Sự xuất hiện của một người tha phương chơi nhạc là một điều hiếm thấy tại ngôi làng Scarcombe. Thực tế, trong ký ức của những bậc cao niên nhất trong làng, chưa từng có ai bắt gặp cảnh tượng tương tự. Người dân bàn tán không ngớt với nhau rằng điều gì có thể đã đưa hắn đến chốn này. Chắc chắn chẳng có ai ở ngôi làng này biết khiêu vũ, và số tiền ít ỏi kiếm được từ việc kéo vĩ cầm cũng chẳng bõ công sức hắn bỏ ra. Hơn nữa, Scarcombe vốn là một vùng đất tiêu điều, và người đàn ông trông có vẻ tàn tạ, kiệt quệ bởi những giông bão cuộc đời. Quả thực, hắn dường như sắp chẳng thể trụ vững được nữa; hơi thở gấp gáp và những trận ho khan hành hạ hắn không nguôi.
Ðiều khiến dân làng ngạc nhiên là hắn không hề có ý định chơi đàn mua vui hay ngửa tay xin bố thí dưới bất kỳ hình thức nào. Hắn đã thuê một gian phòng nhỏ trong căn nhà của một ngư dân, và vào những ngày thời tiết đẹp, hắn thường cùng đứa con trai chừng năm tuổi đi dạo ra các vùng hoang mua rồi nằm thừ ra đó, tự mình tấu lên những khúc ca êm dịu. Cứ thế, hắn sống qua ba tuần; rồi biến cố bất ngờ giáng xuống. Sáng hôm ấy, đứa trẻ từ trong phòng chạy òa ra, khóc lóc gọi rằng bố đang ngủ mà em không sao lay dậy được; và khi người chủ nhà bước vào, ông thấy vị nhạc công đã trút hơi thở cuối cùng từ cách đó vài tiếng. Có lẽ cái chết đã đến với chính người nghệ sĩ một cách đột ngột, bởi trong số ít ỏi tư trang để lại của hắn, chẳng tìm thấy mẩu giấy hay ghi chép nào hé lộ về tung tích thân nhân của đứa trẻ, cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào về tương lai của cậu bé. Dĩ nhiên, vị mục sư được mời đến để xin ý kiến về việc phải giải quyết ra sao. Ông vốn là một người nhân hậu, liền tình nguyện mai táng cho người nhạc công xấu số mà không lấy bất kỳ khoản phí nào.
Sau tang lễ, một vấn đề khác lại nảy sinh: Phải định đoạt ra sao đối với đứa trẻ?
Cậu bé là một đứa trẻ có diện mạo khôi ngô, bộc trực, sớm phơi bày sự già dặn và cứng cáp vượt quá tuổi nhờ cuộc đời rày đây mai đó cùng người cha. Người ta tìm thấy mười lăm bảng trong rương đồ của người quá cố. Tuy nhiên, số tiền này sẽ lọt vào tay giới chức tế bần nếu họ tiếp nhận nuôi nấng cậu. Các lão ngư trong làng bèn tổ chức một buổi họp bàn không chính thức.
— Thật tội nghiệp cho thằng bé, — một người cất lời. — Tôi dám chắc cha nó định nói cho nó biết nơi tìm kiếm họ hàng, ngặt nỗi cái chết đến quá đột ngột. Ở đây có mười lăm bảng. Các anh sẽ bảo số tiền chẳng đáng là bao, và đúng là thế thật. Nó có thể duy trì được một năm, hoặc chăng là mười tám tháng, nhưng rồi sau khoảng thời gian ấy, tình cảnh của thằng bé cũng sẽ bi đát y như bây giờ thôi.
— Hay là giao nó cho John Hammond đi, — một người khác hiến kế. — Hắn vừa mất thuyền lẫn lưới ba tuần trước, dẫu trong tay vẫn dành dụm được chút ít tiền, nhưng chừng đó chẳng đủ để sắm lại ngần ấy thứ. Biết đâu hắn sẽ nhận nuôi đứa trẻ để đổi lấy mười lăm bảng kia. Mụ vợ hắn cũng rảnh rỗi, chẳng mấy chốc sẽ sai khiến thằng bé làm dăm việc vặt được. Bản thân John lại là kẻ tốt bụng, chắc chắn sẽ đối xử tử tế với nó, và chỉ dăm năm nữa thôi, thằng bé sẽ trở thành một tay chân đắc lực trên thuyền của hắn.
Người ta liền cho gọi John Hammond đến và đặt vấn đề với anh ta.
— Chà, — anh ta đáp, — tôi nghĩ mình có thể cáng đáng được, và số tiền ấy quả thực rất hữu dụng với tôi lúc này; nhưng luật pháp ra sao đây? Lỡ chuyện này đồn ầm lên, nhà xứ lại chẳng quay sang đòi lại tiền từ tôi đấy chứ?
— Đúng thế đấy, John ạ, — một người khác tiếp lời. — Sách lược hay nhất là anh cùng hai người chúng ta đến gặp mục sư, hỏi cho ra ngô ra khoai xem sự tình thế nào. Nếu ngài ấy bảo ổn thỏa cả, thì anh cứ yên tâm mà lo liệu.
Khi được thỉnh thị, vị mục sư bày tỏ quan điểm rằng sự sắp xếp này là vô cùng hợp lý. Giới chức nhà xứ vốn chưa từng phải bỏ một cắc tiền nào để lo ma chay cho người cha, nên họ chẳng có quyền can thiệp vào chuyện này, trừ khi họ phải gánh vác trách nhiệm nuôi dưỡng đứa trẻ. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào nổ ra, chính ông sẽ đứng ra khẳng định rằng bản thân đã trực tiếp xem xét ngọn nguồn và hoàn toàn ủng hộ phương án ấy, bởi ông tin nó mang lại lợi ích cho cả đôi bên lẫn đứa trẻ; vì nếu nhà xứ nhận nuôi cậu bé, họ sẽ phải đùm bọc nó ít nhất là mười năm, rồi sau đó còn phải tốn tiền đi học nghề thay vì để nó tự lập.
Thế là cậu bé được giao phó cho John Hammond. Với bản tính hồn nhiên vốn có của tuổi thơ, William Gilmore — đó là cái tên thuận miệng nhất được chắt lọc từ những gì cậu tự xưng — chẳng mấy chốc đã cảm thấy thân thuộc như ở nhà dưới mái tranh của người ngư dân. Đây quả là một sự đổi đời dễ chịu đối với cậu sau chuỗi ngày lang bạt cùng cha tận sâu trong ký ức. Mụ vợ tuy có vẻ thô lỗ nhưng lòng dạ tốt bụng, chẳng mấy chốc đã sai vặt cậu những việc nhỏ nhặt. Vào những ngày giặt giũ, mụ bắt cậu canh chừng cái vạc nước và báo cho mụ khi nào nước sôi. Những lúc không phải bận bịu, mụ cho phép cậu ra ngoài chơi đùa cùng đám trẻ trạc tuổi.
Đôi khi vào những ngày thời tiết đẹp, John — người đã vô cùng quý mến cậu bé vì vốn chẳng có lấy một mụn con — lại đưa cậu theo cùng những chuyến đánh cá, mang lại cho đứa trẻ niềm vui sướng tột cùng. Sau một năm sống như vậy, cậu được cho đi học trường làng, dẫu điều đó chẳng mấy hợp với sở thích của cậu. May mắn thay cho cậu ở chỗ, tại đây cậu đã lọt vào mắt xanh của con gái vị mục sư, một thiếu nữ mười sáu tuổi. Dĩ nhiên, nàng tường tận câu chuyện của cậu và dâng tràn một nỗi niềm thương cảm sâu sắc. Nàng vốn mang máu lãng mạn, tự mình thêu dệt nên biết bao giả thuyết để lý giải cho sự xuất hiện của cậu bé tại ngôi làng này. Đôi khi cha nàng phải phì cười mỗi khi nàng kể lại những câu chuyện đó cho ông nghe.
— Con gái yêu của ta, — ông nói, — chẳng cần phải đi xa đến thế để lý giải về lai lịch của người nhạc công tha phương khốn khổ ấy. Con bảo rằng trông hắn giống một quý ông sa cơ lỡ vận; có hàng ngàn con người như thế trên đất nước này, bọn bất tài vô tích sự, những kẻ đã làm kiệt quệ sự kiên nhẫn của mọi bè bạn và cuối cùng rẽ sang một lối sống cho phép họ hưởng chút tự do cùng khoản mưu sinh vừa đủ đắp đổi qua ngày. Chính từ những con người ấy mà tầng lớp lang thang tứ xứ đã phình to lên đáng kể. Rất nhiều kẻ tương tự đang đánh xe ngựa thuê tại các đô thị lớn; một số khác gia nhập quân ngũ; nhưng dẫu họ ở đâu, làm bất cứ việc gì đi nữa, họ vẫn cứ bám trụ ở tận đáy xã hội mà thôi. Họ chẳng hề có chút chí hướng vươn lên những điều tốt đẹp hơn. Họ lao động vất vả chẳng kém gì những kẻ có công ăn việc làm ổn định, nhưng lại thà gặm nhấm miếng bánh mì khô với sự tự do của chính mình còn hơn là nhận một bữa ăn thịnh soạn do chính sức lao động đều đặn làm ra. Ta đồng ý với con ở điểm hình như người đàn ông này từng trải qua thời hoàng kim; ta có thể bước cùng con đến mức thừa nhận rằng hắn từng lui tới những tầng lớp tao nhã nào đó; nhưng nếu dò đến tận gốc rễ sự thật, ta đoan chắc rằng chúng ta sẽ chỉ nhận ra hắn ta đã phung phí từng cơ hội, tuyệt giao với mọi bằng hữu, và rồi sau khi tự cắt đứt mọi vướng bận, hắn đã dấn thân vào cõi đời của một kẻ lãng du. Chẳng thể cứu vãn gì được cho một con người như thế; nhưng ta hy vọng rằng đứa trẻ, dẫu khởi đầu trong hoàn cảnh bần hàn hơn cha nó gấp bội, một ngày nào đó sẽ tự kiếm sống bằng bàn tay lương thiện trong chính vị trí mà số phận đã an bài.
Tuy nhiên, sự quan tâm mà cô Warden dành cho cậu bé vẫn không hề thuyên giảm, và điều đó mang lại những tác động vô cùng hữu ích cho cậu. Nàng thuyết phục cậu đến nhà xứ mỗi ngày nửa tiếng để nàng kèm cặp bài vở, dạy dỗ cậu theo một phương pháp hoàn toàn khác xa với lối giáo dục hời hợt của mụ già ở trường làng. Nàng thúc giục cậu bằng cách bảo rằng nếu chăm chỉ học hành, một ngày nào đó cậu sẽ có thể vươn lên một địa vị cao sang hơn là một gã ngư dân làng chài. Cha cậu, không còn nghi ngờ gì nữa, từng được thụ hưởng một nền giáo dục tươm tất, nhưng vì những hoàn cảnh vượt ngoài tầm kiểm soát mà ông buộc phải rẽ sang con đường của một tay nhạc công rong ruổi, và nàng chắc chắn rằng điều mong mỏi thiết tha nhất của ông chính là việc con trai mình có thể tạo lập được một vị thế vững chắc trong cuộc đời khi trưởng thành.
Dưới sự kèm cặp của cô Warden, cậu bé tiến bộ vô cùng nhanh chóng, và chưa đầy hai năm sau, cậu đã vượt xa phần đông đám trẻ trong làng. Tuy vậy, theo lời khuyên của cô Warden, cậu giữ kín điều đó. Đến năm mười tuổi, việc học hành chính quy của cậu bị ngắt quãng rất nhiều, bởi người ta cho rằng khi một đứa bé đã đạt đến độ tuổi ấy thì đây chính là lúc thích hợp để bắt đầu phụ giúp cha nuôi trên thuyền. Cậu lấy làm vui mừng vì sự tự do và cảm giác mình có thể làm ích cho đời, nhưng cứ đến tối khi đã về nhà, hoặc những lúc thời tiết xấu không thể ra khơi, cậu lại lén lút trốn mọi người để đến nhà cô Warden thụ giáo, rồi sau đó lại ngả mình trên chốn hoang mua miệt mài bên những trang sách.
Giờ đây, cậu đã được kết nạp vào hàng ngũ những kẻ canh gác. Cậu từng nghe không ngớt những lời thì thầm giữa đám con trai về công tác cảnh giới phải duy trì đối với lực lượng hải quan, cùng những câu chuyện ly kỳ về các cuộc phiêu lưu thoát thân ngoạn mục của đám ngư dân. Nợ nước buôn lậu quả thực được tiến hành với quy mô lớn trên toàn bộ bờ biển Yorkshire, và những chuyến hàng đôi khi vẫn lọt qua ngay dưới mũi các quan thuế vụ nhờ biết bao mưu mẹo tinh vi đánh lạc hướng họ. Trước khi một con thuyền kịp cập bến, những lời đồn thổi sẽ được tung ra về ý định đổ bộ hàng hóa tại một địa điểm xa xôi nào đó, và một ngọn đèn ẩn hiện đầy bí ẩn sẽ được thắp lên theo hướng ấy bởi những chiếc thuyền đánh cá. Dù vậy, đôi khi bọn buôn lậu vẫn bị tóm quả tang, để rồi kết cục là những cuộc giao tranh đẫm máu, kết thúc bằng việc ít nhất một số kẻ tham gia bị bắt tống giam và sau đó bị đày ra khơi trên một chiến hạm của hoàng gia.
Giờ đây, Will Gilmore đã được nhận làm chân phụ việc trong những phi vụ ấy, và thường thì vào ban đêm, cậu sẽ cắt cử canh chừng một nhân viên thuế vụ nào đó, hễ thấy hắn nhích chân khỏi tuyến tuần tra quen thuộc là nhanh chóng mang tin về làng. Cả chục đứa trẻ được bố trí làm nhiệm vụ này, nhờ đó mà bất kỳ động thái nào hé lộ sự tập trung lực lượng của đội tuần duyên đều gần như chắc chắn bị vô hiệu hóa. Hoặc là con tàu đang ngóng đợi sẽ được ra hiệu tản đi bằng đèn tín hiệu, hoặc nếu việc tập trung lực lượng để lộ ra khoảng trống tại địa điểm chọn làm bãi đáp, thì hàng hóa sẽ lập tức được chuyển lên bờ.
Cứ thế, thêm năm năm nữa trôi qua. Will giờ đây đã là một thiếu niên vạm vỡ. Người bạn thân thiết của cậu, cô Warden, nay chẳng còn gì nhiều để dạy thêm cho cậu nữa, nhưng nàng vẫn thường gọi cậu đến vào mỗi buổi tối để trò chuyện.
— William à, ta e rằng nạn buôn lậu ở đây đang diễn ra hết sức hoành hành, — nàng nói vào một buổi tối nọ. — Tuần trước đã xảy ra một trận ẩu đả, ba người trong làng thiệt mạng và vài kẻ bị bắt tống giam. Thật là một cục diện tồi tệ hết chỗ nói.
William không đáp ngay lập tức. Đối với cậu, việc buôn lậu có điều gì sai trái là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ. Cậu xem đó chỉ là một cuộc đấu trí thuần túy giữa lực lượng tuần duyên và đám ngư dân, và từng tìm thấy niềm vui thích tột cùng khi qua mặt được những kẻ gác mốc.
— Nhưng buôn lậu đâu có gì là xấu đâu, thưa cô Warden. Hầu như ai ở đây cũng nhúng tay vào, và tất cả đám nông dân xung quanh đều đánh xe ngựa ra đón một khi có tin cãi tuyến vận chuyển hàng về.
— Nhưng nó hoàn toàn sai trái, William ạ, và việc có quá nhiều kẻ sẵn sàng hùa theo không hề minh oan hay làm giảm nhẹ bản chất của nó. Lập bè kết phái để qua mặt Ngân khố của Nhà vua, và qua đó trút thêm gánh nặng thuế má lên những kẻ làm ăn lương thiện, đó là hành vi phạm pháp. Lẩn tránh thuế vụ cũng là một tội trộm cắp chẳng khác nào khoắng sạch tài sản trong một ngôi nhà, và cha ta vô cùng đau đớn khi thấy các giáo dân của ngài, dẫu vốn dĩ là những con người chân chất, kính Chúa, lại nhúng tay vào những việc làm như thế, minh chứng rõ rành rành là biết bao người trong số họ đã dính líu vào vụ ẩu đả tuần qua. Ngài chỉ nhẫn nhịn không dám đứng trên bục giảng để tố cáo nó vì sợ rằng làm thế sẽ đánh mất tình cảm của người dân và làm suy giảm khả năng làm điều thiện của mình trên các phương diện khác.
— Cháu chưa từng nghĩ theo hướng đó, thưa cô, — cậu thiếu niên đáp với vẻ mặt nghiêm nghị.
— Em hãy thử nghĩ về chính trường hợp của mình xem, William: giả sử em bị tóm và bị đày ra biển; thế là chấm dứt mọi hoài bão mà em hằng vun đắp. Em sẽ bị nhào nặn giữa đám thủy thủ thô lỗ, và sau một chuyến hải trình dài đằng đẵng, em sẽ quên sạch những gì mình đã học được, rồi cũng trở nên thô lỗ y hệt bọn chúng. Đó quả là một đoạn kết đáng buồn cho mọi tâm huyết mà ta đã dành cho em, cùng chính giọt mồ hôi công sức mà em đã bỏ ra để tự rèn giũa bản thân. Ta đoan chắc với em rằng đó sẽ là một nỗi đau đớn lớn lao, một sự thất vọng phũ phàng khi biết rằng mọi kỳ vọng của ta đặt nơi em đều tan thành mây khói.
— Sẽ không có chuyện đó đâu, thưa cô Warden, — cậu bé quả quyết đáp. — Cháu biết việc rút chân ra lúc này sẽ chẳng dễ dàng gì, nhưng nếu cần thiết, cháu sẽ rời khỏi ngôi làng này ngay khi cô đi lấy chồng. Giá như cô ở lại, cháu cũng sẽ ở lại, nhưng chốn này sẽ chẳng còn là chính nó đối với cháu nữa sau khi cô rời đi.
— Nghe em nói thế ta rất đỗi vui mừng. Ta đã trụ lại nơi này chừng nào mà sự có mặt của ta còn mang lại hữu ích cho em, vì dẫu ta đã truyền đạt cho em tất cả những gì có thể trong mọi lĩnh vực học thuật có khả năng bổ trợ cho em, đã cho em mượn sách của cha ta, và dìu dắt em đi xa nhất có thể trước khi ta lực bất tòng tâm, thì dĩ nhiên vẫn còn vô vàn điều khác mà em cần phải học hỏi. Em đã có một vạch xuất phát tương đối thuận lợi, nhưng đừng vì thế mà thỏa mãn với hiện tại. Nếu em buộc phải rời đi — và ta không nghĩ việc tiếp tục bám trụ ở đây sẽ mang lại lợi ích gì cho em — ta sẽ tận lực kiếm cho em một chỗ làm ở Scarborough hoặc Whitby, nơi mà sau giờ lao động, em vẫn có thể tiếp tục con đường học vấn của mình. Nhưng ta nài nỉ em chớ nên hành động bốc đồng. Sẽ tốt hơn biết mấy nếu em có thể tiếp tục ở lại đây thêm tầm một năm hoặc đại loại thế. Ta hy vọng rằng đám đàn ông trong làng sẽ không tỏ ra quá cay cú như em tưởng trước việc em từ chối nhúng tay sâu hơn vào các hoạt động buôn lậu. Dù sao đi nữa, hãy cứ ở lại nếu em còn có thể. Sẽ mất hai tháng trước khi ta rời đi, và thêm ba tháng nữa trước khi ta ổn định tại tổ ấm mới ở Scarborough. Khi mọi thứ đã yên vị, ta đoan chắc phu quân của ta sẽ cùng ta giúp em tìm kiếm một cơ hội việc làm. Anh ấy đã sống ở đó nhiều năm, và dĩ nhiên sẽ có vô vàn bạn bè cũng như người quen sẵn sàng quan tâm giúp đỡ em. Tuy nhiên, nếu em nhận ra hoàn cảnh của mình trở nên không thể dung tha, em cứ việc giả vờ im lặng về quyết định của mình. Sau cuộc đụng độ tuần trước, chắc chắn sẽ chẳng có âm mưu đổ bộ nào được liều lĩnh thực hiện trong một khoảng thời gian tới đây đâu, và vì thế ta sẽ chẳng trách móc gì em nếu chí ít em vẫn duy trì cái vỏ bọc tiếp tục tham gia vào các hoạt động của bọn chúng.
— Không đâu, thưa cô Warden, — cậu bé kiên quyết đáp, — trước đây cháu không hề hay biết đó là điều sai trái nên mới hùa theo một cách vô tư lự, nhưng giờ khi cô đã vạch rõ cho cháu thấy, cháu sẽ tuyệt đối không nhúng tay vào nó thêm một lần nào nữa, dẫu hậu quả có ra sao đi chăng nữa.
— Nghe em nói vậy ta rất đỗi vui lòng, William ạ, bởi nó chứng tỏ rằng sự giúp đỡ mà ta dành cho em không hề trôi sông đổ biển. Thế nếu bọn ta kiếm giúp em, em muốn làm công việc gì nào?
— Cháu thà đi biển, thưa cô Warden, còn hơn là làm bất cứ việc gì khác. Trong suốt năm qua, cháu đã bỏ ra rất nhiều tâm sức để nghiền ngẫm những cuốn sách về hàng hải mà cô đã mua cho cháu. Cháu không dám nhận là mình đã lĩnh hội toàn bộ, nhưng cháu cũng đã hiểu được kha khá và cảm thấy chắc chắn rằng chỉ sau dăm năm lênh đênh trên biển, cháu sẽ đủ khả năng vượt qua kỳ sát hạch để làm sĩ quan hàng hải.
— Chà, William, em thừa biết rằng khi ta mua những cuốn sách đó cho em, ta đã nói là mình không thể giúp em giải đáp chúng, nhưng ta hoàn toàn hiểu được rằng với phông nền toán học sẵn có, thế nào em cũng sẽ nắm bắt được phần lớn khối lượng kiến thức của bộ môn ấy. Lúc ấy ta đã mang nỗi sợ rằng rồi có ngày em sẽ dấn thân vào nghiệp biển khơi. Đó là một cuộc đời nhọc nhằn, nhưng lại là nơi mà một thanh niên có khả năng điều khiển tàu thuyền hoàn toàn có thể tự vươn lên bằng chính đôi chân của mình. Lớn lên giữa muôn trùng sóng nước như em, việc em chọn nghiệp thủy thủ cũng chẳng có gì là lạ, và dẫu ta có phần tiếc nuối, ta cũng chẳng đời nào nghĩ đến chuyện ngăn cản em. Được rồi, vậy ta sẽ ráng tìm người nhận em làm thợ học việc. Đó là một kiếp đời nhọc nhằn, nhưng chắc chắn chẳng khắc nghiệt hơn nghề ngư dân mà em đã quen thuộc từ bé.
Khi trở về bên người cha nuôi, William thông báo với ông rằng cậu không hề có ý định dính líu đến chuyện buôn lậu thêm dù chỉ một chút.
Lão già trân trân nhìn cậu với vẻ kinh ngạc. — Mày điên rồi chắc? — lão nói. — Chẳng lẽ tao không bỏ túi năm xu cho mỗi đêm mày ra khơi sao, tính ra thường thì cũng dăm ba bận một tháng, chừng đó đủ trang trải mọi khoản ăn uống của mày còn gì.
— Cháu rất tiếc, — cậu thiếu niên đáp, — nhưng trước nay cháu chẳng hề hay biết đó là điều trái phải, còn giờ khi đã thấu tỏ, cháu quyết không nhúng tay vào nó nữa. Làm thế thì thu về được ích lợi gì chứ? Nhìn kìa, chúng ta đang có ba căn nhà hoang phế, và năm sáu gia đình khác có trụ cột vắng bóng suốt nhiều năm trời. Đánh đổi như thế thì quá đắt đỏ ở bất kỳ cái giá nào. Cháu luôn lao động cật lực cùng cha, chưa từng lười biếng một phút giây; chẳng lẽ số tiền cháu kiếm được trên thuyền lại không đủ bù đắp cho ngần ấy phần cơm áo của cháu hay sao?
— Tao thừa sức đoán ra kẻ nào đã nhồi sọ mày điều này, — lão già hằn học thốt lên. — Chính là con nhỏ con gái mục sư mà mày cứ bám riết lấy suốt ngày đêm chứ ai.
— Xin cha đừng thốt ra những lời xúc phạm đến cô ấy, — cậu bé nghiêm túc nài nỉ; — cô ấy là ân nhân tuyệt vời nhất mà cuộc đời cháu từng có được, và chừng nào còn sống, cháu sẽ mãi khắc ghi lòng biết ơn ấy. Cha thừa biết cháu chẳng giống với đám con trai khác trong làng; cháu đọc thông viết thạo, và đã thu nạp được một bồ kiến thức từ sách vở. Cha muốn mắng mỏ cháu thế nào cũng được, nhưng tuyệt đối đừng đả động gì đến cô ấy. Cha thừa biết thời hạn nhận nuôi cháu đã hết từ một năm trước, nhưng cháu vẫn ở lại làm việc y như cũ và sẵn sàng tiếp tục duy trì như thế trong một thời gian nữa.
— Mày vốn dĩ là một đứa trẻ ngoan, — lão già dịu giọng lại, — và tao cũng chẳng biết mình sẽ xoay sở ra sao nếu thiếu mất mày. Giờ đây tay chân tao đã rệu rã gần hết, nhưng trong mười năm mày gắn bó với tao, mọi chuyện vẫn luôn xuôi chèo mát mái, và tao đã dành dụm đủ số tiền để tằn tiện qua nốt quãng đời còn lại dẫu có chẳng thèm nhấc tay làm việc nữa. Nhưng tao không tài nào nuốt trôi cái ý tưởng gàn dở mà mày vừa rước vào đầu. Nó sẽ mang lại rắc rối to đấy, con ạ, chắc chắn như việc mày đang đứng chình ình ở đó. Đám đàn ông trong làng sẽ chẳng đời nào hiểu nổi mày, và rất có thể chúng sẽ đinh ninh rằng lũ chó săn bên thuế vụ đã mua chuộc được mày rồi. Mày sẽ bị chúng đối xử lạnh nhạt, thậm chí những tai họa tồi tệ hơn thế còn có thể giáng xuống đầu mày nữa kìa. Bọn dân chài chúng ta vốn hành xử cộc cằn, thẳng thừng, và nếu có một thứ mà chúng căm ghét hơn bất cứ thứ gì trên đời, đó chính là bọn chỉ điểm.
— Cháu chẳng có mảy may ý định làm kẻ chỉ điểm, — cậu bé đáp. — Cháu chưa từng hé răng với bất kỳ nhân viên thuế vụ nào, và cũng chẳng đời nào làm thế, cháu sẽ ngậm tăm ngay cả khi nắm chắc trong tay tin tức về một chuyến hàng sắp đổ bộ. Chẳng lẽ chúng ta hoàn toàn có thể đứng ngoài lề mọi chuyện mà không bị nghi ngờ là đã đầu quân cho kẻ địch hay sao? Khối vàng nào trên đời có thể cám dỗ nổi cháu thốt ra dù chỉ một lời khiến một chuyến đổ bộ thất bại, và chắc chắn chẳng có tội lỗi tày đình gì trong việc từ chối tiếp tục đóng vai trò là một kẻ canh gác.
Lão già lắc đầu nguầy nguậy.
— Kẻ cố chấp thì phải chịu theo ý mình thôi, — lão nói; — nhưng tao hiểu rõ đám anh em ở đây hơn mày, và tao linh cảm rằng rắc rối lớn sắp sửa đổ xuống đầu từ chuyện này rồi đấy.
— Vâng, nếu nó phải xảy ra thì đành chịu vậy, — cậu bé bướng bỉnh đáp. — Cháu tự nhủ, nếu còn sống, cháu sẽ trở thành một con người lương thiện, và giờ khi đã biết rõ việc qua mặt ngân khố là sai trái, cháu sẽ kiên quyết chấm dứt nó. Thật là một cách đền đáp xứng đáng cho bao tâm sức mà cô Warden đã bỏ ra nhọc công dìu dắt cháu nếu cháu quay lưng làm trái lại những gì cô ấy bảo là sai quấy.
John Hammond đang bước vào độ tuổi mà hiếm có điều gì có thể khơi gợi lên ở ông sự kinh ngạc nhiều hơn là một tiếng thở dài yếu ớt. Ông thừa hiểu rằng việc mất đi cánh tay đắc lực của cậu bé sẽ là một tổn thất nặng nề, bởi trong suốt hai năm qua, cậu đã gánh vác một phần không nhỏ công việc. Nhưng dạo gần đây, không chỉ một lần ông đã thổ lộ với vợ về sự thiết yếu của việc bán chiếc thuyền cùng tay lưới đi để an phận thủ thường ở nhà. Mụ vợ hoàn toàn tán đồng với quyết định ấy, bởi mụ cảm thấy chồng mình quả thực đã bắt đầu trở nên lẩm cẩm, không còn kham nổi công việc nữa, và mỗi lần ông ra khơi trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào khác ngoài sự tĩnh lặng tuyệt đối, lòng mụ lại nơm nớp lo sợ những điều khủng khiếp sẽ xảy ra nếu một cơn bão bất chợt nổi lên. Lão thực lòng cảm thấy thương xót cho cậu bé, bởi lão đinh ninh rằng tai ương sẽ giáng xuống đầu cậu như hệ quả tất yếu của cái quyết định gây sốc này. Đối với John Hammond, buôn lậu hoàn toàn là một việc làm chính đáng. Ngôi làng này từ xưa đến nay vẫn nổi danh là sào huyệt của đám buôn lậu, và với ông, chuyện ấy tự nhiên như việc đánh bắt cá vậy. Thật là một điều đáng tiếc, vô cùng đáng tiếc khi đứa trẻ lại vướng vào một cái sở thích quái đản đến thế.
Cậu là một đứa trẻ ngoan ngoãn, siêng năng, và điểm duy nhất khiến ông phàn nàn chính là cái sở thích đọc sách đến mức khó hiểu của cậu. John chẳng biết chữ nào, và có vắt óc suy nghĩ đến nát óc cũng chẳng tài nào ngộ ra cái sự học hành mang lại lợi ích gì. Xưa nay ông vẫn sống khỏe re chẳng cần đến nó, và hồi cái trường học mới được mở ra, ông cùng khối kẻ khác đã lắc đầu ngao ngán, coi đó chỉ là một trò tiêu khiển dở hơi của ông mục sư. Dẫu vậy, vì nó chỉ ảnh hưởng đến đám trẻ con còn quá nhỏ chưa thể sai phái làm việc trên thuyền, họ không bày tỏ sự phản đối kịch liệt nào, và rồi dần dà ngôi trường cũng được nhìn nhận chủ yếu như một cái nhà trẻ để giam lỏng lũ nhóc khỏi quấy rầy cácà mẹ trong lúc họ bận giặt giũ nấu nướng.
Lão chậm chạp lê bước vào trong căn nhà tranh và thông báo cho vợ hay về diễn biến mới mẻ đầy kinh ngạc này từ phía đứa trẻ. Mụ vợ sùng sục nổi giận, nhưng cơn thịnh nộ ấy nhanh chóng dịu đi khi mụ nghĩ đến viễn cảnh từ nay chồng sẽ luôn tề tựu bên mụ ở nhà.
— Tôi sẽ nói thẳng thảy suy nghĩ của mình cho cô Warden nghe, — mụ hằn học, — và cho cô ta biết lời khuyên của cô ta đã gây ra tác hại tồi tệ nhường nào.
— Thôi đi, Jenny, — chồng mụ can ngăn; — làm thế để làm gì chứ? Trách nhiệm của mục sư là phải chõ mũi vào đủ mọi thể loại chuyện trên đời, và việc chống lại điều đó chẳng mang lại ích lợi gì đâu. Mục sư là một người tốt, ai nấy đều công nhận, và ngài luôn kết thúc bài giảng đúng giờ để chúng ta kịp về nhà ăn trưa. Anh đồng ý với em là cô tiểu thư kia đã gây ra chuyện chẳng lành, và anh vô cùng lo lắng rắc rối sẽ đổ lún đầu thằng bé. Có những nơi người ta coi buôn lậu là tội ác, nhưng xứ này thì hoàn toàn không nằm trong số đó. Anh chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra khi thằng Will tuyên bố nó không thèm làm chân canh gác nữa, nhưng chắc chắn là sắp có rắc rối đủ mọi mùi vị nổ ra rồi đây.
Quả thực, chẳng mất bao lâu để Will cảm nhận được sự đổi thay trong bầu không khí của ngôi làng. Trước đây, cậu vốn được lòng hầu hết mọi người, còn giờ thì ai nấy dửng dưng bước qua như thể không nhìn thấy cậu. Cậu cảm thấy khuây khỏa đôi chút mỗi khi được John Hammond cất nhắc gọi ra khơi đánh cá vào những ngày thời tiết đẹp, nhưng vào những lúc khác, lối thoát duy nhất của cậu là trốn tiệt lên vùng hoang mua bên những trang sách. Chẳng mấy chốc, đám thiếu niên lớn tuổi hơn bắt đầu ném những cục đất bùn vào người cậu mỗi khi cậu bước ngang qua, đồng thời réo gọi những từ ngữ mạt sát như “đồ chỉ điểm” cùng vô số biệt hiệu tồi tệ khác. Tình cảnh đó khơi mào cho biết bao trận ẩu đả dữ dội, và vì Will biết bù đắp sự thua kém về thể trọng bằng lòng can đảm cùng sự lanh lẹ, đám đối thủ đã không ít lần phải bầm dập thảm hại. Một ngày nọ, qua bầu không khí chộn rộn ngầm đang bao trùm khắp làng, cậu nhận ra đã đến thời điểm một trong những con tàu buôn lậu cập bến. Có một đứa bạn thuở nhỏ vẫn một mực gắn bó với cậu, dẫu bản thân cậu ta cũng đang suýt bị cô lập vì dám du du kết giao với một kẻ bị cộng đồng hắt hủi.
— Cậu đừng đi kè kè bên tớ nữa, Stevens, — Will đã nhiều lần khuyên can; — cậu sẽ chỉ tự rước họa vào thân thôi, trong khi chẳng giúp ích gì được cho tớ cả.
— Tớ chẳng thèm bận tâm, — cậu bạn quả quyết đáp. — Từ trước đến nay chúng ta vẫn luôn là đôi bạn tốt, và cậu thừa biết tớ chẳng đời nào tin chuyện cậu nhúng tay vào đám tuần duyên. Bọn chúng thật quá quắt khi vu oan giáng họa cho cậu như thế. Sáng nay tớ vừa tẩn cho Tom Dickson một trận nhừ tử vì dám lăng mạ cậu đấy. Hắn bảo nếu cậu không cộng tác với bọn chúng, cớ sao lại thèm từ bỏ việc canh gác. Tớ liền vả vào mặt hắn rằng lý do quái quỷ gì khiến cậu bỏ việc chẳng dính dáng gì đến tớ, tớ đinh ninh rằng cậu có quyền làm bất cứ điều gì mình thích. Thế là từ dăm ba câu qua lại, bọn tớ tẩn nhau luôn. Tớ không dám nhận là mình đã hạ gục hắn, vì hắn vạm vỡ hơn tớ kha khá, nhưng tớ cũng đánh trả sòng phẳng chẳng kém gì nhận đòn, và hắn cũng hì hục muốn dừng tay y như tớ vậy. Cậu cứ hay nhắc đến chuyện sắp sửa rời đi. Nếu cậu đi, và chịu mang theo tớ, tớ sẽ đi cùng cậu.
— Tớ vẫn chưa định hình được mình sẽ đi đâu, Tommy ạ, nhưng nếu trôi dạt đến một thành phố lớn, tớ dám chắc chẳng mấy chốc sẽ dò la được ai đó đang cần một chú nhóc lanh lợi, hoặc biết đâu tớ sẽ xin được cho cậu một chân làm cabin trên chính con tàu mà tớ bước lên. Tớ tự nhủ sẽ đi làm thủy thủ nếu có thể, và tớ sẽ vô cùng hoan hỉ nếu có cậu làm chiến hữu trên tàu. Từ trước đến nay chúng ta vẫn luôn là đôi bạn tri kỷ, và tớ chắc chắn chúng ta sẽ mãi như vậy, Tommy ạ. Nếu là cậu, tớ sẽ phải nghiền ngẫm thật kỹ lưỡng hàng tá lần trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Cậu thấy đấy, tớ đã mài miệt học hỏi từ sách vở để trang bị cho cuộc đời hải hồ sắp tới. Cô Warden đang toan tính giúp tớ xin vào làm thợ học việc, và trong trường hợp đó tớ hoàn toàn có hy vọng ngoi lên làm sĩ quan khi hết hạn hợp đồng, nhưng cậu thì chẳng có mấy cơ hội làm được điều tương thế. Dĩ nhiên nếu chúng ta đi cùng nhau, tớ sẽ dìu dắt cậu. Xưa nay cậu vốn chẳng hề màng đến sách vở hay chuyện tự rèn giũa bản thân, và nếu thiếu cái nền đó, cậu sẽ chẳng bao giờ có thể vươn lên thành một thủy thủ bậc trung được đâu.
— Tớ căm thù sách vở lắm; — cậu bé đáp; — tuy nhiên, tớ sẽ cố gắng hết sức xem mình làm được đến đâu. Dù sao đi nữa, tớ chẳng màng gì sất miễn là được ở bên cậu.
— Được rồi, chúng ta sẽ tính tiếp khi thời cơ chín muồi, Tommy ạ. Như cậu đã biết, cô Warden vừa lên xe hoa vào tuần trước. Chỉ ba tháng nữa thôi cô ấy sẽ có mặt ở Scarborough, và cô ấy đã hứa phu quân của cô ấy sẽ tận lực giúp tớ xin làm thợ học việc ở đó hoặc tại Whitby, một hải cảng sầm uất. Ngay khi đặt chân lên tàu, tớ sẽ báo cho cậu hay nếu trên tàu còn trống một chân cabin. Nhưng cậu hãy suy tính cho thật thấu đáo trước đã nhé; cậu sẽ gặp muôn vàn khó khăn đấy, vì tớ đoán chừng ông chú của cậu sẽ chẳng đời nào buông tha cho cậu đâu.
— Tớ thèm bận tâm đến lão ta một tí nào. Lão cứ hở ra là thượng cẳng chân hạ cẳng tay với tớ, và tớ chẳng thèm đếm xỉa đến việc lão thích hay không thích cái gì. Cậu cứ đinh ninh là tớ sẽ chẳng thèm xin phép lão đâu, mà cứ thế chuồn thẳng vào ban đêm ngay khi nhận được tín hiệu từ cậu. Cậu sẽ không bỏ quên tớ chứ, Will?
— Chắc chắn là không rồi; cậu cứ việc nằm lòng điều đó đi. Nhớ lấy, tớ không hứa trước là mình có thể kiếm ngay cho cậu một chân cabin hay vị trí học việc tức khắc đâu. Tớ chỉ đoan chắc sẽ thực hiện nó ngay khi có cơ hội. Có thể mất một tháng, hoặc cũng có thể là một năm; thậm chí là ba bốn năm trời, bởi dẫu nhu cầu tuyển dụng thủy thủ lúc nào cũng cao, như tớ từng nghe phong phanh, thì chưa chắc người ta đã cần tuyển trẻ con. Nhưng cậu hãy tin chắc rằng tớ sẽ không để cậu phải chờ mòn mỏi quá mức cần thiết đâu.
Một ngày nọ, khi đang lững thững bước đi dọc theo những vách đá trong nỗi cô đơn bủa vây, Will bỗng nghe thoảng qua một tiếng kêu yếu ớt, và khi cúi đầu nhìn xuống, cậu nhận ra Tom Stevens đang kẹt cứng dưới một vũng nước sâu. Vực đá dựng đứng hiểm trở, và rõ ràng cậu ta bất lực chẳng thể nào leo lên nổi. — Bám chặt lấy nhé, Tom, — cậu hét vang, — tớ xuống với cậu đây.
Cậu phải đi mất nửa dặm đường mới tìm được một chỗ có địa thế đủ để trèo xuống, và khi vừa chạm đến bờ, cậu cắm cổ chạy thục mạng đến cái vũng nơi cái đầu của Tom vẫn đangấp ủ ngụp lặn trên mặt nước. Nhận ra sức lực của bạn mình đã gần như cạn kiệt, cậu lao ngay xuống dòng nước và bơi thẳng về phía ấy. — Vòng tay qua cổ tớ đi, — cậu nói. — Tớ sẽ bơi dìu cậu đến điểm cuối của con lạch này. Đuối sức đến mức chẳng thẹn nói nên lời, Tom phải nhờ cậy toàn bộ sức lực của Will mới lê lết được qua vũng nước sâu để đến khúc giáp biển, rồi từ đó lôi xềnh xệch lên bờ.
— Tớ suýt chầu diêm vương rồi đấy, Will, — Tom thều thào lên tiếng khi đã hồi phục lại đôi chút.
— Ừ, tớ thấy rõ điều đó mà. Nhưng quái quỷ thế nào mà cậu lại rớt tõm xuống nước được hay vậy?
— Tớ đang chạy dọc triền vách đá thì trượt chân. Ngã đập đầu gối xuống đau điếng người; cơn đau buốt thấu xương khiến tớ không tài nào kiềm chế được việc lăn nhào xuống dưới. Tớ toan bơi, vốn dĩ đối với tớ chẳng có gì là quá tầm, nhưng ngã gối chắc đã dập nát rồi, và nó hành hạ tớ đau đớn khủng khiếp đến mức tớ hét toáng lên rồi đành buông xuôi. Tớ chẳng thể trụ thêm được nữa và chắc chắn đã chết đuối nếu không có cậu phát hiện ra. Chưa bao giờ tớ thấy nhẹ nhõm như khi nghe tiếng cậu vang lên từ phía trên.
— Cậu có nghĩ mình tự đi được không?
— Không, tớ đoan chắc một mình mình chẳng bước nổi đâu, nhưng nếu bấu víu vào cậu thì may ra. Dù sao tớ cũng phải ráng thử xem sao.
Cậu ta tập tễnh lê lết được một đợt ngắn rồi cuối cùng đành thở hắt ra: — Thôi chịu thua rồi, Will, tớ không đi nổi một bước nào nữa đâu.
— Được rồi, trèo lên lưng tớ đi, để tớ xem mình có thể xoay sở ra sao.
Chậm chạp và phải dừng lại nghỉ miết, cuối cùng Will cũng cõng được cậu ta đến điểm vách đá lúc nãy mình tụt xuống. — Tớ phải gọi viện trợ để đưa cậu lên đoạn này thôi, Tom ạ; dốc đứng quá và tớ chắc chắn không thể tự mình xách cậu lên nổi. Tớ phải vào làng gọi người trợ giúp.
— Tớ sẽ nằm đây đợi đến sáng, Will. Chẳng có gì khổ sở đâu, và tớ thừa biết cậu vốn chẳng ưa gì việc bước vào làng thưa chuyện với ai.
— Tớ sẽ lo việc này xuôi chèo mát mái, — Will vui vẻ trấn an. — Tớ sẽ báo cho John Hammond, ông ấy sẽ tìm gặp chú cậu và huy động người đến khiêng cậu về. Cậu thừa biết tớ xớ rớ mặt gặp chú cậu lúc này chẳng ích gì. Lão sẽ chẳng thèm lọt tai một câu nào từ tớ đâu, mà chỉ tru tréo tuôn ra những lời mạt sát tơi bời mà thôi.
— Để tao đi, — lão già cất lời. — Không thể bỏ mặc thằng bé ở đó được.
Chỉ một tưới thời gian ngắn tẻo tèo teo, nhóm đàn ông đã khởi hành. Will bước dọn đường đi trước họ một đoạn cho đến khi lên đến đỉnh lối mòn. — Nó nằm ở tận dưới đáy ấy, — cậu nói rồi quay lưng bước đi. Tom được đưa về nhà và lập tức hứng chịu một trận chửi mắng sa sả từ người chú vì cái tội tự gây thương tích khiến bản thân bất lực chẳng thể thề thốt cùng lão ra khơi trong dăm bữa nửa tháng tới. Cậu ta nằm liệt giường suốt một tuần lễ và sau đó chỉ có thể tập tễnh lê lết nhờ sự trợ giúp của một chiếc gậy chống. Khi Tom kể lại chuyện Will đã cứu mạng mình ra sao, trong lòng đám trẻ có thiện cảm hơn đôi chút đã le lói một sự chuyển biến tình cảm nhẹ nhàng, nhưng điều đó ngắn ngủi chẳng kéo dài được bao lâu. Chẳng mấy chốc thiên hạ râm ran tin đồn một chiếc tàu buôn lậu kiểu Pháp sắp cập bờ. Will bị cấm tiệt bén mảng đến mép vách đá, kèm theo đó là vô số lời nguyền rủa cùng những tràng đe dọa tột cùng nếu cậu dám cả gan phớt lờ. Mọi biện pháp cẩn trọng đều được triển khai để đánh lạc hướng lực lượng tuần duyên, ngặt nỗi sự tình lại chuyển biến xấu. Một vài trận kịch chiến đẫm máu nổ ra, và một phần lớn khối lượng hàng hóa đã bị tịch thu ngay lúc đang ì ạch chuyển lên vách đá.
Hôm sau, Tom tất tả hớt hải chạy tìm Will, lúc ấy đang đi dạo loanh quanh một quãng ngắn trên vùng hoang mua.
— Cậu phải cắm cổ chạy giữ lấy mạng ngay đi, Will ạ. Có bốn năm gã trong làng đang đinh ninh rằng chính cậu đã bán đứng bọn chúng vào đêm qua, và tớ dám cá là bọn chúng sẽ ném cổ cậu xuống vực mất thôi. Chúng đang kéo đến kìa! Thượng sách lúc này là cậu hãy tìm đường chuồn thẳng đến trạm tuần duyên đi.
Will nhìn thấy bốn gã đàn ông đang hùng hổ tiến về phía mình đích thực là những thành phần cộm cán thô lỗ nhất làng, liền lập tức cắm cổ chạy thục mạng với tốc độ tối đa. Đám người vừa gào thét chửi rủa vừa điên cuồng đuổi theo phía sau. Trạm tuần duyên nằm cách đó hai dặm đường, và cậu đã đặt chân tới nơi khi đám người vẫn còn bị bỏ lại cách sau năm mươi thước. Đám đông khựng lại, gào thét: — Mày cứ trốn ở đó đi, nhưng hễ bước chân ra khỏi cái xó này là chúng tao tóm cổ mày ngay lập tức.
— Có chuyện gì thế hả nhóc? — viên phó trạm trực ban cất tiếng hỏi.
— Bọn người kia bảo rằng cháu đã phản bội bọn chúng, nhưng ngài thừa biết đó là lời vu khống thưa ngài.
— Dĩ nhiên là ta biết chứ. Ta nhẵn mặt cậu qua lại và tin rằng cậu là một thiếu niên ngoan ngoãn. Ta vẫn thường nghe người ta ca ngợi cậu. Cớ sao bọn chúng lại nghĩ quái gở như vậy?
— Ấy là vì cháu không chịu tiếp tục làm chân canh gác nữa. Cháu hoàn toàn mù tịt không biết điều đó là sai trái cho đến khi cô Warden mở mắt cho cháu thấy, và khi ấy cháu kiên quyết dứt khoát không làm nữa, chính điều đó đã khiến cả làng quay lưng thù hằn với cháu.
— Giờ cậu định tính sao đây?
— Cháu muốn xin ở lại đây qua đêm nay nếu ngài cho phép. Cháu dám chắc bọn chúng vẫn đang rình rập ngoài kia để túc trực canh chừng cháu đấy.
— Ta sẽ giăng võng cho cậu nghỉ ngơi, — người đàn ông đáp. — Giờ thì chúng ta sắp sửa ăn trưa, và ta đoán chắc cậu cũng đang đói ngấu nghiến. Cậu chính là đứa trẻ mà thiên hạ hay gọi là cục cưng của cô Warden phải không nào?
— Vâng, họ vẫn hay gọi cháu như thế. Cô ấy vô cùng nhân hậu với cháu, và đã dìu dắt cháu rất nhiều trong việc học hành.
— Chà, xét cho cùng thì một đứa trẻ vượt trội hơn hẳn bạn bè về học vấn thế nào cũng chuốc lấy sự ghen tỵ từ đám đồng trang lứa thôi!
Sau bữa trưa, viên sĩ quan cất lời: — Rõ như ban ngày là cậu chẳng thể nào quay về ngôi làng đó được nữa rồi. Ta dường như từng nghe phong phanh là cậu không còn cha nữa phải không?
— Vâng, ông ấy qua đời lúc cháu mới tròn năm tuổi. Ông để lại một chút tiền tích cóp, và John Hammond đã nhận nuôi cháu, dùng số tiền đó cùng phần tích lũy của chính ông để mua thuyền. Cháu buộc phải ở lại phụ giúp ông cho đến khi đủ mười bốn tuổi, nhưng ngặt nỗi sắp sửa phải dứt áo ra đi, vì thực sự ông đã quá già để có thể tiếp tục ra khơi.
— Cậu đã bao giờ nghĩ đến chuyện gia nhập hải quân hoàng gia chưa?
— Cháu cũng từng manh nha suy nghĩ về điều đó, thưa ngài, nhưng chưa định hình được gì cụ thể. Cháu vốn thiên về hướng gia nhập lực lượng thương thuyền hơn.
— Phì! Ta thật ngạc nhiên khi một thiếu niên đầy khí phách như cậu lại nghĩ đến cái xó xỉnh đó đấy. Nếu cậu đã tích lũy được khối kiến thức kha khá thì chỉ cần chí thú làm ăn, chắc chắn theo thời gian cậu sẽ phất lên và hoàn toàn có khả năng vươn lên thành sĩ quan cấp dưới. Chẳng có gã thiếu niên nào có máu mặt mà lại đâm đầu vào kiếp đời thương thuyền trong khi hoàn toàn có quyền bước chân vào hải quân. Ta không phủ nhận rằng vài con tàu thuộc công ty Đông Ấn là những cỗ chiến xa tuyệt đẹp, nhưng cậu sẽ trầy da tróc vẩy mới mong xí được một chân trên đó. Trung úy của chúng ta sẽ ghé qua đây trong một hoặc hai ngày tới, và ta đoan chắc nếu ta ngỏ lời hộ, ngài ấy sẽ đưa cậu lên tàu với tư cách là một chú lính tập trên một chiến hạm oai nghiêm.
— Tờ giao kèo phục vụ kéo dài trong bao lâu vậy thưa ngài?
— Cậu ký kết phục vụ theo thời hạn hoạt động của chiến hạm, tối đa là năm năm; và nếu nhận ra mình không hợp với môi trường ấy, khi thời hạn đó khép lại, cậu hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn cho mình một bến đỗ khác.
— Thế nghĩa là sau đó cháu vẫn có thể quay sang gia nhập thương thuyền nếu thích chứ ạ?
— Dĩ nhiên là được rồi, nhưng ta không nghĩ cậu sẽ làm thế. Trên một chiếc thương thuyền, cậu sẽ bị bầm dập tơi bời tứ phía, trong khi ở một chiến hạm của hải quân — ta không dám nhận mọi thứ sẽ trải hoa hồng — nhưng chỉ cần cậu lanh lẹ và biết điều, mọi thứ sẽ xuôi chèo mát mái đối với cậu.
— Vâng thưa ngài, cháu sẽ suy ngẫm kỹ lưỡng về điều này qua đêm nay.
— Hay lắm, chàng trai của ta! Cậu thật khôn ngoan khi không vội vã đưa ra quyết định hấp tấp. Đó là một ngã rẽ hệ trọng đối với một thanh niên trẻ tuổi khi phải đưa ra một lựa chọn như thế; nhưng ngẫm lại, với hoàn cảnh bơ vơ không tấc sắt dính túi như cậu, lại chuốc oán với toàn bộ dân làng, thì tẩu thoát khỏi chốn đó càng sớm chừng nào càng tốt chừng ấy.
— Cháu hoàn toàn thấy rõ điều đó; và thực lòng cháu ngẫm nghĩ mình chẳng thể tìm được lối thoát nào khả dĩ hơn là trải qua dăm năm trên một chiến hạm hoàng gia, bởi sau quãng thời gian ấy, cháu sẽ đủ sức kham nổi bất kỳ công việc nào mình vớ phải.
— Được rồi, hãy cứ ngả lưng ngủ một giấc ngẫm nghĩ thật kỹ đi nhé, nhóc con.
Will ngồi thừ người trên bức tường thấp trước trạm tuần duyên và miên man suy tính. Xét đến cùng, hóa ra việc được đặt chân lên một chiến hạm bề thế và có cơ hội tham gia chiến đấu chống lại quân Pháp vẫn có vẻ xán lạn hơn nhiều so với việc lênh đênh trên một thương thuyền. Khi trôi qua mười lăm năm — nhầm lẫn, năm năm — ấy, cậu sẽ bước sang tuổi hai mươi, và hoàn toàn đủ điều kiện để sát hạch làm phó lái hoặc an bề gia thất trên đất liền. Cậu rất muốn được tham vấn cô Warden, nhưng điều đó hoàn toàn bất khả thi. Cậu quá rõ đám người đã truy đuổi mình thừa khả năng làm hại đến tính mạng cậu nếu họ tóm được. Cậu có thể tìm cách lén lút chuồn khỏi trạm vào ban đêm, nhưng ngay cả điều đó cũng đầy rẫy bấp bênh. Hơn nữa, nếu làm thế thì cậu biết nương thân vào đâu khi đến Scarborough; trong túi chẳng dính nổi một xu dính túi, cậu sẽ rơi vào đường cùng không sao tự mưu sinh nổi cho đến ngày cô Warden trở về. Cậu không hề muốn xuất hiện trước mặt nàng trong hình hài của một kẻ ăn mày. Cậu vẫn đang trầm ngâm suy tính thì một bóng râm bất chợt phủ ngang qua người, và khi ngẩng đầu lên, cậu bắt gặp người bạn chí cốt Tom Stevens.
— Tớ lân la đến đây để tìm cậu đấy, Will, — cậu ta nói. — Tớ chẳng biết phải xoay sở ra sao nữa. Cả cái làng này nhất quyết không chịu tin là cậu không bán đứng bọn chúng.
— Sự tình mới phi lý làm sao, — Will phẫn uất thốt lên. — Từ trước đến nay tớ chưa từng hé răng với bất kỳ gã nhân viên tuần duyên nào cho đến ngày hôm nay, ngoại trừ dăm ba câu chào hỏi lướt qua về thời tiết. Hơn nữa, suốt tháng trời qua có ma nào thèm mở miệng nói chuyện với tớ đâu, thế thì hà cớ gì tớ lại hay biết chuyện chiếc tàu lugger sắp lấp ló cập bến vào đêm đó cơ chứ?
— Ừ, tớ thực tình không nghĩ việc cậu quay về đó là an toàn nữa đâu.
— Tớ chẳng đời nào thèm quay lại cái chốn ấy. Tớ vẫn chưa quyết định dứt khoát sẽ làm gì, nhưng chắc chắn tớ không có ý định thụt lùi quay về ngôi làng đó.
— Thế thì cậu định tính mưu tính kế gì tiếp theo, Will?
— Tớ cũng chưa rõ mồn một từng chi tiết, nhưng tớ đã lờ mờ ngả về quyết định xin đầu quân làm lính tập trên một chiến hạm của nhà vua rồi.
— Tớ muốn đi theo cậu đến bất cứ chân trời góc bể nào, nhưng khao khát lớn nhất của tớ lúc này chính là được làm điều đó đấy.
— Đó là một bước ngoặt hệ trọng đấy nhé, cậu biết rồi đấy; cậu sẽ phải hạ quyết tâm thép để chịu đựng cảnh bị bầm dập bắt nạt đấy.
— Tớ đã quá quen với cảnh đó ở nhà rồi; — Tom đáp; — ngoài khơi chắc cũng chẳng thể khắc nghiệt hơn những gì tớ đang gánh chịu ở cái xó xỉnh này đâu.
— Được rồi, tớ vẫn chưa phải đưa ra quyết định cuối cùng cho đến ngày mai; cậu cứ về nhà ngẫm nghĩ cho thật thấu đáo đi, và nếu sáng mai cậu quay lại với một quyết tâm đã được định hình, tớ sẽ ngỏ lời với viên sĩ quan ở đây xem họ có chịu thu nhận cả hai chúng ta hay không.