẻ như việc kết thân với những đứa trẻ khác đối với nó là một thử thách vô cùng khó khăn.
Bà Craven sống trong một ngôi nhà góc phố. Lối vào trường nằm ở phố Third, và phòng học được cơi nới từ căn phòng khách phía sau, nơi được dùng làm phòng sinh hoạt cho lớp lớn. Sĩ số lớp có khoảng hai mươi cô bé, đều không quá mười hai tuổi. Cuối sân là một khoảng đất trống có rào chắn, tạo thành một sân chơi tuyệt đẹp.
Thời kỳ đó có rất nhiều ngôi trường như vậy, nhưng hầu hết là dành cho các bé gái. Hanny rất thích nơi này. Vào chiều thứ Tư, các em được học vẽ và đọc to sách do các nữ sinh tự chọn, đôi khi nghe rất buồn cười. Chiều thứ Sáu các em học may vá, thêu thùa và đan len. Trò này đang là mốt thời thượng lúc bấy giờ. Một cô bé có một khung thêu khổ lớn thêu bức "Giô-sép bị các anh bán". Hanny không bao giờ thấy chán những sắc màu xanh, đỏ và cam rực rỡ tuyệt đẹp trên trang phục. Một cô bé khác đang đan mặt ghế ngồi. Và một người nữa thì bắt đầu thêu chiếc tạp dược bằng lụa đen với sắc đỏ dịu nhẹ. Rồi họ thêu viền khăn tay, đánh dấu khăn tắm và khăn ăn bằng những chữ cái hoa mỹ, thực sự tạo nên một tập thể bận rộn vô cùng. Riêng cô bé nhỏ Eleanora Whitney thì đến một mũi kim cũng chẳng biết thêu, khiến vài cô bé khác phải thốt lên là "thật kinh khủng".
Vào chiều thứ Sáu từ ba giờ rưỡi đến năm giờ, cô Helen Craven dạy cho những đứa trẻ có nhu cầu các bài học khiêu vũ. Dù Nora không biết may vá, nhưng con bé lại có thể nhảy múa uyển chuyển như một nàng tiên. Học vấn của con bé là một sự pha trộn khá kỳ lạ. Nó có thể đọc và ngâm thơ, nhưng môn chính tả thì hoàn toàn vượt quá khả năng, và những nỗ lực đánh vần của nó khiến cả lớp khúc khích cười. Nó biết nói một chút tiếng Pháp, và từng cùng cha vượt đại dương sang tận nước Anh. Thế nên con bé hoàn toàn không phải là một người tầm thường để mà coi thường.