Cao nguyên Xuyên Tạng vào thu, bầu trời xanh biếc lững lờ trôi những đám mây trắng, những rặng núi tuyết chọc trời tỏa ánh hoàng kim rực rỡ dưới ánh nắng chói chang. Những cánh đồng xanh mướt, dòng nước Nhã Lung giang cuộn trào, đẹp như thơ như họa, khiến lòng người sảng khoái, ngỡ như bước vào chốn bồng lai tiên cảnh nơi trần thế mà người đời hằng mơ ước – Shangri-La.
Vào một ngày đẹp trời như thế, một chiếc xe jeep màu trắng sữa chạy qua huyện lỵ Cam Tư với những dãy nhà tầng san sát, băng qua những cánh đồng lúa mạch mơn mởn, lao nhanh về phía thôn Húc Nhật Lý.
Trong xe có Trạch Nhân Na Mỗ – nguyên Phó Bí thư Địa ủy Tây Tạng – cùng cô con gái nhỏ Ương Kim Trác Mã, ngoài ra còn có phóng viên Tiểu Chu của một tòa soạn báo ở tỉnh lỵ và Trạch Vượng, một cán bộ thuộc cơ quan văn hóa địa phương.
Ương Kim Trác Mã vô cùng hào hứng nhìn ra ngoài cửa sổ xe và nói: "A má la! (La, từ tôn kính trong tiếng Tạng) Mẹ nhìn cánh đồng xanh ngắt kia kìa, giống như một tấm thảm lớn trải dài từ ven sông Nhã Lung đến tận chân núi tuyết, trông hệt như thung lũng sông Lhasa vào mùa thu, đẹp quá chừng!"
Trạch Nhân Na Mỗ nói với giọng đầy lưu luyến: "Đúng vậy! Trong mắt những người con xa xứ, mẹ quê hương lúc nào cũng đẹp...". Đúng lúc ấy, trên ruộng lúa mạch bên vệ đường, một cô gái đang nhổ cỏ yến mạch cất giọng lảnh lót, ngân vang hát một bài dân ca cổ của địa phương:
Quê hương tôi đẹp như đóa hoa Cách Tang,
Trông thấy hoa Cách Tang,
Lòng tôi lại nhớ về quê hương...
"Bác tài ơi, làm ơn cho xe chạy chậm lại một chút được không?" Trạch Nhân Na Mỗ quay sang khẽ nhờ người lái xe.
Chiếc xe chầm chậm lăn bánh, mọi người tiếp tục lắng nghe cô gái hát:
Quê hương tôi thuần khiết tựa ngọc quý,
Trông thấy ngọc quý,
Lòng tôi lại nhớ về quê hương...
"Hát hay quá!" Nữ phóng viên chân thành khen ngợi. Khi chiếc xe tăng tốc lao nhanh về phía trước, cô nói tiếp: "Hồi còn ở Thành Đô, tôi đã nghe một người bạn kể rằng người Khang Ba giỏi múa hát, nay đến châu Cam Tư tận mắt chứng kiến, quả đúng như vậy."
Ương Kim Trác Mã tự hào đáp: "Chị chưa nghe câu người Khang Ba chúng tôi biết đi là biết múa, biết nói là biết hát sao?"
"Nói vậy tuy có phần khoa trương, nhưng ca múa quả thực đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người Khang Ba, đặc biệt là trong thời buổi hôm nay." Vượng Trạch ngồi ở ghế phụ lái chen vào nói.
"Bí thư Na Mỗ, đã lâu rồi bác chưa về lại Cam Tư phải không ạ?" Xuất phát từ thói quen nghề nghiệp, phóng viên rất biết tranh thủ thời gian để thu thập tư liệu.
"Phải rồi." Vẫn còn đắm chìm trong tiếng hát mang đậm phong vị quê hương, Trạch Nhân Na Mỗ như choàng tỉnh, nói: "Bây giờ về Cam Tư tiện hơn nhiều rồi. Năm 1950 khi tiến vào Tây Tạng, giao thông vô cùng cách trở, từ Cam Tư đến Lhasa vừa đi vừa nghỉ, ròng rã suốt hơn hai tháng trời. Đến năm 1954 khi quốc lộ Xuyên Tạng thông xe, đi xe từ Lhasa về cũng mất hơn mười ngày, đôi khi gặp phải lũ bùn đá hay sạt lở, đường bị chia cắt thì có khi phải hơn một tháng mới về tới Cam Tư. Sau này, Lhasa có tuyến bay, đi máy bay từ Lhasa đến Thành Đô, rồi từ Thành Đô đi xe về Cam Tư chỉ mất hai, ba ngày. Còn bây giờ, bay từ Lhasa đến Bangda rồi đi xe về Cam Tư thì thời gian lại càng ngắn hơn nữa, cho nên cứ ba đến năm năm tôi lại về một lần. Dẫu vậy, khi ở Tây Tạng, tôi vẫn thường xuyên nhớ về quê hương, những lúc ấy thèm được hít thở bầu không khí trong lành nơi đồng ruộng quê nhà, thèm được uống một bát trà bơ thơm lừng ở bản làng biết bao!"
"Bây giờ thì mong ước ấy đã thành hiện thực rồi!" Phóng viên cảm thán: "Bí thư Na Mỗ, bác có thấy quê mình dạo này thay đổi nhiều không?"
"Nhiều chứ, thay đổi lớn lắm!" Na Mỗ khẳng định: "Đúng là mỗi năm một khác. Hôm nay nếu không nhờ có Trạch Vượng la dẫn đường, khéo tôi còn chẳng tìm được đường đến Nhà tưởng niệm Cách Đạt Hoạt Phật ấy chứ!"
"A! Sắp đến nơi rồi." Trạch Vượng nói: "Mọi người nhìn kìa, đằng kia chẳng phải là Nhà tưởng niệm Tổng tư lệnh Chu và Cách Đạt Hoạt Phật sao?"
Mọi người nhìn theo hướng tay Trạch Vượng chỉ, thấy một khu vườn rợp bóng cây xanh cách đó không xa về phía trước bên tay phải. Chiếc xe tiến lại gần rồi dừng trước cổng khu tưởng niệm. Nhân lúc mọi người đang ngắm nhìn bức hoành phi phía trên cổng có đề dòng chữ "Nhà tưởng niệm Tổng tư lệnh Chu và Đời thứ năm Cách Đạt Hoạt Phật" do Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đích thân đề bút, phóng viên vội vã đưa toàn cảnh khu tưởng niệm vào ống kính.
Mấy ngày trước, trong thời gian tham dự lễ hội nghệ thuật ở Khang Định, phóng viên đã nắm được một manh mối quan trọng: Châu và huyện Cam Tư đã xây dựng một "Nhà tưởng niệm Tổng tư lệnh Chu Đức và Đời thứ năm Cách Đạt Hoạt Phật" ngay tại thôn Húc Nhật Lý ngoại ô huyện lỵ Cam Tư – nơi sinh của Cách Đạt Hoạt Phật đời thứ năm chùa Bạch Lợi, điều này cho thấy rõ vị trí thiêng liêng của Tổng tư lệnh Chu Đức và Cách Đạt Hoạt Phật đời thứ năm trong lòng nhân dân các dân tộc vùng Khang Ba. Sau khi đến Cam Tư, cô đi sâu vào các ngõ xóm và những hộ nông dân gần huyện lỵ, kinh ngạc phát hiện ra trên tường phòng khách của rất nhiều gia đình đều treo chân dung của Tổng tư lệnh Chu Đức và Cách Đạt Hoạt Phật đời thứ năm. Mỗi khi nhắc đến Cách Đạt Hoạt Phật đời thứ năm, từ già đến trẻ không ai là không hết lời ngợi ca. Mọi người với niềm tôn kính vô biên, kể lại từng câu chuyện nhuốm màu huyền thoại về ngài. Một ông cụ người Tạng còn ca tụng Cách Đạt Hoạt Phật là "người anh hùng của cao nguyên chúng ta, niềm tự hào của nhân dân Khang Ba". Để có thể phỏng vấn một cách hệ thống và trọn vẹn về cuộc đời và sự nghiệp của ngài, cô đã thông qua Trạch Vượng để tìm đến Trạch Nhân Na Mỗ – người vừa từ Tây Tạng về Cam Tư thăm quê – và hẹn nhau hôm nay cùng đi xe tới khu tưởng niệm.
Trạch Vượng dẫn mọi người bước vào nhà tưởng niệm, trước tiên là chiêm bái bức tượng sống động như thật của Tổng tư lệnh Chu Đức. Trạch Nhân Na Mỗ bùi ngùi: "Năm xưa khi Tổng tư lệnh Chu dẫn dắt Hồng quân Trường chinh đi qua Cam Tư, tôi còn chưa ra đời! Lần đầu tiên tôi tận mắt thấy ngài là vào những năm 60, khi tôi đến Học viện Dân tộc Trung ương học tập lần thứ hai. Thế nhưng cụ đã rời xa chúng ta từ năm 1976 rồi. Nếu cụ còn sống đến ngày hôm nay, trở lại mảnh đất Cam Tư nơi cụ từng cùng Hồng quân chiến đấu, nhìn thấy những đổi thay nghiêng trời lệch đất nơi này, chắc hẳn cụ sẽ cảm thấy vô cùng an lòng."
Tiếp đó, mọi người lặng lẽ chiêm bái bức tượng của Cách Đạt Hoạt Phật đời thứ năm. Trạch Nhân Na Mỗ xúc động nói: "Tượng của Cách Đạt Hoạt Phật đắp khéo quá, y hệt như lúc tôi gặp ngài trước khi nhập ngũ vào năm 1950."
Ương Kim Trác Mã nói: "A má la, mẹ từng bảo hồi đó mẹ mới mười bốn tuổi, vậy mà đến giờ mẹ vẫn nhớ rõ thế ư!?"
"Phải chứ, Cách Đạt Hoạt Phật luôn sống mãi trong lòng người dân cao nguyên Xuyên Tạng chúng ta. Hình tượng cảm động của một con người hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng hòa bình Tây Tạng sẽ mãi khắc sâu trong tâm khảm mọi người."
Trạch Vượng đứng bên cạnh tiếp lời: "Mời mọi người uống chén trà đã, rồi hãy để Bí thư Na Mỗ kể cho chúng ta nghe những câu chuyện về Cách Đạt Hoạt Phật nhé!"
Nhân viên khu tưởng niệm mời mọi người ngồi xuống quanh chiếc bàn kiểu Tạng được bày trên bãi cỏ giữa rừng cây, sau đó bưng lên mời khách các món thịt bò khô, bánh sữa, hoa quả cùng điểm tâm, rồi rót đầy những chén trà bơ thơm nồng.
Trạch Nhân Na Mỗ bưng chén trà bơ lên, thong thả nhấp một ngụm rồi tấm tắc: "Nước quê mình lúc nào cũng ngọt lành như thế!"
Phóng viên mỉm cười: "Tục ngữ có câu 'Chẳng đâu đẹp bằng nước quê nhà'! À đúng rồi, Bí thư Na Mỗ, ban nãy ở trên xe bác chẳng phải nói Cách Đạt Hoạt Phật sinh ra ngay tại đây sao ạ?"
Trạch Nhân Na Mỗ hồi tưởng: "Đúng vậy, Cách Đạt Hoạt Phật sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở hương Sắc Tây Đễ, bờ tây sông Nhã Lung này. Lên bảy tuổi, ngài được công nhận là Hoạt Phật của chùa Bạch Lợi. Mười bảy tuổi, ngài đến chùa Ganden ở Lhasa để học kinh thư, tám năm sau đạt được học vị Lharampa Geshe rồi trở về chùa Bạch Lợi. Ngài luôn nghiêm thủ giới luật nhà Phật, sống giản dị, thấu hiểu nỗi khổ của quần chúng, thường xuyên cứu tế người nghèo, cưu mang dân tị nạn và trẻ mồ côi, được bách tính hết lòng kính trọng và yêu mến." Trạch Nhân Na Mỗ nhấp thêm một ngụm trà rồi nói tiếp: "Vào tháng 8 năm 1935, trên đường Hồng quân Công Nông Trung Quốc thực hiện cuộc Trường chinh, Trương Quốc Đào tự ý dẫn dắt Tả lộ quân cùng một bộ phận Hữu lộ quân tiến xuống phía nam, tại khu vực biên giới Xuyên - Khang đã bị Tưởng Giới Thạch chặn đánh và bao vây tiêu diệt. Trải qua nhiều ngày chinh chiến, tổn thất vô cùng nặng nề, buộc phải rút lui về khu vực Cam Tư. Toàn quân rơi vào tình thế gian nan, muôn phần nguy cấp... Đúng lúc ấy, các đồng chí lãnh đạo đang công tác trong Tả lộ quân như Tổng tư lệnh Chu Đức, Tổng tham mưu trưởng Lưu Bá Thừa đã dẫn dắt đông đảo cán bộ, chiến sĩ Hồng quân, vừa chấn chỉnh hàng ngũ bộ đội, vừa gương mẫu chấp hành 'Ba kỷ luật lớn, Tám điều chú ý', tích cực tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, vận động quần chúng phát động đấu tranh chống phong kiến, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, ra sức giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất. Nhờ vậy, quân đội đã nhận được sự hoan nghênh, ủng hộ nhiệt liệt cùng sự trợ giúp to lớn của đông đảo quần chúng nhân dân và các nhân sĩ yêu nước thuộc tầng lớp trên của các dân tộc, thắt chặt mối ân tình sâu nặng với họ. Trong số những nhân sĩ yêu nước tầng lớp trên ấy, Cách Đạt Hoạt Phật đời thứ năm của chùa Bạch Lợi tại Cam Tư chính là một trong những đại biểu kiệt xuất nhất. Câu chuyện về ngài, tôi xin được bắt đầu từ thời điểm trước thềm mùa xuân năm 1936, khi Hồng quân vừa tiến tới Cam Tư!"