Bằng Hạnh Kiểm Và Can Đảm: Câu Chuyện Về Thời Của Nelson

Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Một Chiến Công Táo Bạo

❊ ❊ ❊

Vừa đến Sheerness, viên thuyền trưởng liền lên bờ cùng với Will, và họ tiếp tục đi lên London. Will trọ tại khách sạn Golden Cross, và hôm sau đến Bộ Hải quân, nơi anh xin yết kiến Đệ nhất Hải quân Đại thần.

“Tôi đã nhận được một báo cáo rất khả quan từ Thuyền trưởng Knowles về việc anh đã đổ bộ lên bờ biển Hà Lan và thu giữ những mật lệnh vô cùng giá trị. Làm sao mà anh bị bắt làm tù binh?”

“Trong một cuộc tấn công của lực lượng tàu Tartar vào các Pháo đài trên một hòn đảo thuộc quần đảo d’Hyères ạ. Tôi bị thương ở chân, và vì bị bỏ lại trong cảnh hỗn loạn của cuộc rút chạy, tôi đã rơi vào tay người Pháp. Tôi bị giam cầm bốn tháng tại Toulon, rồi sau đó bị chuyển đến Verdun. Sáu tháng sau khi rời Toulon, cải trang bằng bộ đồ do một thiếu nữ Pháp kiếm giúp, tôi đã trốn thoát. Tôi đã học tiếng Pháp trong thời gian ở tù, và qua khỏi nước Pháp trong lốt một kẻ bán hàng rong, tôi đã tới được Dunkirk. Ở đó, tôi làm việc trên một chiếc tàu đánh cá trong một tháng, rồi thấy chiếc Artemis tuần tra ngoài khơi thị trấn, tôi bèn nhốt hai tên thủy thủ vào cabin của chúng, và dọa hai tên còn lại phải chở tôi ra chiếc chiến thuyền ấy.”

“Để ghi nhận những chiến công giá trị mà anh đã lập, tôi rất hân hạnh được thăng cấp cho anh lên bậc sĩ quan phụ tá.”

“Xin cảm ơn ngài! Nhưng thưa ngài, thú thực là tôi vẫn hy vọng được phong hàm trung úy hơn.”

“Trung úy ư!” Viên đô đốc đổi giọng nói. “Tôi lấy làm ngạc nhiên khi nghe anh nói vậy, khi mà anh chưa từng phục vụ với cấp bậc sĩ quan phụ tá. Điều gì khiến anh nuôi một hy vọng như thế?”

“Những chiến công trước đây của tôi, thưa ngài,” Will dõng dạc đáp.

“Thuyền trưởng Purfleet, xin vui lòng lấy xuống cho tôi tập hồ sơ về quá trình phục vụ mang vần G. A, đây rồi.”

Ban đầu ông lướt qua một cách lơ đãng, rồi sau đó đọc lại một cách kỹ càng.

Mr. Gilmore, anh đã đúng khi ôm ấp một hy vọng như vậy. Tôi thấy rằng anh đã được ca ngợi hết lời bởi các sĩ quan chỉ huy mà anh từng phục vụ dưới quyền; rằng anh đã được các đô đốc cả ở Malta lẫn Tây Ấn đề cử một cách vô cùng mạnh mẽ vì những chiến công đặc biệt của mình, và cả bởi Lãnh chúa Hood vì phong thái của anh ở Corse. Anh từng chỉ huy một chiếc chiến thuyền nhỏ trong gần một năm, và ở cương vị đó, anh không chỉ bắt giữ được nhiều tàu chiến địch, trong số đó có những chiếc rất giá trị, mà thực ra trong một trận chiến ác liệt, anh đã hạ gục hai tên hải tặc, mỗi tên đều mạnh hơn chiến thuyền của anh. Do đó, anh đã chứng minh quá rõ khả năng chỉ huy của mình. Thuyền trưởng Purfleet, đã có sự bổ nhiệm nào cho chiếc Jason chưa?”

“Chưa, thưa ngài.”

“Rất tốt, vậy hãy bổ nhiệm Mr. Gilmore làm trung úy thứ hai của con tàu đó. Anh không cần phải cảm ơn tôi đâu; anh có được chức vụ này là nhờ vào lòng dũng cảm và hạnh kiểm tốt của chính mình. Tôi không biết có lúc nào mình lại thấy những giấy chứng nhận mạnh mẽ cùng một hồ sơ tốt nhường ấy cho một sĩ quan ở độ tuổi và thâm niên của anh. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng anh sẽ làm rạng danh cho chức vụ mà tôi vừa trao. Vì chiếc Jason chưa sẵn sàng trong hai tháng tới nên tôi có thể cho anh nghỉ phép sáu tuần.”

Vừa giải quyết xong chuyện này, Will liền bắt xe ngựa đi Fairham. Từ đó, anh lái xe đến ngôi làng Porchester, nơi vị hôn của Marie bị giam giữ. Tại đây, anh trọ lại một quán rượu nhỏ. Trước khi rời London, anh đã mua và mặc bộ trang phục của một nông dân, bởi anh khó lòng có thể ở lại ngôi làng trong thân phận một quý tộc mà không gây chú ý hay ngờ vực. Dù vậy, anh vẫn mang theo những bộ quần áo khác, để nếu cần, anh có thể thay ra và xuất hiện hoặc trong quân phục hải quân, hoặc như một thường dân. Bước đầu tiên của anh là đi một vòng quanh bức tường thành lớn bao quanh lâu đài và những dãy lán nơi giam giữ các tù nhân. Anh nhận thức được ngay rằng mọi mưu toan leo qua bức tường thành ấy đều sẽ vô ích.

Tại quán trọ, anh lớn tiếng phao tin rằng do một người họ hàng qua đời, anh vừa vớ được một số tiền và định bụng sẽ ăn chơi xả láng.

Quán trọ mà anh chọn thực chất chẳng khác gì một quán rượu tầm phào, và sở dĩ anh chọn nó vì nghĩ rằng nơi đây có khả năng sẽ lui tới bởi những binh lính đóng quân gần tường thành, những kẻ đảm nhiệm việc canh gác trong lâu đài. Kỳ vọng này đã ứng nghiệm không lâu sau khi anh đến, khi có bốn hoặc năm người lính bước vào.

“Các anh có muốn uống với tôi một ly không?” anh lên tiếng. “Tôi vừa bảo với chủ quán rằng tôi mới kiếm được chút đỉnh tiền nong và định tiêu xài cho thỏa thích.”

Mấy người lính vui lòng nhận lời mời, rồi kéo ghế ngồi xuống bàn cùng anh.

“Canh gác ở đây hẳn là chán ngắt,” anh nói, “và chắc các anh thà ra trận chiến đấu còn hơn.”

“Chắc chắn là vậy rồi,” một người trong số họ đáp lời; “ở đây chẳng có việc gì làm ngoài việc tập luyện suốt cả ngày, rồi nhìn đăm đăm ra mặt nước lúc hết ca trực và ao ước được tới Portsmouth, nơi có việc để làm và có thứ để giải trí. Đây là cái xó xỉnh buồn chán nhất mà tôi từng bị điều đến đóng quân. Cosham ở một bên và Fairham ở bên kia là những nơi duy nhất người ta có thể đi bộ tới được. Dù vậy, chúng tôi mong sẽ sớm được thay ca, và tôi chẳng bao giờ muốn nhìn thấy cái xó này thêm lần nào nữa.”

“Tôi đoán các anh có tuyển tân binh ở đây chứ?” Will hỏi.

“Ồ có chứ, chúng tôi tuyển tân binh khi nào kiếm được họ.”

“Một tân binh mất bao lâu thì bắt đầu trở thành một người lính thực thụ, và thực hiện phiên gác thường lệ của mình và vân vân?”

“Hai hoặc ba tháng,” gã lính đáp; “thế là đủ lâu để rèn họ vào khuôn phép rồi.”

“Tôi muốn vào trong để ngắm nghía các tù nhân một chút,” Will nói sau một hồi trò chuyện.

“À, chẳng có cơ hội nào để anh làm thế đâu,” tên lính đáp. “Quân lệnh rất nghiêm ngặt, và chỉ có ba hoặc bốn kẻ buôn bán nhỏ được phép vào trong để bán hàng cho họ thôi.”

“Có khoảng bao nhiêu người ở trong đó vậy?”

“Khoảng ba nghìn.”

Anh trò chuyện thêm một lát, rồi sau đó gọi thêm một vại bia đãi tất cả mọi người, đoạn thong thả bước ra ngoài, để mặc mấy người lính tự uống cho xong. Anh nhận ra ngay rằng trong quỹ thời gian eo hẹp của mình, kế hoạch khả thi duy nhất là hoặc hối lộ một vài lính canh — mà đối với anh cách này quá nhiều rủi ro và khó lòng thành công — hoặc tiếp cận một trong những kẻ được phép ra vào nơi đó.

Anh dành hai ngày để theo dõi cổng nhà tù. Trong khoảng thời gian đó, có năm người mặc thường phục bước vào. Một trong số họ là một phụ nữ thấp béo, mang theo một chiếc giỏ lớn đựng bánh ngọt và các loại đồ ăn khác. Một người khác cũng mang vác y hệt. Người thứ ba, một người đàn ông cao xấp xỉ anh, mang theo đủ loại nguyên liệu mà các tù nhân dùng để làm các vật phẩm bày bán. Người đó có kim và chỉ, những mảnh vải vụn đủ màu sắc để làm chăn chắp vá, những khúc gỗ để đẽo mô hình tàu thủy, rơm nhuộm nhiều màu sắc để làm hộp trang trí, hạt cườm thủy tinh và mấy thứ đồ nhỏ nhặt khác. Will lập tức nhắm vào gã này vì cho rằng hắn là vị khách có nhiều khả năng phục vụ cho mục đích của mình nhất. Anh liền bắt chuyện với hắn sau khi hắn rời khỏi nhà tù.

“Bạn tôi ơi,” anh nói, “anh có muốn kiếm năm mươi bảng không?”

Gã đàn ông mở trân trân đôi mắt vì kinh ngạc.

“Dĩ nhiên là tôi muốn rồi,” hắn đáp, “nếu tôi thấy mình làm được.”

“Được thôi, tôi sẽ trả gấp đôi số đó nếu anh làm theo lời tôi dặn. Trước hết, tôi muốn anh tìm ra cái lán giam giữ Lucien Dupres và đưa cho hắn một bức thư.”

“Chuyện đó thì chẳng mấy khó khăn đâu,” gã đó nói. “Tôi chỉ việc thì thầm với tên tù nhân đầu tiên mình gặp rằng tôi muốn tìm một người, và có sẵn một bức thư của bạn bè hắn gửi cho hắn, và nếu hắn không biết thì hắn sẽ tìm hộ tôi. Làm thế thì chẳng có gì to tát để đổi lấy một trăm bảng cả.”

“Đúng thế; nhưng tiếp theo tôi muốn anh tránh mặt trong một tuần, đồng thời cho tôi mượn quần áo và thẻ thông hành của anh. Tôi muốn vào trong gặp người đó.”

“Chà, vụ đó thì nguy hiểm hơn nhiều đấy. Làm sao anh có thể giả dạng thành tôi được?”

“Tôi nghĩ mình có thể làm việc đó mà chẳng sợ gì. Chúng ta cao bằng nhau mà. Tôi sẽ làm một bộ tóc giả bắt chước mái tóc của anh, và tôi tưởng tượng rằng mình sẽ chẳng gặp khó khăn gì trong việc trang điểm khuôn mặt để có thể qua mặt người ta thành anh cả. Chắc là anh đã quen mặt đến mức họ sẽ chỉ liếc nhìn tôi một cái khi tôi bước vào. Lựa chọn duy nhất khác ngoài cách đó là anh sẽ mang vào cho hắn một sợi dây thừng và mấy thứ đồ tôi sẽ đưa cho anh. Tôi nói thẳng thừng là tôi muốn giúp hắn trốn thoát. Nhớ lấy, một trăm bảng thì không thể kiếm được mà không phải chịu chút rủi ro nào đâu.”

“Giữa hai việc đó, tôi thà mạo hiểm mang theo sợi dây thừng và mấy món dụng cụ còn hơn, miễn là chúng không quá cồng kềnh. Xin nhắc để anh nhớ, đó là một rủi ro lớn đấy, vì tôi sẽ có nguy cơ bị bắn vì tội giúp tù nhân vượt ngục.”

“Này nhé,” Will bảo, “chiều nay tôi sẽ vào Portsmouth và tìm vài tay thợ có thể hóa trang cho tôi. Thế nào cũng có hai hay ba gã coi đó là nghề kiếm sống, vì mấy sĩ quan hải quân trẻ tuổi thường xuyên gây sự đánh nhau, và chắc chắn họ phải cần che đi những vết thâm tím trước khi quay trở lại tàu. Ngày mai anh cứ đến nhà tù. Tìm người đàn ông đó và chuyển bức thư này cho hắn. Rồi anh bắt xe ngựa vào Portsmouth. Tôi sẽ đợi ở đó cho đến khi xe đến, anh có thể đi cùng tôi, và khi tôi đã hóa trang xong, chính anh sẽ tự phán xét xem tôi có qua mặt được người ta để làm anh hay không. Chẳng khó khăn gì để kiếm mấy chòm râu quai nón khớp với râu của anh đâu.”

“Được rồi,” gã đó đáp, “ngày mai tôi sẽ có mặt trên chuyến xe ngựa.”

Will liền thay ngay bộ quần áo thường phục đi bộ và đi vào thị trấn. Khi dò hỏi, anh phát hiện ra có một thợ cắt tóc hành nghề che giấu những vết bầm đen quanh mắt và xóa đi dấu vết va chạm. Anh tìm đến gã thợ và nói: “Tôi nghe nói anh là một nghệ sĩ chuyên trị mấy vết mắt bầm đấy chứ.”

Gã thợ mỉm cười.

“Trông ngài đâu có vẻ cần đến dịch vụ của tôi, thưa ngài.”

“À, không phải theo cách đó, nhưng tôi đoán anh có thể hóa trang một khuôn mặt sao cho giống với người khác chứ?”

“Vâng, thưa ngài, có thời gian tôi từng làm việc ở một nhà hát ở London chuyên hóa trang cho các nghệ sĩ, và tôi cảm thấy chắc chắn mình có thể hoàn thành một công việc như vậy làm vừa lòng ngài.”

“Tôi đã đánh cược,” Will nói, “rằng tôi có thể cải trang thành một người nào đó thật hoàn hảo để lừa gạt bạn bè mình. Cửa hàng của anh có bộ tóc giả màu vàng cát nào không?”

“Thưa có, thưa ngài, nửa tá ấy chứ.”

“Còn râu quai nón thì sao?”

“Tôi có vài bộ, thưa ngài, và tôi dám cá là sẽ có bộ đúng màu.”

“Rất tốt, vậy ngày mai tôi sẽ dẫn người đó đến đây, và anh sẽ hóa trang cho tôi trông giống hắn nhất có thể. Tôi sẵn sàng trả anh tờ năm bảng cho công việc này.”

“Vâng, thưa ngài, nếu tôi không đoán nhầm thì tôi có thể vẽ cho ngài trông đến nỗi ngay cả mẹ đẻ của hắn cũng chẳng thể nhận ra sự khác biệt.”

Will thuê một phòng trọ tại khách sạn George, và đến giữa trưa thì tới quán trọ nơi chiếc xe ngựa dừng chân. Gã đàn ông đang ngồi ở ghế ngoài mui xe.

“Thưa ngài, tôi đã tìm thấy gã người Pháp và đưa thư cho hắn rồi, thế là xong một phần việc.”

“Tốt lắm. Số lán của hắn là gì?”

“Số sáu mươi tám;” và gã đó miêu tả tỉ mỉ vị trí của nó.

“Rất tốt. Giờ chúng ta sẽ tiến hành phần thứ hai.”

Khi họ đến cửa hàng, người thợ cắt tóc xếp họ ngồi vào hai chiếc ghế sát cạnh nhau trong căn phòng phía sau cửa hàng và bắt tay làm ngay lập tức. Đầu tiên hắn lấy ra một bộ tóc giả và râu quai nón, qua vài nhát tỉa tót, hắn làm cho chúng có kích thước và hình dáng y hệt mái tóc trên mặt gã bán hàng rong. Sau đó hắn bắt đầu tô vẽ, trước tiên nhuộm mặt Will thành màu nâu đỏ giống màu da của gã kia, rồi tiếp tục thêm từng đường nét. Sau hai tiếng đồng hồ làm việc, hắn yêu cầu họ đứng cạnh nhau trước gương, và cả hai đều kinh ngạc; sự giống nhau quả thực là hoàn hảo. Lông mày của Will đã được nhuộm màu trắng xám, và một vài sợi lông dài được cấy thêm vào để tạo vẻ rậm rạp như của người bán hàng rong. Một vết chân chim được vẽ ở đuôi mỗi bên mắt, và một đường kẻ kéo từ mũi đến khóe môi. Cằm và phần dưới má được tô tối màu để tạo vẻ như đã lâu không cạo râu. Cả hai cùng bật cười khi nhìn vào hai khuôn mặt trong gương.

“Ngài đạt chuẩn rồi đấy, thưa ngài,” gã thợ nói. “Phải có một đôi mắt tinh tường lắm mới phát hiện ra điểm khác biệt giữa hai chúng ta đấy.”

“Ừ, tôi nghĩ thế là được rồi,” Will nói, “và để tăng thêm vẻ đánh lừa, khi bước vào, tôi sẽ dùng khăn tay và giả vờ bị cảm nặng.”

“Ở gần đây có tiệm làm giỏ không?” Will hỏi thợ cắt tóc.

“Thưa có, ngả rẽ đầu tiên bên phải, rồi rẽ trái đầu tiên, cách đó hai ba căn nhà là một cửa hàng nhỏ.”

“Tôi muốn anh đi ngay và chọn một chiếc có kích thước và hình dáng giống của anh,” Will bảo người đi cùng. “Khi thấy chiếc nào ưng ý, hãy bảo thợ làm đan cho nó một cái đáy giả. Tôi muốn nó có độ sập sao cho chừa lại một khoảng trống sâu bốn hoặc năm inch. Làm nó có hai quai xách, để có thể nhấc lên nhấc xuống được. Anh nghĩ hắn mất bao lâu để làm xong?”

“Tôi cho là khoảng một tiếng rưỡi.”

“Rất tốt; hãy bảo người đó giao nó đến khách sạn George, bọc trong giấy báo, đề người nhận là Mr. Earnshaw. Xong việc thì quay lại đây. Chúng ta không thể đi ra đường cùng nhau được; sự giống nhau kỳ lạ của hai ta sẽ bị chú ý ngay lập tức.”

“Giờ thì,” Will bảo gã bán hàng rong khi hắn quay lại, “hãy gặp tôi trên con đường cách chỗ rẽ xuống Porchester một trăm thước; mang theo một ít hàng hóa để tôi bỏ vào giỏ của mình. Dĩ nhiên là anh phải mang theo thẻ thông hành, và cả bộ quần áo anh đang mặc bọc trong một cái bói nữa. Tôi sẽ thay đồ ở đó; theo những gì tôi thấy thì rất hiếm khi có ai qua lại lối đó.”

Will liền đi dạo một lát, và khi trời tối hẳn, anh tháo bộ tóc giả và râu quai nón ra rồi lại đi vào thị trấn. Ở đây anh mua một cuộn dây thừng dài, rất mảnh nhưng vẫn đủ sức chịu đựng trọng lượng của một người, và một chiếc neo chụm lại phẳng phiu khi không dùng đến. Sau đó anh quay lại khách sạn George, quấn chiếc khăn quanh mặt như thể bị đau răng. Chiếc giỏ của anh đang đặt ở sảnh.

“Tôi sẽ không về phòng tối nay,” anh nói, “nên tôi xin thanh toán hóa đơn.”

Rồi, sau khi mua một bộ quần áo thủy thủ may sẵn, kèm theo cả mũ, anh bỏ chúng vào giỏ, thuê một cỗ xe và lái đi Fairham. Buổi sáng lúc chín giờ, anh đi bộ dọc theo con đường cái quan hướng về phía Cosham cho đến khi tới chỗ rẽ đi Porchester, đi xuống đó khoảng hai trăm thước và ngồi trên bờ cỏ cho đến khi thấy gã bán hàng rong đến gần.

“Buổi sáng sương mù thật đấy,” gã bán hàng rong cất lời khi tới nơi.

“Thế lại càng hay. Tôi hy vọng nó kéo dài qua ngày mai, và thế là họ sẽ không thể phát tín hiệu báo tin tù nhân vượt ngục. Chỉ trong thời tiết quang tảng thì các trạm thông tin quang học mới có thể nhìn rõ từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác thôi.”

Hàng hóa được chuyển từ giỏ của gã bán hàng sang chiếc giỏ mà Will đã mang tới.

“Được rồi, đây là một trăm bảng mà tôi đã hứa với anh; hy vọng anh hoàn toàn hài lòng chứ?”

“Hoàn toàn hài lòng, thưa ngài; đây là hai ngày làm việc tuyệt vời nhất đời tôi.”

“Giờ đến lượt quần áo của tôi,” Will nói; và khi không có ai nhìn thấy, anh nhanh chóng thay bộ đồ mà gã bán hàng rong mang tới.

“Chúng ta lại càng giống nhau hơn trước,” gã đàn ông cười vang nói, “nhưng ngài sẽ phải nhớ là tôi đi thọt chân đấy. Tôi dính một viên đạn vào chân trong trận chiến ở Trinidad, và đã được giải ngũ vì không đủ tiêu chuẩn phục vụ. Nhưng tôi nhận được một khoản lương hưu nhỏ, và quyền được bán hàng cho các tù nhân trong Lâu đài Porchester.”

“Tôi đã để ý thấy dáng đi thọt lúc gặp anh lần đầu,” Will nói, “và sẽ chẳng khó khăn gì mấy để bắt chước nó cả. Tôi coi đó là một điều may mắn, bởi khi lính canh thấy tôi đi khập khiễng qua, họ sẽ chẳng soi mói gì thêm đâu.”

“Vâng, thưa ngài, chúc ngài may mắn nhé. Ngài là vị quý tộc hào phóng nhất mà tôi từng gặp.”

Will giấu quần áo của mình vào một bụi cây gần đó, rồi bắt đầu cất bước, bắt chước dáng đi thọt của gã bán hàng chính xác đến nỗi gã đó phải phì cười nhìn theo trước khi khởi hành đi Fairham.

Có rất ít người trên đường phố của ngôi làng nhỏ yên bình khi Will bước qua. Khi đến gần lâu đài, anh bắt kịp bà bán táo béo mập, mụ ta chào anh như một người quen cũ, và họ cùng nhau bước vào lâu đài. Họ trình thẻ thông hành cho lính canh ở cổng, nhưng gã hầu như chẳng thèm nhìn lấy một cái. Sau đó họ tách ra, và Will, thỉnh thoảng dừng lại để bán dăm món đồ nhỏ, cuối cùng cũng tìm được đường đến lán của Lucien. Trong bức thư, anh đã thông báo cho Lucien lý do anh tìm cách giải thoát cho hắn, và dặn hắn vào giờ đó hãy đứng tựa vào góc lán. Khi Lucien thấy gã bán hàng rong tiến lại, nếu mọi việc an toàn hắn sẽ lùi vào trong, nhưng nếu có người khác ở bên trong thì hắn sẽ lắc đầu nhẹ. Khi Will đến gần chiếc lán, anh thấy một tù nhân đang đứng đó theo đúng chỉ dẫn của mình, nhưng gã ra hiệu báo nguy hiểm và Will bước qua. Anh làm thế hai lần, nhưng khi Will quay lại lần thứ ba, người đó lặng lẽ bước vào trong lán.

“Không còn một phút nào để lãng phí nữa,” Will nói khi bước theo vào, và anh lập tức nhấc chiếc đáy giả lên, lôi ra sợi dây thừng cùng chiếc neo móc. Anh đã thắt nút sợi dây cứ cách mỗi thước để hỗ trợ tù nhân trèo, đồng thời bọc phần sắt của chiếc neo bằng những dải nỉ để nó không phát ra tiếng động khi va vào tường.

“Hãy giấu chúng vào giường của anh. Đêm nay trời sẽ rất tối, và anh phải lẻn ra ngoài, tìm đường đến giữa bức tường phía nam. Ở đó hãy tung neo lên và trèo qua tường. Tôi sẽ đợi anh ở đó. Trông có vẻ trời sẽ vừa mưa vừa tối mịt mờ, thế nên anh hẳn sẽ có thể tránh được lính canh.”

Đúng lúc này, anh nghe thấy có tiếng người ở cửa, liền khéo léo thay đổi giọng điệu mà rằng: “Anh không thích những màu sắc này cho một chiếc chăn trải giường à? Được rồi, mấy ngày nữa tôi sẽ lấy hàng mới từ London về, và tôi chắc chắn anh sẽ chọn được thứ vừa ý. Chào buổi sáng!”

Rồi anh quay người chào bán vài món hàng cho người mới đến, người này mua một khúc gỗ để đẽo tàu thủy cùng một ít dây thừng và mấy thứ để làm giăng buồng. Khi rời khỏi lán, anh đi quanh sân cho đến khi tống khứ được kha khá hàng hóa, rồi rời khỏi nhà tù và quay trở lại nơi anh đã giấu quần áo của mình. Tới nơi, anh thay đồ ngay lập tức, chùi sạch phẩm màu trên mặt, vứt bỏ tóc giả và râu quai nón, giấu chiếc giỏ vào một nơi mà anh và gã bán hàng đã thỏa thuận trước, cùng với bộ quần áo bên trong và thẻ thông hành giấu trong một chiếc túi áo, rồi quay lại làng, thuê một cỗ xe ngựa và lái đi Fairham.

“Chủ quán,” anh nói khi xe đỗ trước khách sạn chính, “tôi sẽ cần một chiếc xe ngựa trạm đi London vào tối nay. Tôi sẽ dự tiệc tối nay và không rõ lúc nào mới rời đi được, nhưng hãy chuẩn bị sẵn ngựa để cày kéo vào lúc mười hai giờ nhé. Nếu chúng có phải đợi một hai giờ thì anh cũng không thiệt thòi đâu.”

Sau khi đặt bữa tối, anh đi dạo quanh thị trấn cho đến khi nghĩ rằng nó sắp sửa được dọn lên. Rồi anh hỏi thuê một phòng, thay ra bộ quân phục hải quân mà anh đã mang theo bên mình. Anh thưởng thức bữa tối ngon lành, rồi khoác áo choàng lên, bắt đầu đi bộ quay lại Porchester, mang theo một chiếc túi xách đựng bộ đồ thủy thủ mà anh đã mua cho Lucien. Đêm tối như mực, trời đổ mưa tầm tã, nhưng dù chuyến đi bộ chẳng mấy dễ chịu gì, anh vẫn đang rất phấn chấn. Trong thư gửi cho Lucien, anh đã dặn rằng nếu có chuyện gì ngăn cản hắn đến chân tường vào tối đó thì anh sẽ đợi hắn vào tối hôm sau. Dù vậy, anh vẫn tin chắc rằng trong những hoàn cảnh thuận lợi thế này, anh sẽ có thể lọt qua hàng lính canh một cách dễ dàng. Anh tiến đến một vị trí mà anh đoán là trung tâm bức tường phía nam, trên dải đất hẹp giữa bức tường và hồ nước. Anh chờ chừng một tiếng đồng hồ thì nghe thấy một tiếng động khẽ cách chỗ mình vài thước. Anh di chuyển về hướng phát ra tiếng động và vừa vặn trông thấy Lucien đặt chân xuống đất.

“CẬU ẤY VỪA VẶN TRÔNG THẤY LUCIEN ĐẶT CHÂN XUỐNG ĐẤT”

“Tạ ơn trời,” anh nói bằng tiếng Pháp, “rằng tôi đã giải thoát được cho anh như lời tôi đã hứa với người thương của anh! Giờ trước hết chúng ta hãy đi ngược lên làng. Tôi có sẵn một bộ đồ thủy thủ cho anh trong chiếc túi này; anh có thể thay nó khi chúng ta đi qua khỏi mấy ngôi nhà, và ném bộ đồ anh đang mặc xuống cái ao đằng kia, kẹp thêm vài hòn đá cho chúng chìm xuống.”

“Ôi, thưa ngài, làm sao tôi có thể cảm ơn ngài cho đủ đây?” Lucien nói.

“Tôi chỉ đang trả nợ thôi. Marie đã liều lĩnh rất nhiều để giúp đỡ tôi, và tôi đã thề sẽ đưa anh ra khỏi nhà tù bằng mọi giá nếu có thể, thế nên chẳng có lý do gì phải cảm ơn cả.”

Chẳng có mấy lời qua lại giữa họ khi đi xuyên qua ngôi làng, và khi đã bỏ lại nó phía sau, Lucien thay quần áo và xử lý bộ đồ cũ theo cách Will đã gợi ý.

“Cần phải tống khứ chúng đi,” Will bảo, “bởi nếu sáng ra chúng bị phát hiện thì sẽ cho thấy là anh đã có đồ thay đổi, và thay vì tìm kiếm ai đó mặc quân phục sờn cũ, họ sẽ hướng sự chú ý sang những người khác.”

Họ cuốc bộ đến Fairham, và tới khách sạn đúng lúc nơi đây sắp đóng cửa, chiếc xe ngựa chạy tuyến cố định vừa rời đi cách đó vài phút. Họ ăn chút đồ giải khát, rồi lên xe ngựa. Ngay lập tức mấy tên đánh xe quất roi, và bốn con ngựa chồm lên phi nước đại.

“Giờ thì chúng ta hoàn toàn an toàn rồi,” Will nói; “họ sẽ không phát hiện ra việc anh biến mất cho đến điểm danh buổi sáng mai, và đến lúc đó chúng ta đã ở cách London chỉ vài dặm. Với thời tiết thế này thì họ chẳng thể phát tín hiệu liên lạc được đâu. Trước khi đến nơi, tôi sẽ mặc lại thường phục, và ngay khi trả xong tiền xe ngựa, chúng ta sẽ ghé tiệm vải sắm cho anh một bộ đồ. Có quá nhiều người tị nạn ở London nên việc anh nói tiếng Pháp sẽ chẳng thu hút sự chú ý nào đâu.”

Hành trình diễn ra nhanh chóng. Will rất hào phóng với những kẻ đánh xe ở chặng đầu tiên, và họ lại hối thúc những người ở chặng tiếp theo, cứ thế từ trạm này sang trạm khác họ phi nước đại với tốc độ chóng mặt, vượt qua quãng đường chín mươi dặm với thời gian vô cùng nhanh chóng vào thời kỳ đó là mười tiếng đồng hồ. Đến trạm cuối, Will xin một căn phòng riêng trong vài phút để thay quần áo. Họ dừng trước một ngôi nhà riêng, và sau khi nhìn chiếc xe ngựa trạm phóng đi, họ xách túi bước đi cho đến khi tới một tiệm may.

“Tôi muốn sắm cho người của tôi thường phục trong thời gian ở thị trấn cùng tôi,” Will nói với người bán hàng.

“Vâng, thưa ngài. Loại trang phục thế nào ạ?”

“Ồ, chỉ là thường phục bình thường, kiểu như người hầu mặc lúc không diện đồng phục thôi!”

Lucien nhanh chóng được sắm cho một bộ đồ giản dị nhưng lịch sự, và nhét bộ đồ thủy thủ vào túi, họ tiếp tục lên đường. Họ rảo mắt tìm kiếm một hồi lâu mới tìm được một nhà trọ thích hợp, cuối cùng họ cũng thấy một khách sạn kiểu Pháp. Bước vào, Will bằng tiếng Pháp hỏi thuê hai phòng. Họ được sắp xếp phòng ốc ngay lập tức, và sau khi rửa mặt mũi đầu tóc chỉnh tề, họ đi xuống phòng cà phê, nơi có vài quý ông người Pháp đang dùng bữa sáng. Mọi chuyện đã được sắp xếp là Will sẽ nói họ là hai người tị nạn vừa trốn thoát khỏi nước Pháp.

Hôm sau, họ đón xe ngựa đến Weymouth, cảng biển thời bấy giờ duy trì liên lạc với nước Pháp thông qua những kẻ buôn lậu và những kẻ hành nghề giúp đỡ những người tị nạn Pháp muốn trốn chạy, hoặc những người theo phái Bảo hoàng qua lại tìm cách gây dựng phong trào chống lại nền Cộng hòa. Khi dò hỏi, họ biết được một gã sở hữu một chiếc thuyền nhỏ chạy cực nhanh, và họ liền tìm đến hắn. “Vị quý tộc này muốn sang bên kia,” Will nói. “Anh sẽ lấy giá bao nhiêu?”

“Còn tùy việc cậu ta có chịu đợi tôi đón thêm vài hành khách nữa hay không.”

“Cậu ấy đang vội,” Will nói; “nếu chở một mình cậu ấy thì anh lấy giá thế nào?”

“Năm mươi bảng,” gã đó đáp. Will thấy tốt hơn là không nên tỏ ra mừng rỡ vồ vập lấy mức giá đó.

“Khá là đắt đỏ đấy,” anh nói; “tôi nghĩ ba mươi lăm bảng là quá đủ rồi.”

“Nghe có vẻ là một khoản hời,” gã đó nói; “nhưng ngài thấy đấy, có rất nhiều rủi ro. Tôi có thể bị một chiến thuyền Anh tuần tra chặn lại khám xét.”

“Anh có thể bị,” Will nói; “nhưng khi họ biết nghề nghiệp của anh, họ sẽ chẳng can thiệp đâu.”

“Rồi còn nhà chức trách cảng nữa chứ,” gã đó nói.

“Đúng, nhưng vài đồng franc sẽ ngăn họ đặt ra những câu hỏi phiền phức. Hơn nữa, bạn tôi không phải người theo phái bảo hoàng, anh ấy chỉ sang thăm người nhà thôi.”

“Thôi được, cứ ba mươi lăm bảng đi,” gã đó mỉm cười nói. “Các người muốn khởi hành lúc nào?”

“Cậu ấy không quan trọng việc nhổ neo tối nay hay sáng mai.”

“Vậy thì sáng mai lúc bình minh đi.”

“Anh sẽ thả cậu ấy ở đâu?”

“Ở Cherbourg hoặc một ngôi làng nào đó gần đấy; khả năng cao là Cherbourg nếu bờ biển quang đãng, vì tôi có bạn bè ở đó làm ăn cùng tôi.”

Họ vào khách sạn nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau, Will trao cho Lucien một gói nhỏ đựng một chiếc đồng hồ vàng kèm dây đeo rất đẹp mà anh đã mua ở London.

“Hãy trao cái này cho Marie thay cho tôi,” anh nói; “tôi đã hứa con bé sẽ có một chiếc vào ngày cưới của nó. Đây là một nghìn franc tiền Pháp, sẽ giúp anh đi lại thoải mái từ Cherbourg về Verdun và cho anh một chút vốn liếng khởi nghiệp ở đó. Không, anh không cần phải từ chối đâu, tôi là một người giàu có, và tôi có thể lo được mà chẳng ảnh hưởng gì đến bản thân cả. Gửi lời thăm hỏi của tôi đến Marie,” anh dặn, “và bảo với cô ấy rằng tôi sẽ không bao giờ quên lòng tốt của cô ấy.”

Lucien tuôn trào những lời tri ân sâu sắc, nhưng Will ngắt lời bằng cách hối thúc anh chạy nhanh xuống chiếc thuyền đang neo đậu ở bến tàu với những cánh buồm đã được giương lên. Will đứng nhìn theo chiếc thuyền cho đến khi nó ra hẳn ngoài khơi xa, rồi bắt chuyến xe ngựa tiếp theo quay về London, lòng tràn ngập niềm vui vì đã thực hiện được kế hoạch và đền đáp lòng tốt mà Marie từng dành cho mình.

Anh đã đưa cho Lucien địa chỉ người đại diện của mình ở London, để khi đến Verdun, anh ấy có thể viết thư báo tin chuyến đi suôn sẻ ra sao và khi nào thì anh và Marie tổ chức lễ cưới. Bức thư đó đã được gửi đến tay anh khi anh vừa trở về sau chuyến hải trình tiếp theo. Nó chứa đựng những lời cảm ơn chân thành nhất từ Marie và vị hôn phu của cô, cùng thông tin rằng họ sẽ kết hôn vào tuần tới và anh thanh niên nọ đã nhận được một công việc tốt trong thị trấn.

Khi đến London, Will tìm địa chỉ của một luật sư uy tín và đến xin lời khuyên về việc đăng quảng cáo tìm kiếm một gia đình mang chiếc gia huy trên con dấu của anh.

“Tôi khuyên anh,” vị luật sư nói, “nên gác lại chuyện này cho đến khi anh từ biển khơi trở về. Những vấn đề thế này luôn đòi hỏi rất nhiều thời gian để giải đáp. Anh sẽ phải có mặt để cung cấp thông tin, và khi vấn đề đã được xúc tiến thì phải đẩy mạnh một cách quyết liệt. Dĩ nhiên chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn. Việc chiếc gia huy này nằm trong tay cha anh, nghĩa là nếu ông ấy thực sự là cha anh, thì chừng đó vẫn chưa đủ để chứng minh thân phận của ông, và sẽ có đủ loại điều tra cần tiến hành, điều đó chắc chắn sẽ tốn thời gian. Nếu anh giao phó việc này cho tôi, tôi sẽ cho người tiến hành điều tra về chiếc gia huy ấy. Việc đó có lẽ chỉ mất một hoặc hai ngày, và có lẽ anh sẽ thấy thỏa mãn khi biết được dòng tộc mà mình có thể có liên quan. Những trì hoãn sẽ chỉ xảy ra ở các bước tiếp theo mà thôi.”

“Cảm ơn ngài! Quả thực tôi rất muốn biết, dẫu tôi hoàn toàn hiểu rằng, như ngài nói, việc xác lập dòng dõi của mình sẽ rất khó khăn đối với tôi.”

Vị luật sư liền ghi chép lại những chi tiết mà Will có thể cung cấp về thời niên thiếu của anh. Khi anh quay lại một tuần sau đó, vị luật sư đón tiếp anh niềm nở.

“Tôi xin chúc mừng anh, Mr. Gilmore,” ông nói. “Người đứng đầu dòng tộc mang gia huy đó là Sir Ralph Gilmore, một trong những nam tước lâu đời nhất của chúng ta. Ông ấy không có con trai nối dõi. Ông từng có một người con trai đã qua đời sáu năm trước. Còn một người con trai nữa, là con út, người mà không có bất kỳ ghi chép nào. Cậu ta có thể còn sống hoặc đã chết; điều đó không ai rõ. Dĩ nhiên, vẫn có khả năng anh đã bị người cha nuôi của anh đánh cắp từ khi còn là một đứa trẻ, và ông ấy đã đặt cho anh họ của dòng tộc đó để khi thời cơ đến có thể đưa anh ra, nhưng tất nhiên đó chỉ là phỏng đoán. Khi anh trở về từ biển, tôi sẽ cử người dò tìm, nếu có thể, những chặng đường lang thang của người này; nhưng như tôi đã nói, việc này sẽ mất thời gian, và vì anh sẽ phải ra khơi trong hai tuần nữa nên cứ gác lại chuyện này đã. Chừng nào anh còn ở trên tàu thì thân thế của anh cũng chẳng ảnh hưởng mấy đến anh đâu.”

Will vẫn còn hai tuần nghỉ phép. Anh lang thang quanh London trong hai ngày, nhưng anh thấy khá tẻ nhạt khi đã hoàn thành xong công việc mà lại chẳng quen biết ai ở trong thành phố này. Vào ngày thứ hai, khi anh đang đi dọc theo một con phố thời thượng ở Bloomsbury, băn khoăn không biết có nên bắt chuyến xe ngựa tiếp theo về Portsmouth — nơi chắc chắn anh sẽ gặp lại những người bạn cũ — thì một cỗ xe lướt qua anh, do một cặp ngựa đẹp kéo. Một tiểu thư ngồi trong xe tình cờ nhìn thấy anh. Ban đầu cô liếc nhìn anh lơ đãng, rồi sau đó với vẻ đầy hứng thú. Cô ra lệnh dừng xe trước khi nó đi được vài thước, và khi Will bước tới, cô nhìn anh chằm chằm. “Xin lỗi ngài,” cô nói khi anh đang đi ngang qua; “nhưng có phải ngài là Mr. Gilmore không?” Quá đỗi ngạc nhiên, anh đáp lời khẳng định.

“Em biết ngay mà!” cô thốt lên. “Ngài không nhớ em sao?”

Anh nhìn cô chằm chằm. “Sao cơ — sao cơ,” anh ngập ngừng, “chẳng lẽ lại là—”

“Nhưng chính là em đây!” cô kêu lên. “Em là Alice Palethorpe!”

“Miss Palethorpe!” anh thốt lên, nắm chặt bàn tay cô đang đưa ra. “Có thể thế được sao?”

“Không phải Miss Palethorpe đâu,” cô nói. “Đối với anh, em là Alice, như gần bốn năm về trước. Mau lên xe đi. Cha em sẽ rất vui mừng khi gặp lại anh. Chúng ta đã nhắc đến anh rất nhiều lần. Khi trở về nhà, cha đã dò hỏi ở Bộ Hải quân nhưng phát hiện ra anh đang bị giam làm tù binh ở Pháp, và ông đã cố gắng đưa tên anh vào danh sách những người được trao đổi tù binh, nhưng vì quen biết quá ít nên ông không thành công, và quả thực, trong hai năm qua chẳng có cuộc trao đổi nào diễn ra cả.”

Đến lúc này anh đã ở trên xe, và họ đang chạy nhanh qua những con phố đông đúc. Chẳng mấy chốc họ dừng lại trước một ngôi nhà lớn ở Quảng trường Bedford.

“Đây là tổ ấm của chúng em, ít nhất là vào lúc này,” cô nói. “Giờ thì vào nhà thôi.”

Cô chạy lên lầu trước anh và ra hiệu cho anh đợi ở đỉnh cầu thang. “Cha,” cô vừa nói vừa xông vào một phòng khách, “con vừa bắt được một tù nhân; một người chắc chắn cha không ngờ lại gặp đâu. Nào, cha đoán thử xem.”

“Làm sao cha đoán được, con yêu, khi con bảo là cha không ngờ gặp cơ chứ? Có phải là —?” và ông kể tên năm hoặc sáu người bạn của mình ở Jamaica, bất kỳ ai trong số họ cũng có thể đang quay về.

“Không, thưa cha. Cha đoán trật lất rồi.”

“Thế thì cha chịu thua thôi, Alice.”

“Là Will cơ,” cô đáp.

Will nghe thấy ông vùng đứng dậy và vội vã tiến ra cửa.

“Bạn trẻ quý mến của tôi!” ông thốt lên. “Ít ra thì tôi đoán đúng là cậu rồi đấy, chứ cậu đã lớn đến mức tôi chẳng tài nào nhận ra nổi nữa.”

“Cha thấy chưa!” cô tiểu thư chen vào. “Con đã bảo là anh ấy có thay đổi nhiều đâu mà đến mức đánh lừa được con. Con cảm thấy chắc chắn về anh ấy ngay từ khoảnh khắc chạm trán đầu tiên cơ mà.”

“Ừ, vậy thì đôi mắt của con quả đáng khen đấy,” cha cô nói. “Dĩ nhiên là cha sẽ chẳng thể nhận ra cậu ta nổi. Cậu ấy đã từ một thiếu niên trổ mã thành một người đàn ông kể từ lần cuối chúng ta gặp mặt. Cậu ấy đã vạm vỡ lên trông thấy. Hồi đó trông cậu ấy có vẻ gầy gò.”

“Ồ cha ơi, sao cha lại nói thế chứ? Con thấy hồi đó anh ấy vừa vặn lắm cơ mà.”

“Ừ, con yêu, cha hiểu rõ điều đó chứ. Hồi ấy cậu ta hoàn hảo trong mắt con rồi, nhưng dù sao thì cậu ta vẫn gầy.”

“Ngài nói hoàn toàn chính xác, thưa ngài, hồi đó tôi gầy thật, và tôi thực sự ngạc nhiên vì nay mình lại béo lên được từng này đấy. Chế độ ăn của một tù nhân Pháp thì chẳng mấy khi giúp người ta mập mạp lên được. Nhưng con gái ngài không chỉ tinh mắt hơn ngài, mà thậm chí còn hơn cả chính bản thân tôi nữa. Cho đến khi cô ấy bắt chuyện, tôi hoàn toàn chẳng có chút manh mối nào về việc cô ấy là ai. Tôi thấy cô ấy có vẻ nhận ra mình, nhưng tôi lại sợ rằng nếu nhìn chằm chằm vào cô ấy thì sẽ bất lịch sự. Dĩ nhiên là giờ thì tôi nhận ra nét quen thuộc của Alice ngày nào, nhưng cô ấy đã thay đổi nhiều hơn tôi rất nhiều. Hồi đó cô ấy chỉ là một cô bé mười bốn tuổi, quả thực tôi thấy rất xinh xắn, nhưng vẫn chỉ là một đứa trẻ—” và anh ngừng bặt. ý anh muốn nói là—

“Ý anh là em đã lớn thành một thiếu nữ, và đã mất đi vẻ xinh xắn rồi chứ gì?”

“Tôi nghĩ tấm gương soi của cô sẽ kể cho cô nghe một câu chuyện khác,” anh cười lớn. “Nếu nó không kể thế, chắc chắn chiếc gương đó phải có vấn đề lớn rồi.”

“Thôi nào, hãy ngồi xuống đi,” cha cô nói. “Cậu hẳn có vô số chuyện để kể cho chúng ta nghe đấy.”

“Đó là một câu chuyện dài,” Will đáp, “quá dài để kể một lèo cho hết được. Hơn nữa, tôi muốn hỏi vài điều. Khi nào gia đình về nước vậy? Gia đình về định cư hẳn luôn chứ? Nếu không thì định ở lại bao lâu? Dù tôi rất tiếc phải nói rằng thời gian chuyến thăm của gia đình có lẽ chẳng ảnh hưởng là bao đến tôi, vì tôi đã được bổ nhiệm làm trung úy thứ hai của chiếc Jason và phải trình diện sau vài ngày nữa.”

“Tôi xin nhiệt liệt chúc mừng cậu, Will,” Mr. Palethorpe nói. “Cậu thật may mắn khi có được sự thăng tiến như vậy từ sớm.”

“Tôi vô cùng may mắn, thưa ngài. Dù lúc này tôi lại hơi ước gì nó đừng đến quá sớm như thế.”

“Trả lời câu hỏi của cậu, Will, tôi có thể nói rằng chúng tôi đã về nước định cư hẳn. Tôi đã bán đi điền trang và thanh lý công việc kinh doanh, chủ yếu, tôi nghĩ là vì cô tiểu thư này đã quyết tâm rằng cô ấy thích nước England hơn là Jamaica.”

“Tôi rất vui khi nghe điều đó, thưa ngài. Tôi sẽ có điều để mong ngóng mỗi khi quay trở lại England.”

“Cậu đang trọ ở đâu thế?”

“Ở khách sạn Golden Cross.”

“Vậy thì cậu phải đến dọn hành lý về đây ngay lập tức. Thật kỳ quặc nếu cậu lại đi trọ ở một ngôi nhà nào khác ngoài nhà của tôi trong lúc ở London chứ.”

Nhận thấy vị chủ đồn điền không chấp nhận lời từ chối nào, Will vui vẻ nhận lời mời, bắt một chiếc xe ngựa chạy đến khách sạn, thanh toán hóa đơn và mang đồ đạc đi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.