Cảnh vật bỗng trở nên yên tĩnh đến lạ lùng sau khi đám con trai rời đi. Margaret có hai buổi học đàn mỗi tuần và kèm cho cô bé út nửa buổi. Rồi có một hôm, Stephen bước vào và cất giọng:
"Hãy diện trang phục thật lộng lẫy vào nhé, hỡi Dinah,
Anh sẽ đưa em đi dạo một vòng thật oai phong và tươi vui."
"Cả hai chúng em ạ?" cô bé ngây thơ hỏi.
"Đúng vậy — cả hai. Anh mang theo chiếc xe ngựa mới và bộ dây cương khảm bạc. Em phải đi cùng để làm lễ rửa tội cho nó lấy hên đấy. Nhanh lên, Peggy, mặc chiếc váy trắng vào đi."
Cô Blackfan đã đến lần nữa và may cho mỗi đứa hai chiếc váy trắng. Bộ đầm của cô bé có thêm hai miếng "cánh" ở cầu vai khiến vóc dáng đỡ gầy gò hơn. Con bé đeo dải băng lưng màu hồng và thắt nơ hồng trên mái tóc. Tất chân trắng tinh như "tuyết mới rơi", còn đôi giày trông giống như đồ chơi của búp bê. Chúng làm bằng chất liệu ánh đồng, đan chéo nhiều lớp ở mu bàn chân và thắt nơ gọn gàng. Con bé cũng có một chiếc mũ mới, loại mũ rơm vành rộng trang trí những đóa hồng phớt. Món đồ ấy khá đắt tiền, nhưng bù lại có thể "tút" lại vào mỗi mùa hè và dùng được đến mấy năm liền. Thời đó, mốt thời trang không thay đổi đến ba tháng một lần. Margaret đội một chiếc mũ Di-gan xinh xắn với chiếc nơ satin xanh dương lớn ở đỉnh, dây quấn buộc dưới cằm, khiến trông cô như một bức tranh thiếu nữ. Tay áo dài qua khuỷu tay một chút, và cả hai đều đeo găng tay lười bằng ren lụa màu đen che nửa cẳng tay.
Đêm hôm trước trời vừa đổ một trận mưa rào nên đường sá không còn bụi bặm. Họ đi qua đường Second Street để ra hướng Sông Đông, nơi có một hoặc hai dãy phố hoàn toàn là cư dân da màu sinh sống. Ở đó có một nhà thờ Giám lý Châu Phi mà cô bé cực kỳ tò mò muốn tận mắt nhìn thấy. Người ta đồn rằng vào mùa phục hưng tôn giáo, họ thường nhảy múa vì sung sướng. Đám đông thường tụ tập rất đông để nghe tiếng hát thánh ca.
"Nhưng họ có nhảy múa thật không ạ?" cô bé ngơ ngác hỏi. Con bé không tài nào hình dung nổi điều đó lại có thể đi đôi với sự trang nghiêm nơi cửa Phật hay nhà thờ.
"Họ chỉ đơn giản là diễu hành dọc các lối đi và nhún nhảy theo nhịp điệu của bài thánh ca thôi. À mà—phái Shakers cũng nhảy múa theo cách tương tự đấy." Stephen từng có dịp đến Lebanon.
Xa hơn một chút là một ngôi nhà thờ Giám lý khác, nơi từng có nhiều nhân vật tên tuổi đến giảng đạo. Gần bờ sông có vài ngôi nhà cổ kính kỳ lạ, và hầu như góc phố nào cũng có cửa hàng. Tiệm rượu lúc bấy giờ rất hiếm. Phía bên kia là Williamsburg, tiến lên chút nữa là Astoria, nơi chỉ toàn không gian xanh mướt của vùng quê. Thỉnh thoảng có vài chiếc thuyền xuôi ngược và những chuyến phà qua lại.
Những ngôi nhà không còn mọc lên san sát theo dãy nữa. Đâu đó xuất hiện vài mảnh vườn trồng rau, và những phụ nữ gốc Đức đang cúi gom cỏ dại; tiếp theo là những dải đất hoang sơ, lởm chởm đá và chưa được khai khẩn. Chẳng mấy chốc, cảnh quan bắt đầu trở nên phong phú và thi vị hơn—những biệt thự đồng quê cùng khuôn viên cắt tỉa gọn gàng, phía trước ngập tràn cây bụi còn phía sau là vườn rau, chuồng trại, phảng phất bầu không khí điền viên yên ả. Bầu không khí mới ngọt ngào và trong lành làm sao.
"Ồ!" Margaret thốt lên, "Annette Beekman chắc hẳn sống ở đâu quanh đây thôi. Em từng hứa với cô ấy là tụi mình sẽ ghé thăm một ngày mà."
Stephen rẽ vào một con đường làng. Dọc đường có rất nhiều cổ thụ như cây du, thiết sam, thông và cả cây ăn quả. Một chiếc bàn đặt dưới bóng cây, vài phụ nữ đang ngồi đó vừa may vá vừa trò chuyện trong khi mấy đứa trẻ chạy nhảy xung quanh. Giữa lúc họ đang đưa mắt nhìn sang, một thiếu nữ mặc chiếc áo vải muslin màu xanh dương xinh xắn liền vùng chạy vụt ra cánh cổng đang mở rộng.
"Ồ, Margaret!" Annette Beekman reo lên. "Chà, anh thật tốt quá đấy, Stephen! Anh có thể ghé xe vào và dừng chân chơi với tụi em một lát chứ?"
Stephen cười tươi tắn đáp: "Anh đang đưa Margaret đi tham quan New York đây. Cứ đà này thì con bé tưởng viện Rutgers chính là tất cả những gì có ở thành phố này mất."
"Ôi, anh Stephen!" cô nàng đáp lại vẻ hờn dỗi đáng yêu.
Một người nữa bước ra; một thiếu nữ cao ráo, nước da trắng ngần với những bím tóc vàng óng dày cộm được cài chiếc lược bạc ở đỉnh đầu để trông càng cao hơn. Cô mỉm cười dịu dàng.
"Ồ, anh Underhill!" cô thốt lên.
"Đây là cô chị lớn và đây là cô em nhỏ của tôi," Stephen giới thiệu. Rồi anh quay sang nói với Margaret: "Còn đây là cô Dolly Beekman."
Gò má Margaret bỗng ửng hồng khi một nỗi hoài nghi mơ hồ thoáng qua trong tâm trí.
"Các bạn phải xuống xe nghỉ ngơi một chút sau chuyến đi dài thế này chứ," cô Dolly niềm nở cởi mở lên tiếng. "Cơn mưa chiều qua thật dễ chịu, nhưng trời hôm nay thì ấm áp quá. Như các bạn thấy đấy, tụi mình đều sinh hoạt ngoài trời cả. Và đây, chắc hẳn là cô em gái nhỏ của bạn nhỉ? Lái xe lên đây giúp mấy cô gái xuống đi, rồi vòng ra phía sau chuồng trại nhé. Bạn sẽ gặp người ở ngoài đó."
Stephen thong thả đánh xe theo lối đi rợp bóng, gật đầu chào nhóm phụ nữ. Dolly bước đi dọc theo lối mòn cỏ mọc. Cô mặc một chiếc váy voan Thụy Sĩ màu trắng chấm bi với phần eo kiểu tiểu thư, thắt dải băng satin xanh dương có phần đuôi thả dài suýt chạm gấu váy. Tay áo dài đến khuỷu tay, được may thành ba tầng bèo nhún viền ren khá dày dặn. Vòng qua chiếc cổ trắng ngần xinh xắn của cô là sợi dây nhung đen bản rộng đúng một phân, được cố định bằng một viên kim cương li ti mà Stephen vừa mang tặng cô cách đây một tuần. Margaret thầm nghĩ trông cô chẳng khác nào một bức tranh, và quả nhiên về sau bức chân dung cô trong trang phục ấy đã được trưng bày tại Viện Hàn lâm Thiết kế.
Stephen đỡ các cô em xuống xe. Dolly nắm lấy tay Margaret cùng bàn tay nhỏ nhắn của cô bé, rồi giới thiệu họ với số chị em họ và dì nhiều chẳng kém gì vở kịch "Pinafore". Cô bé cảm thấy có chút không được tự nhiên cho lắm. Con bé cứ có cảm giác chiếc váy đẹp đẽ của mình đã bị nhàu nhĩ đi ít nhiều. Margaret thì hơi bối rối. Stephen tỏ ra vô cùng thân thuộc giữa tất cả mọi người nơi đây. Annette từng nói về anh rất tự nhiên, thế mà cô lại chẳng mảy may nghi ngờ điều gì. Sao mình lại có thể ngốc nghếch đến thế cơ chứ!
Ở đó có bà Beekman trẻ, độ chừng ba mươi tuổi, thân hình đã hơi đẫy đà, đang tất bật với đứa con trai thứ năm—người mà bà sẵn sàng đổi lấy một cô con gái; bà Bond, người em gái kế, đi cùng một trai một gái; dì Gitty Beekman, mấy người họ hàng nhà Vandewater và cả họ hàng nhà Gessler từ Nyack đến.
Họ ngồi trên những chiếc ghế đan bằng sậy và nan gỗ, vài chiếc ghế bập bênh, dăm chiếc băng ghế mộc mạc cùng hai ba chiếc chiếc bàn kê xung quanh bày đầy giỏ đựng đồ khâu, những chồng vải vóc và đan lát; bởi thời bấy giờ người ta vẫn chưa bỏ thói quen cần cù lao động, và vẫn thường dạy con cái những vần thơ ca ngợi chú ong chăm chỉ.
Dolly kéo Margaret ngồi vào một chiếc ghế bập bênh, tháo dải mũ và cởi chiếc khăn choàng vải mỏng mềm mại cho cô—thứ mà người ta vẫn gọi là khăn choàng dài, còn các phụ nữ lớn tuổi thì dùng khăn bằng lụa đen kết hợp ren đen sang trọng. Chúng thường được vắt hờ trên cánh tay hoặc thắt hững hờ, và ai càng giàu có thì phần diềm tua rua ở hai đầu lại càng được trang trí cầu kỳ bấy nhiêu. Riêng cho những ngày trời se lạnh hơn thì đã có khăn choàng dài chất liệu Paisley và Ấn Độ.
Hanny cứ bám chặt lấy chị và nép sát vào đầu gối cô. Con bé cảm thấy xa lạ và rụt rè trước ánh nhìn của quá nhiều người lớn xung quanh. Nhưng tất cả bọn họ đều tiếp tục công việc dở dang của mình và trò chuyện, niềm nở hỏi Margaret đủ thứ chuyện.
Có ba cậu con trai nhà Beekman và một cậu nhóc nhà Bond đang chạy nhảy nô đùa. Đứa con gái thì rất nhút nhát và chỉ chịu ngồi ì trên lòng mẹ. Mấy cậu nhóc nhà Beekman trông bụ bẫm, tròn trĩnh, tóc cắt ngắn gọn gàng nhưng không đến mức hú trụi theo mốt hiện đại. Chúng mặc quần dài, áo chẽn và đi giày thấp cổ cùng tất màu xám nhạt, dù đồ đi lễ chủ nhật của chúng là màu trắng. Nhìn vào bây giờ, chúng ta sẽ thấy chúng trông thật kỳ cục và mang đậm chất Hà Lan không lẫn vào đâu được. Đôi khi bạn vẫn có thể bắt gặp kiểu trang phục này ở những người nhập cư mới đến. Nhưng vào thời kỳ ấy, chẳng có mấy cậu bé diện phong cách Fauntleroy với áo khoác nhung, quần lửng phồng, tóc xoăn bồng bềnh và cổ áo diềm xếp nếp đâu.
Mấy cậu nhóc tìm cách lôi kéo Hanny nhập bọn. Pety chìa ra chiếc ghế gỗ nhỏ mà cậu bé đang xách kè kè bên mình. Paulus thì rủ cô bé "đến xem con bò Molly có chiếc sừng to ơi là to và hay đi thế này này," vừa nói cậu vừa lắc đầu hung dữ đến mức cô bé rùng mình sợ hãi, vội nắm chặt lấy tay Margaret.
"Đừng trêu con bé nữa chứ, mấy đứa," người mẹ dịu dàng can thiệp. "Lát nữa con bé sẽ quen thôi. Chắc nó không quen chơi với trẻ con lắm, vì là em út mà."
"Dạ vâng ạ," Margaret đáp lời.
Mấy cậu nhóc nhanh chóng chạy ùa đi chơi chỗ khác. Annette quỳ xuống thảm cỏ ngắn, chẳng mấy chốc đã dỗ được nụ cười từ cô bé—đứa đang bận băn khoăn không biết mấy cậu con trai lớn có đáng yêu hơn bọn nhóc tì nhiều hay không. Đúng lúc đó, Stephen quay lại cùng ông Paulus Beekman, một người vóc dáng đẫy đà, nước da ngăm đen và mang nhiều nét bên họ nhà ngoại. Các bà các cô cười nói rôm rả, trêu chọc lẫn nhau, kể những câu chuyện vui, so sánh tay nghề may vá và trao đổi công thức nấu ăn. Cô Gitty hỏi Margaret về gia thế bên ngoại cô—dòng họ Vermilyea. Khoảng sáu bảy mươi năm trước, một tiểu thư nhà Vermilyea đã kết hôn với một người họ Conklin rồi chuyển đến Closter. Trông bà ấy như thể thuộc làu làu toàn bộ gia phả dòng họ, nắm rõ mối quan hệ họ hàng từ đời thứ ba cho đến đời thứ tư. Dù vậy, bà sở hữu gương mặt khá hiền hậu với những nếp nhăn tinh tế và các mạch máu xanh mờ ảo, tóc buông thành những lọn xoăn dài hai bên thái dương, cố định bằng chiếc lược đồi mồi vốn là kỷ vật của người mẹ quá cố mà bà vô cùng trân quý. Bà mặc bộ lụa đổi màu thanh nhã, kiểu áo vẫn còn giữ những chiếc tay phồng to hệt như kiểu tụi mình đang mặc dạo gần đây. Dù rằng mốt ấy hầu như đã lỗi thời. Các phụ nữ lớn tuổi lúc bấy giờ thường chải tóc xõa qua tai. Vì chưa có kẹp uốn tóc, họ đành phải tết tóc thành những "bím đuôi sam" nhỏ mỗi khi đi ngủ để tạo độ xoăn bồng bềnh, trừ những ai có mái tóc xoăn tự nhiên. Phần lớn các thiếu nữ thường chải tóc thẳng qua tai khi sinh hoạt thường ngày, rồi tết lại hoặc búi thành một lọn lớn phía sau, dẫu rằng đôi khi chúng vẫn được chải chuốt rất cầu kỳ cho những bữa tiệc tùng.
Dì Gitty đang đan một chiếc khăn choàng bằng len tơ cừu màu trắng. Nó được thắt nút theo cách người ta làm lưới đánh cá, sử dụng một chiếc thoi nhỏ để quấn chỉ. Chiếc khăn trông rất nhẹ nhàng và xốp mịn. Dì Gitty từng đan một chiếc bằng lụa cho người họ hàng chuẩn bị đi du hải xa, và món quà ấy đã được trầm trồ khen ngợi hết lời. Cô bé vô cùng hứng thú khi nhìn thấy điều này và lấy hết can đảm để bày tỏ thiện chí làm quen.
Chẳng mấy chốc, Dolly dẫn hai chị em đi tham quan các luống hoa. Ông Beekman có đến mười mẫu đất rộng lớn. Nơi đây trồng rau củ, ngô, khoai tây và có cả bãi chăn thả gia súc, bên cạnh thảm cỏ rộng lớn và vườn hoa rực rỡ. Cụ ông Beekman cũng đang có mặt ở đó. Cụ đã bước qua tuổi bảy mươi, người ngược lại vô cùng khỏe mạnh, cường tráng, gương mặt tròn trịa nhiều nếp nhăn cùng mái tóc bạc dày, và cụ cực kỳ yêu chiều lũ cháu. Đến năm bốn mươi tuổi cụ mới lập gia đình và người vợ kém cụ khá nhiều tuổi.
Những lối đi dài rợp bóng hoa thược dược đủ mọi màu sắc và chủng loại. Đây là loài hoa được yêu thích nhất vào mùa thu. Một bồn hoa tròn lớn trồng đầy bạc hà đất—loài hoa tỏa hương thơm ngát thu hút cả những chú chim ruồi. Đủ mọi loài hoa cổ điển đang dần trở lại thịnh hành, và bạn vẫn có thể nhận ra những vạt hoa mẫu đơn từng lẫy lừng một thời. Vào đầu mùa, người ta thường lái xe đến đây để chiêm ngưỡng những luống hoa tulip của Peter Beekman.
Xung quanh viền là những luống ngải thơm, tỏa ra mùi hương hăng nồng đặc trưng. Thời ấy, chúng ta vẫn chưa kết nối ngoại giao láng giềng thân thiết với Nhật Bản, hay học hỏi cách họ lai tạo ra những đóa cúc tuyệt mỹ đến vậy.
Cô bé dần trở nên cởi mở và trò chuyện nhiều hơn với ông Beekman. Phải biết rằng, vào thời đại đó người ta quan niệm trẻ con chỉ nên để mắt nhìn chứ không được lên tiếng, và chẳng ai trông đợi một đứa trẻ sáu tuổi lại đi quấy rầy hay pha trò giữa một phòng đầy khách khứa cả. Sự kìm kẹp ấy quả thực khiến chúng trở nên rụt rè đôi chút. Dù vậy, ông Beekman vẫn ngắt cho con bé một bó hoa cẩm chướng xinh xắn, rồi dẫn đi xem bầy vịt tuyết trắng muốt tuyệt đẹp ở chiếc ao nhỏ, một cặp vịt Muscovy khác và cả loài vịt Uyên ương quý hiếm có nguồn gốc từ Trung Quốc. Con bé hào hứng kể cho ông nghe về đàn vịt lẫn đàn gà ở Yonkers và việc nó buồn thế nào khi phải rời xa chúng.
Và rồi chú mèo Angora lông trắng mướt xuất hiện với bộ lông dài cùng đôi mắt kỳ lạ ngả sang sắc xanh biếc. Khi chú ta cất tiếng "meo meo" với giọng điệu vui thích, trông cứ như đang nói: "Ôi chủ nhân, ngài đi đâu bấy lâu nay thế? Em mừng quá khi gặp lại ngài!"
Cụ ông đứng xuống vuốt ve chú mèo, và hai "ông cháu" dường như đang trò chuyện rôm rả khi chú mèo uốn cong chiếc cỗ, cọ sát vào chân ông rồi quay qua quay lại. Sau đó, chú ta rướn người lên cao và giơ chiếc chân nhỏ xíu ra bắt tay, trông vô cùng khéo léo và đáng yêu.
Cụ nhìn Hanny với ánh mắt thăm dò rồi cất lời: "Đây là cô bé ngoan đến thăm ta đấy. Con bé yêu tất cả mọi thứ, nhất là những chú mèo con."
Chú mèo có vẻ hơi dè dặt. Hanny có chút sợ hãi trước một sinh linh kỳ lạ như vậy. Nhưng chẳng bao lâu sau, chú ta tiến lại gần, cọ quậy vào người con bé cùng tiếng kêu gừ gừ mềm mại, khiến Hanny lấy hết can đảm đưa tay chạm nhẹ vào chú.
Cụ ông Beekman vô cùng thích thú tuyên bố: "Nó thích cháu đấy. Nó hiếm khi chịu kết thân với ai lắm. Nó rất quý Dolly, nhưng lại chẳng thèm đếm xỉa gì đến Annette đâu, dù ta nghĩ chắc con bé hay trêu chọc nó. Ngoan nào Katschina," chủ nhân vừa nói vừa vuốt ve chú mèo. "Chúng ta mua cô bé này về nhé?"
Có thể bạn sẽ khó lòng tin nổi, nhưng Katschina thực sự đã gật đầu "vâng" và mỉm cười. Nụ cười ấy hoàn toàn khác với cái nhe răng của chú mèo Cheshire mà Alice từng thấy ở Xứ Sở thần tiên.
Có tiếng chân người chạy ào xuống lối mòn.
Dolly reo lên: "Cha ơi, vào uống một tách trà hoặc ly bia thôi. Stephen và em gái anh ấy không thể ở lại ăn tối được rồi. Nhưng có lẽ họ sẽ để lại cô bé út đấy—trông cha có vẻ quý con bé ra mặt cơ mà."
Hanny không muốn tỏ ra bất lịch sự và thú thật là con bé rất quý ông Beekman, nhưng còn chuyện ở lại á?—trái tim con bé như đang đánh lô tô trong lồng ngực.
Dolly cúi xuống bế thốc Katschina lên và kiêu hãnh bước đi. Hai chiếc chân trắng muốt vắt vẻo qua bờ vai cô.
Chiếc bàn dài bày biện đủ thứ: bình đun nước trà bằng đồng sáng loáng, một vại bia tự ủ bằng thiếc, bánh mì phết bơ, thịt gà và giăm bông nguội, một đĩa phô mai sữa đông lớn, bánh bông lan pound cake mềm mịn màu vàng óng, bánh trái cây, một đĩa bánh rán vòng vun cao cùng các loại bánh quy, bánh hạt. Scipio, một thiếu niên da màu, đang đi vòng quanh mời mọi người thưởng thức đồ ăn. Bà Beekman trẻ rót trà. Người mẹ ngồi gần đó. Bà có vóc dáng thấp đậm, chải tóc theo kiểu búi phồng Pompadour cao vút, và cười rất nhiều, để lộ hàm răng trắng đều khiến bà vô cùng tự hào.
Katschina ngồi gọn trên đùi chủ nhân, còn cô bé thì ngồi ngay bên cạnh. Mấy cậu nhóc được nhét đầy quà bánh vào tay rồi bị đuổi đi chơi chỗ khác. Cảnh tượng ấy xinh xắn hệt như một bức tranh, khiến cô bé cứ ngỡ mình đang đọc một cuốn truyện hấp dẫn nào đó. Một trong số những người họ hàng nhà Gessler đang miệt mài đan ren họa tiết lá sồi kép viền đăng-ten. Trông nó thật kỳ diệu trong mắt cô bé. Cô bảo cô đang đan nó để trang trí cho chiếc áo visite. Đây là một kiểu trang phục mang phong cách Pháp vừa mới thịnh hành, dẫu cô bé chẳng biết nó trông ra sao và được dạy dỗ gia giáo nên cũng không dám tò mò hỏi han. Nhưng tấm ren ấy chắc chắn là niềm khao khát của bất kỳ ai.
Họ nhâm nhi tách trà, thức uống quả mâm xôi, hoặc thưởng thức vại bia mát lạnh. Mọi người đều cười nói vui vẻ. Cô bé thầm tự hỏi sao Dolly lại dám bạo gan trêu chọc Stephen như thế trong khi họ mới chỉ quen nhau chưa lâu. Bà Beekman mãi vẫn không sao chấp nhận chuyện họ không thể ở lại ăn tối, liên mồm giục họ sắp xếp thời gian ghé chơi trọn ngày vào một dịp gần nhất, bảo Stephen đánh xe lên đón, và bày tỏ hy vọng sớm được hội ngộ bà Underhill. Bà nói thêm với giọng điệu đầy ẩn ý: "Mọi chuyện thật tuyệt vời và chúng tôi vô cùng hài lòng."
Dolly đội lại chiếc mũ cho cô bé, hôn tạm biệt và siết chặt con bé vào lòng trong một cái ôm nghẹt thở. Dì Gitty cũng thơm má con bé và khen ngợi con bé là "đứa trẻ cực kỳ ngoan ngoãn, phép tắc". Chiếc xe ngựa vòng lại và Stephen đỡ họ lên xe giữa tiếng đồng thanh chào tạm biệt vang dội.
"Trông con bé út có vẻ mong manh quá nhỉ," bà Beekman trẻ nhận xét sau khi chiếc xe đã đi khuất. "Tôi chỉ sợ con bé không được chạy nhảy nô đùa đủ độ. Nhưng phong thái giáo dục thì thật nhã nhặn. Và cha lại quấn con bé ra phết đấy chứ!"
"Cô Underhill trông chẳng giống một thiếu nữ thôn quê chính hiệu tẹo nào," một người khác bàn tán.
"Dòng họ Underhill vốn là danh gia vọng tộc từ gốc, mang dòng máu quý tộc Anh từ một vị Lãnh chúa Underhill nào đó. Họ từng là những người theo phái Bảo hoàng kiên trung."
"Còn nhà Vermilyea cũng là gốc gác danh giá," dì Gitty tiếp lời. "Chẳng gì bằng việc coi trọng gia phong nền nếp cả. Về lâu về dài, nó sẽ quyết định tất cả đấy."
Dolly vừa tiễn khách xong liền thong thả bước trở lại vòng tròn, bà Beekman cười vang bảo: "Này Dolly, tụi tao chấm hắn ta rồi đấy nhé. Đương nhiên hắn có thể giàu hơn một chút thì tốt. Nhà đông anh em quá nên mỗi người chẳng được chia bao nhiêu."
Cụ ông Beekman càu nhàu: "Stephen Underhill có tố chất để trở thành một người đàn ông vững chãi, đáng tin cậy. Nếu hắn là một kẻ vô tích sự thì đã chẳng bén mảng lảng vảng ở đây lâu đến thế, phải không Katschina? Lúc ấy ta đã đuổi khéo hắn đi rồi, đúng không nào."
Katschina uốn cong lưng. Dolly bật cười ngượng ngùng má ửng đỏ. Dù thế nào đi nữa, Stephen vẫn là tình yêu đích thực của đời cô, nhưng cô cũng vô cùng mừng rỡ khi mọi người đều quý mến anh. Với sự quyết đoán của tuổi trẻ, cô cảm thấy mình sẽ chẳng thể yêu thêm bất kỳ người đàn ông nào khác trên đời.
Stephen giật dây cương ra hiệu cho Prince, chú ngựa lúc này đã được nghỉ ngơi đầy đủ và vô cùng sung sức. Họ lái xe băng ngang qua thành phố, tới tầm khu vực cuối những con phố mang số hiệu đầu tiên của thành phố. Thế nhưng con đường phải uốn lượn vòng vèo để tránh một vùng đầm lầy thấp trũng—vốn là cái hồ nhỏ vào những ngày mưa—cùng vài mảng đá lởm chởm như bị ai hất ngược lên trời. Họ rẽ vào một đoạn của con đường mòn Boston Post Road cũ kỹ, khiến cô bé phải ngưng bặt tiếng ríu rít để nhớ đến những cụ bà họ vẫn chưa có dịp ghé thăm. Con bé phải "nhắc khéo" ký ức của tía mới được. Đó là câu cửa miệng của mẹ mỗi khi bà muốn nhắc lại những chuyện đã lãng quên phân nửa.
Stephen và Margaret từ nãy chỉ lên tiếng đáp lời cô bé. Bản thân anh chàng vẫn còn sự vụng về của một thanh niên khi đứng trước một chủ đề quá đỗi thiêng liêng trong tim. Margaret thì cảm thấy choáng ngợp trước sự nhiệm màu của tình yêu, bị cuốn hút bởi sự niềm nở của Dolly, đồng thời cũng băn khoăn không biết mẹ cô sẽ nghĩ gì về chuyện này. Stephen đã đính ước! Hoặc bất kỳ ai trong số họ kết hôn cũng vậy. Mọi thứ sao mà xa lạ và kỳ lạ đến thế! Thế mà đôi khi chính cô cũng từng thốt lên: "Đến khi mình lập gia đình..."
Quang cảnh nơi đây vẫn còn rất hoang sơ. Chắc hẳn bạn sẽ khó lòng tưởng tượng ra điều đó vào thời điểm hiện tại, khi những trũng sâu đã được san lấp, đồi núi bịạt phẳng và đá ngầm đã bị phá hủy bằng mìn. Khi họ vừa rẽ hướng, một con suối nhỏ uốn lượn chảy luồn lách qua những hàng cây và bụi rậm. Giữa đám cây cối um tùm rậm rạp, cô bé chợt tinh mắt phát hiện ra vài đóa hồng dại.
"Ồ, anh Steve!" con bé reo lên, "em xuống hái vài bông được không ạ?"
"Để anh." Anh trao dây cương cho Margaret rồi nhanh nhẹn nhảy xuống xe, chạy qua chiếc cầu nhỏ và chẳng mấy chốc đã gom được một bó hoa to.
"Ôi, em cảm ơn anh," đôi mắt con bé ánh lên niềm vui sướng. "Cái cầu nhỏ trông ngộ nghĩnh làm sao."
"Đó là Cầu Hôn đấy."
"Mình phải hôn ai ở đây hả anh?" cô bé khúc khích hỏi.
Ánh mắt anh lấp lánh nét tinh nghịch: "À, từ rất lâu rồi, chắc là từ thời Thống đốc Van Twiller ấy nhỉ, khi đó chưa có cây cầu nào cả. Những đôi tình nhân thường bế người yêu qua suối, và "phí qua cầu" chính là một nụ hôn."
"Nhưng lúc đó làm gì có cây cầu hôn nào đâu ạ," con bé ranh mãnh vặn lại.
"Đến khi cầu được xây lên, họ vẫn dừng lại và trao nhau nụ hôn để tưởng nhớ đấy thôi."
"Chuyện đó có thật không chị Margaret?"
"Chị chỉ biết nó được gọi như thế từ thủa bé đến giờ."
Stephen làm bộ điệu tổn thương lòng tự trọng: "Đúng là cô em gái tệ bạc, chẳng chịu tin anh gì cả! Trong khi anh lớn hơn Margaret nhiều tuổi cơ mà."
Con bé với tay véo má anh rồi cười vang: "Anh chẳng bế em qua cầu, nhưng anh đã hái hoa hộ em, thế nên cứ nhận nụ hôn này bù lại nhé." Và cả hai cùng bật cười rạng rỡ.
Họ tiếp tục xuôi dòng Broadway rẽ sang đường Bleecker rồi trở về nhà. Cha Underhill đang ngồi ngoài hiên đọc báo. Cậu út Jim lanh chanh xin phép dắt ngựa ra chuồng. Margaret chạy vội lên lầu để cởi chiếc váy đẹp ra và thay bộ đầm vải sọc hồng thường ngày. Khi cô vừa kịp hoàn tất và cất tiếng gọi Hanny, Stephen đã chớp thời hiệu vòng tay ôm trọn cô vào lòng.
"Peggy thân yêu của anh—chắc em đã đoán ra rồi chứ."
"Ôi, Stephen! Mọi thứ nghe sao mà lạ lẫm quá. Có thật vậy không anh? Em chưa từng mơ đến..."
"Anh đã phải lòng Dolly từ nhiều tháng trước. Lại có bao nhiêu kẻ ve vãn cô ấy nên anh chẳng dám ôm nhiều hy vọng. Nhưng tình yêu có thứ linh tính kỳ lạ của nó, và chẳng mấy chốc anh nhận ra cô ấy hướng về phía anh nhiều hơn. Dù mãi đến tối chủ nhật anh mới chính thức ngỏ lời. Và tất cả mọi người đều đồng ý. Tụi anh đã chính thức đính hôn rồi đấy."
Margaret nghẹn ngào: "Ôi, Stephen! Phải xa anh sao!"
Đó luôn là phản xạ tự nhiên đầu tiên của bất kỳ thành viên nào trong gia đình.
"Em không phải mất anh đâu. Tụi anh sẽ đính hôn một thời gian dài; chắc chắn là phải một năm."
"Nhưng còn... cha—và chuyện chúng ta đến đây."
Stephen dịu dàng thuyết phục, dẫu thừa biết cô chẳng thể từ chối mình: "Mọi thứ vẫn ổn cả thôi. Chẳng có gì thay đổi đâu. Chỉ là em sẽ có thêm một người chị mới. Ổ, Peggy, hãy cố gắng yêu thương cô ấy nhé."
"Cô ấy rất đáng yêu."
"Đáng yêu ư? Cô ấy chính là sự kết hợp hoàn hảo của kem tươi, hoa hồng và tất cả những điều ngọt ngào nhất trên đời này cộng lại! Anh nói thật đấy Peggy, anh là một tên đàn ông cực kỳ may mắn. Đương nhiên ban đầu mọi thứ sẽ có chút bỡ ngỡ. Nhưng rồi sẽ có ngày em cũng tìm thấy câu chuyện tình yêu của riêng mình, chỉ là anh tin em không thể thấu hiểu hết cảm giác hạnh phúc nhường nào của kẻ may mắn có được trái tim em đâu. Con gái vốn thế mà. Và em sẽ giúp anh làm dịu lòng mẹ nếu bà có chút hờn dỗi ban đầu chứ? Dolly rất muốn nhận được tình yêu thương từ tất cả mọi người trong nhà. Cô ấy rất ngưỡng mộ Joe, và tất cả bọn họ đều tự hào về anh ấy."
Tiếng chuông báo bữa tối vang lên đầy giục giã. Stephen hôn lên trán em gái và ôm siết cô trong niềm hạnh phúc vô bờ.
Hanny chạy lên lầu và Margaret nhanh chóng hoàn tất phần thay trang phục.
Bà mẹ cất giọng phàn nàn đầy gay gắt: "Mẹ cứ ngưởng con chẳng thèm xuống nữa chứ. 'Milyer ạ, con là đứa tệ nhất nhà mỗi khi dán mũi vào mấy tờ báo đấy. Mấy đứa con trai ngồi im xem nào, dẫu mẹ biết tụi bây đói ngấu đói nghiến rồi," bà liếc nhìn đám trẻ với vẻ trách móc vì tội làm chậm trễ bữa ăn.
Cô bé út đã ăn quá nhiều những chiếc bánh quy thơm ngon nên chẳng thấy đói chút nào. Thế là con bé hào hứng kể cho cha nghe về những hàng thược dược dài bất tận, chú mèo kỳ lạ với bộ lông mềm mượt khác hẳn mèo nhà mình, đôi mắt xanh biếc một cách kỳ diệu và có thể hiểu tuốt tuột những gì người ta nói với nó. Rằng ông Beekman rất tốt bụng, dù không thể bằng cha được. Mấy cậu con trai thì vừa lùn vừa buồn cười. "Và em không nghĩ mình thích mấy cậu nhóc tì đâu. Jim và Benny, Frank cùng tất cả các anh mới là tuyệt nhất. Chắc tại vì các anh lớn cả rồi."
Cả nhà được một trận cười thả ga trước câu nói ấy.
Sau đó, con bé ngồi gọn trên đùi cha và tiếp tục câu chuyện ngộ nghĩnh của mình, cho đến khi mẹ bước đến kéo phắt con bé ra và cằn nhằn: "Mẹ thật không hiểu nổi con nữa 'Milyer, có khi con định bắt con bé thức trắng đêm luôn quá."
Lát sau, ông Underhill bước ra hiên trước ngồi trò chuyện dài dài cùng Stephen, trong khi Margaret ngồi vào đàn piano để bù lại quãng thời gian buông thả buổi chiều; nhưng giữa ánh sáng mờ ảo dịu ngọt ấy, hình ảnh Dolly Beekman hiện lên với đôi mắt biết cười cùng vương miện mái tóc óng ánh, và cô thầm tin chắc cô ấy sẽ là một người chị tuyệt vời. Bà Underhill ngồi vá tất bên cạnh và thở dài khe khẽ. Dù vậy, sâu thẳm trong lòng bà vẫn thầm tự hào về Margaret, dẫu cho con bé có theo học tiếng Pháp hay âm nhạc đi chăng nữa. Liệu những điều ấy có bao giờ giúp ích gì cho việc quản lý một gia đình hay không vẫn là một dấu hỏi lớn. Xưa nay thời gian đâu để con bé bận tâm đến những thứ ấy cơ chứ?