Một hôm trong thời gian cuộc vây hãm, Nelson nói với Will: “Ông Gilmore, tôi rất lấy làm vinh hạnh nếu ông có thể đồng hành cùng tôi trong một chuyến khảo sát dọc theo bờ biển. Tôi đã nhắm được một vị trí mà từ đó, nếu chúng ta đưa được đại bác lên, ta sẽ có thể khống chế được thị trấn. Qua những gì tôi quan sát được ở ông, tôi tin rằng ông am hiểu về việc bố trí pháo binh hơn bất kỳ ai ở đây, vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến của ông về địa thế này.”
Will tất nhiên bày tỏ sự sẵn lòng, và họ lập tức lên xuồng máy khởi hành. Họ chèo một lúc lâu, chăm chú quan sát các ghềnh bãi có thể đổ bộ. Cuối cùng, Nelson ra hiệu cho các thủy thủ ngừng chèo và chỉ về phía dãy sườn núi mà ông vừa nhắc tới.
“Nào, ông nghĩ sao?” ông hỏi, sau khi Will đã quan sát kỹ lưỡng từ trên xuồng.
“Tôi e rằng kế hoạch của ngài khó lòng thực hiện được, thưa ngài. Công sức kéo những khẩu đại bác từ bờ biển lên sẽ vô cùng lớn, và với địa hình hiểm trở thế này, tôi nghi ngờ việc liệu có thể đưa chúng vượt qua để đến sườn núi một khi đã lên tới đỉnh hay không.”
“Không, tôi đồng tình với ông. Ban nãy tôi đã không quan sát kỹ đến thế; và dẫu sao đi nữa, với lực lượng quá mỏng của chúng ta lúc này, ta không thể cắt cử đủ người cho công việc ấy. Dù vậy, chúng ta cứ chèo dọc bờ biển thêm chút nữa đi. Tôi tin chắc rằng nếu chúng ta có thể đưa ba hoặc bốn trăm quân đổ bộ cách thị trấn chừng năm sáu dặm, rồi đồng loạt tấn công từ hai phía, chúng ta sẽ chiếm được nơi này mà không tốn mấy công sức. Người Pháp đã chiến đấu rất ngoan cường, nhưng chắc hẳn họ đã nản lòng từ lâu rồi. Người Pháp vốn căm ghét cảnh bị dồn vào chân tường, và khi thấy các chiến lũy của chúng ta ngày một vươn lên, họ thừa hiểu rằng sớm muộn gì cũng phải đầu hàng. Tôi đoán lúc này họ đang tự hỏi nhau rằng cố chống đỡ để rồi chịu chết làm gì khi cuối cùng vẫn phải buông súng.”
Họ chèo thêm chừng hai tiếng đồng hồ mà vẫn chưa chọn được chỗ nào thích hợp, thì Nelson thốt lên: “Chúng ta sắp bị sương mù bao vây rồi. Thật là phiền toái hết sức. Trên xuồng có mang theo la bàn không vậy?” ông hỏi, quay sang gã lái xuồng.
“Thưa không, ngài ạ. Tôi cứ nghĩ ngài chỉ ra tàu rồi quay về ngay, nên không nghĩ đến việc mang theo la bàn.”
“Đừng bao giờ quên la bàn, anh bạn ạ,” Nelson nói, “vì dẫu bầu trời có trong xanh khi khởi hành, một cơn bão bất ngờ vẫn có thể ập đến và thổi dạt các anh đi xa khỏi chiến thuyền. Dù sao thì giờ cũng chẳng thể cứu vãn được nữa.”
Chưa đầy mười phút sau, chiếc xuồng đã bị nuốt chửng trong lớp sương mù dày đặc. Tình thế quả thực vô cùng ngặt nghèo. Giá như có chút gió, họ còn có thể định hướng nhờ tiếng sóng vỗ rì rào dưới chân vách đá, ngặt nỗi mặt biển lại lặng như tờ và chẳng nghe thấy âm thanh gì. Họ chèo thêm một lúc rồi Nelson ra hiệu: “Thu chèo lại đi các anh, biết đâu chúng ta đang bơi ngược hướng mất rồi. Ta đành phải ở lại đây cho đến khi sương mù tan hẳn, dẫu có mất cả tuần đi nữa. Đây là thứ sương mù phương bắc,” ông nói với Will. “Luồng gió lạnh thổi xuống từ dãy Alps và ngưng tụ lại khi chạm mặt biển. Những trận sương mù thế này không phổ biến lắm, nhưng đôi khi chúng kéo dài khá lâu.”
Buổi chiều trôi qua, và chẳng mấy chốc màn đêm buông xuống. Trên xuồng chẳng còn chút thức ăn nào. Các thủy thủ nhai thuốc lá miểng để đỡ lòng, nhưng hai vị sĩ quan thì không thể tìm chút khuây khỏa ấy. Khi đêm xuống, Nelson và Will quấn mình trong áo khoác đi biển, cố tìm chút thoải mái qua những giấc ngủ chập chờn không trọn vẹn. Sáng hôm bức lên mà mọi thứ vẫn chẳng hề đổi thay; một bức tường sương mù trắng xóa bao bọc lấy chiếc xuồng tứ phía.
“Tình hình này thật phiền toái,” Nelson nói. “Ước gì có khẩu pháo nào bên chiến lũy bắn lên vài phát; điều đó có thể cho ta chút manh mối về vị trí hiện tại, dẫu tôi chẳng dám chắc rằng trong thứ không khí đặc quánh này âm thanh có thể truyền đi xa đến thế. Tôi nghĩ lúc sương mù ập tới, chúng ta cách đó khoảng mười một dặm.”
Đến buổi chiều, một làn gió nhẹ thổi lên.
“Cầu trời cho gió cứ tiếp tục thế này!” Nelson nói. “Dù nhẹ thế nào đi nữa, chỉ cần hai ba tiếng gió thổi cũng đủ tạo ra những con sóng gợn, và khi ấy chúng ta có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ vào vách đá.”
Hết giờ này qua giờ khác trôi qua, cuối cùng gã lái xuồng mới cất tiếng: “Tôi hình như nghe thấy tiếng động nhỏ phía bên phải ngài ạ.”
“Tôi đã ngờ ngợ điều đó từ nãy rồi,” Will nói, “nhưng tôi chưa dám lên tiếng cho đến khi chắc chắn.”
“Đưa chèo ra,” Nelson ra lệnh, “và chèo theo hướng đó.” Âm thanh ngày một rõ hơn khi họ tiến tới, và chẳng mấy chốc họ tin chắc rằng mình đang hướng về phía đất liền. Chỉ trong mười lăm phút, chiếc xuồng đã lướt lên một bãi cát.
“Tôi chưa từng thấy nơi này trước đây, hẳn nó phải ở xa thị trấn hơn điểm chúng ta đã đến, và vì chúng ta đã trôi dạt trong sương mù gần hai mươi tư giờ, dòng hải lưu có thể đã đưa ta đi xa tới nhiều dặm. Dù sao thì ta cũng lên bờ thôi. Tôi đã khát khô cả cổ, và chắc các anh cũng vậy, hỡi các bạn. Hãy để lại hai người trên xuồng; số còn lại sẽ cùng tôi đi tìm nguồn nước và mang xuống cho những người ở lại khi tìm thấy. Tôi nghĩ chúng ta nên tản ra tìm lối lên vách đá. Nếu tìm được đường mòn, ta cứ thế đi theo cho đến khi gặp nhà dân. Nơi nào có nhà cửa thì ắt có nước. Ông Gilmore và tôi sẽ đi về phía bên phải. Nếu ai tìm thấy nước, hãy hô lên; chúng tôi cũng sẽ làm vậy. Nhưng dù tìm được nước hay không, mọi người cũng phải quay lại xuồng sau ba tiếng nữa. Dù khát hay không khát, chúng ta chiều nay vẫn phải chèo xuồng trở về thị trấn. Nào, ông Gilmore, chúng ta hãy đi dọc bãi biển cho đến khi gặp đường mòn hoặc ít ra là một chỗ nào đó có thể leo lên. Tôi hy vọng càng lên cao, sương mù sẽ càng loãng bớt.”
Suốt một giờ đồng hồ, họ dò dẫm bước đi dọc chân vách đá, rồi khi tìm thấy một chỗ có vẻ bớt dốc hơn những nơi khác, họ bắt đầu bẻ tay leo lên. Khi đã lên tới độ cao chừng ba bốn trăm thước, họ vượt qua khỏi lớp sương mù để bước vào bầu ánh nắng rực rỡ. Bên dưới họ là một biển mây trắng bồng bềnh trải dài. Bốn bề là những ngọn đồi nối tiếp nhau, phần lớn được phủ kín bởi thảm lá xanh rờn.
“Tôi thấy có làn khói bốc lên từ đám cây phía bên phải đằng kia, thưa ngài, cách đây chừng một dặm hoặc một dặm rưỡi.”
“Tôi tin lời ông, ông Gilmore. Như ông biết đấy, thị lực của tôi vốn chẳng còn tốt đẹp gì. Ta hãy lên đường ngay thôi, vì nghĩ đến nước thôi cũng đủ khiến tôi khát cháy cổ hơn bao giờ hết.”
Đi bộ chừng nửa tiếng, họ tới trước căn lúp xúp của một người dân nghèo. Chủ nhà bước ra cửa khi thấy họ đến gần. Đó là một gã đàn ông có vẻ ngoài thô kệch trong chiếc áo khoác dài làm bằng da dê, chiếc quần thô thùng thình dài tới đầu gối, và cẳng chân được quấn những dải băng vải dày. “Các người là ai,” hắn cất tiếng hỏi bằng thứ ngôn ngữ bản địa, “và sao lại đến đây?” Vì cả hai vị sĩ quan đều không hiểu nổi dù chỉ một từ trong thổ âm vùng ấy, họ đành dùng hiệu tay để ra điều họ muốn xin chút đồ ăn thức uống. Người nông dân hiểu ý, liền ra hiệu mời họ bước vào chúp. Khi họ vừa bước vào, hắn dặn dò mấy điều với một cậu bé, đứa trẻ liền đi ra ngoài và chẳng mấy chốc quay lại với một vại nước. Trong lúc hai vị sĩ quan đang hớp từng ngụm nước làm dịu cơn khát, đứa bé lại đi ra ngoài, còn người đàn ông lấy từ trong chạn ra một ít bánh mì đen và phô mai sữa dê bày lên trước mặt họ.
“Tôi không thích cung cách của gã này cho lắm, thưa ngài. Hắn cứ thập thò như đang cố kéo dài thời gian ra thì phải. Cả đứa bé cũng biến mất rồi.”
“Biết đâu nó đi lấy thêm nước thì sao,” Nelson đoán chừng.
“Nó thừa sức đi đi lại lại cả chục bận rồi ấy chứ, thưa ngài. Rất có thể hắn tưởng chúng ta là sĩ quan Pháp. Một kẻ nhà quê sống ở chốn khỉ ho cò gáy này, cách thị trấn mười sáu hay hai mươi dặm, có khi còn chẳng biết rằng đang có quân Anh xuất hiện trong vùng.”
Sau khi đã làm dịu đi cái đói và cơn khát, họ cố ra hiệu cho người đàn ông biết rằng họ muốn mua toàn bộ số bánh mì và phô mai hắn có, kèm theo một cái vại lớn để đựng nước.
Gã đàn ông tỏ ra đần độn một cách kỳ lạ, và dẫu đôi mắt hắn sáng rực lên khi Nelson chìa ra những đồng tiền vàng, hắn vẫn có vẻ không tài nào hiểu nổi việc họ muốn mua thêm khi đã ăn uống thỏa thuê rồi. Cuối cùng, Nelson tức giận thốt lên: “Này anh bạn, đây là một đồng souverain, trị giá ít nhất gấp hai mươi lần chỗ bánh mì và phô mai nghèo nàn của anh. Anh không muốn nhận tiền thì thôi, nhưng số thức ăn này chúng tôi lấy đi là cái chắc,” rồi ông chỉ tay về phía đếm dự trữ của hắn. Vừa lúc ông cất lời, có tiếng bước chân vang lên bên ngoài, và chỉ một khoảnh khắc sau, khung cửa tối sầm lại bởi sự xuất hiện của một tá bóng người hoang dã, chúng lao thẳng vào hai vị sĩ quan trước khi họ kịp có bất kỳ động thái nào để tự vệ.
Nelson hoài công cố dùng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Ý để giải thích. Bọn chúng chẳng buồn lắng nghe, mà chỉ tuôn ra những lời nguyền rủa mỗi khi họ định cất tiếng. Từ “Français” vang lên liên tục trong những lời lảm nhảm của chúng, trộn lẫn với những biểu cảm rõ mồn một của lòng căm hận.
“Tình thế này gay go đây, ông Gilmore,” Nelson điềm tĩnh nói khi cả hai bị trói giật cánh khuỷu nằm một góc trong chúp. “Chưa bao giờ tôi lâm vào hoàn cảnh nào éo le hơn thế này.”
“Tôi từng rơi vào một hoàn cảnh tồi tệ không kém một lần rồi. Tôi bị một nhúm thổ dân da đen ở Cuba bắt giữ, và bọn họ đang chuẩn bị thiêu sống tôi thì tôi may mắn trốn thoát được.”
“Tôi cũng chẳng ngạc nhiên gì nếu đó là điều mấy vị quý ông này đang chuẩn bị làm với chúng ta lúc này đấy, Gilmore. Tôi rất tiếc vì đã kéo ông vào rắc rối này.”
“Chuyện đã đến nước này thì đành chịu thôi, thưa ngài,” Will vui vẻ đáp; “và nếu họ có giết chúng ta đi chăng nữa, sự mất mát của tôi đối với quốc gia chẳng thấm vào đâu so với ngài cả. Rõ ràng là họ tưởng chúng ta là sĩ quan Pháp lạc lối trên núi, và đang chuẩn bị trừng phạt chúng ta vì tội ác của những kẻ mà họ tưởng là đồng bào ta. Chỉ có hai điều may ra cứu chúng ta thoát khỏi cảnh này theo như tôi thấy. Một là sự xuất hiện của một vị linh mục; tôi đoán ở vùng này thể nào chẳng có mấy thầy tu biết tiếng Pháp hoặc tiếng Ý. Hai là sự xuất hiện của đám thủy thủ xuồng ta.”
“Cả hai điều đó đều khó xảy ra lắm, tôi e là vậy. Ông biết đấy, đám thủy thủ đều đã đi theo hướng ngược lại rồi.”
“Vâng, thưa ngài; nhưng biết đâu họ cũng nhìn thấy làn khói từ căn lúp xúp này và đang tìm đường đến đây thì sao. Dù tôi đã cẩn thận quan sát bốn bề nhưng chẳng thấy dấu hiệu sự sống nào khác.”
“Cũng có khả năng ấy,” Nelson nói; “nhưng phần tôi, tôi nghiêng về giả thuyết linh mục hơn, nếu như còn một chút hy vọng nào. Thôi thì, dẫu sao cũng được an ủi đôi chút khi biết rằng chúng ta đã có một bữa no nê và sẽ không phải chết trong cảnh đói khát. Thật ngốc nghếch khi chúng ta lại mò lên đây một mình, khi thừa biết lũ người trên núi này hoang dã đến nhường nào. Giá như ta chịu đựng thêm mười hay mười hai tiếng nữa rồi cứ men theo sát chân vách đá mà tìm về hạm đội thì đã tốt hơn biết mấy.”
“Tôi không nghĩ chúng ta có thể làm được điều đó trong chừng ấy thời gian đâu, thưa ngài. Chúng ta sẽ phải giữ khoảng cách chỉ bằng một mái chèo sát vách đá, và như thế thì tốc độ tiến bước sẽ chậm vô cùng. Hơn nữa, ta có thể làm thủng xuồng bất cứ lúc nào.”
“Điều đó thì đúng vậy. Dẫu sao thì chúng ta cũng chỉ trôi dạt có chừng hai mươi tư giờ, và chừng đó thời gian lẽ ra không thể lâu đến thế khi quay về. Nhưng dẫu có chịu đói khát suốt hai mươi tư giờ còn hơn là lâm vào cảnh này. Dù sao thì nghĩ lại lúc này cũng chẳng ích gì.”
Trong khi đó, bọn người bản xứ đang bàn tán huyên náo, dường như ai nấy đều cố bảo vệ chính kiến của mình. Cuối cùng, có vẻ như họ đã đi đến thống nhất, và bốn tên tiến đến góc nhà, lôi xốc hai vị sĩ quan đứng dậy rồi kéo lếch thếch ra khỏi căn lúp xúp. Bọn chúng trói thốc họ vào hai cái cây cách nhau chừng bảy tám thước, rồi chất những củi khô xung quanh. Xong xuôi, chúng hứng chí nhảy múa điên cuồng quanh những tù nhân, vừa buông lời chế giễu vừa tuôn ra muôn vàn câu nguyền rủa.
“Chuyện này chấm dứt sớm chừng nào hay chừng ấy,” Nelson điềm đạm nói. “Thôi thì, ông Gilmore, cả hai chúng ta đều có được sự an ủi khi biết rằng mình đã làm tròn bổn phận với Tổ quốc. Suy cho cùng, chết vì chiến trận hay bị thiêu cháy cũng chẳng khác nhau là mấy đối với một người đàn ông, chỉ có điều phương pháp hỏa thiêu kéo dài hơn chút đỉnh. Nhưng tôi đoán trong trường hợp của chúng ta thì nó cũng chẳng kéo dài lâu đâu. Ông có để ý thấy đám củi khô này toàn là củi mới chặt gần đây không? Chắc chúng ta ngạt thở trước khi lửa kịp bén tới người đấy.”
“Tôi thấy rồi, thưa ngài, và thực sự rất biết ơn vì điều đó.”
Điệu nhảy đã dứt, và hai tên mang những thanh củi đang cháy dở từ trong lúp xúp ra.
“Lắng nghe này, ông Gilmore,” Nelson cất tiếng vào khoảnh khắc đó. “Tôi nghĩ mình nghe thấy tiếng bước chân; chắc chắn là tôi nghe tiếng cành cây gãy.”
Những thanh củi lửa được châm vào đống củi khô, nhưng vì củi quá tươi nên thoạt đầu chúng chẳng chịu bén lửa. Thấy vậy, mấy tên nông dân liền lao vào lúp xúp và quay ra với những thanh củi lớn hơn, thì đột nhiên vài bóng người xuất hiện ở rìa bãi đất trống từ hướng mà Nelson vừa nghe thấy tiếng động. Họ đứng lặng đi trong phút chốc để quan sát khung cảnh trước mắt, rồi cất tiếng hô vang lao thẳng tới với những thanh mã tấu tuốt trần để tấn công bọn bản xứ. Bốn năm tên nông dân bị chém ngã gục, số còn lại hoảng loạn tháo chạy.
“Tạ ơn Chúa, thưa ngài, chúng tôi đã đến kịp lúc!” gã lái xuồng vừa nói vừa cắt dây trói cho Nelson, trong khi một thủy thủ khác cởi trói cho Will.
“Quả thật tạ ơn Chúa! Nào các anh em, chúng ta không còn một phút nào để lãng phí. Bọn chúng thế nào cũng tụ tập một đám đồng bọn ở ngôi làng gần nhất cho mà xem, và tôi chẳng có hứng thú gặp lại chúng đâu. Hãy vào trong chúp kia; các anh sẽ tìm thấy đủ bánh mì và phô mai để mỗi người làm một bữa, lại có cả mạch nước ngọt ngay cạnh nữa.”
Đám thủy thủ lập tức tản ra, và chẳng mấy chốc đã tìm thấy mạch nước. Họ quỳ rạp xuống đó, uống từng ngụm dài và sâu thỏa thích. Sau đó, họ kéo vào căn lúp xúp ngấu nghiến chỗ bánh mì và phô mai vốn dĩ còn lâu mới đủ lấp đầy bao tử, nhưng ít ra cũng tạm thời dập tắt được cơn đói. Ăn uống xong xuôi, họ lại kéo nhau ra bờ suối uống thêm nước một bận nữa. Rồi nhặt nhó chút bánh mì, phô mai cùng một cái vại nước lớn mang về cho hai kẻ giữ xuồng, họ bước theo Nelson và Will rời khỏi nơi suýt chút nữa đã trở thành nấm mồ chôn các vị sĩ quan. Họ rảo bước xuống đồi với tốc độ khá nhanh cho đến khi chạm tới đỉnh lớp sương mù. Từ đó trở đi, họ tiến bước cẩn trọng hơn. Họ chẳng còn phải sợ bị truy đuổi nữa, bởi một khi đã lọt vào màn sương, dẫu có cả một vạn quân cũng chẳng tài nào tìm ra họ. Cuối cùng, họ cũng tới được bờ cát và tìm thấy chiếc xuồng. Khi hai người được cắt cử trông coi xuồng đã ăn uống xong phần của mình, Nelson cất lời:
“Nào các anh em, chúng ta phải chèo đi thôi. Nếu giữ xuồng sát chân vách đá, nghĩa là cách đó chừng năm mươi thước, tiếng sóng vỡ sẽ là kim chỉ nam đủ để chúng ta không bị trôi ra quá xa ngoài khơi.”
“Tôi mạo muội hỏi rằng chúng ta sẽ phải chèo bao xa vậy ngài?” gã lái xuồng cất tiếng hỏi.
“Đó là điều tôi chịu không thể trả lời các anh được. Nó có thể nhỉnh hơn mười một dặm, cũng có thể gấp đôi hoặc gấp ba khoảng cách đó. Dù sao thì, giờ các anh đã được ăn uống tử tế, chắc chắn có thể chèo tiếp cho đến khi ta về tới các chiến thuyền.”
“Chuyện đó thì tụi tôi làm được, thưa ngài. Tụi này thấy khỏe khoắn như những con người hoàn toàn mới rồi đây, dẫu ban nãy có mệt mỏi rã rời.”
“Chúng tôi cũng vậy thôi, các anh em. Giờ thì các anh đừng có cố chèo lấy tốc độ đua làm gì; hãy vung mái chèo dài, đều đặn, và cứ mỗi một hai tiếng lại nghỉ ngơi đôi phút.”
“Trời sẽ tối chẳng mấy chốc nữa đâu,” Nelson khẽ nói với Will khi đám thủy thủ bắt đầu nhịp chèo; “nhưng may thay điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến chúng ta, vì ta được dẫn đường bằng đôi tai chứ không phải đôi mắt. Gió nay đã mạnh hơn trước, và trong một đêm tĩnh lặng thế này, ta có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ vào vách đá từ khoảng cách nửa dặm ngoài khơi, nên chẳng sợ lạc đường đâu, và sẽ thật tồi tệ nếu ta không về tới các chiến thuyền trước khi trời rạng sáng. Chiếc xuồng đang di chuyển với tốc độ khoảng bốn hải lý một giờ. Nếu dòng hải lưu không đẩy chúng ta đi xa hơn dự tính quá nhiều, thì tầm năm sáu tiếng nữa là ta có thể về đến nơi.”
Thời gian trôi đi chậm chạp. Thỉnh thoảng đám thủy thủ lại phải chèo hướng ra xa ngoài khơi để tránh những mỏm đá nhô ra. Cuối cùng, vào khoảng mười hai giờ đêm, Will thốt lên:
“Tôi nghe có tiếng nước gợn, thưa ngài, giống như tiếng nước đập vào mũi tàu vậy.”
“Tất cả ngừng chèo!” Nelson lập tức ra lệnh.
Mệnh lệnh được tuân thủ tuyệt đối, và tất cả căng tai lắng nghe. Chẳng mấy chốc, một tiếng đồng thanh vang lên khi có tiếng bước chân vẳng lại từ phía trước.
“Đó là lính thủy đánh bộ đang đi tuần qua lại gác sách. Tiến lên nào các anh em.”
Chỉ vài phút sau, một khối đen sì sững sững hiện ra ngay trước mặt họ. Gã lái xuồng bẻ lái, chiếc xuồng lướt êm ru sát mạn tàu. Ngay lúc đó, tiếng hô thách đố đanh thép của người lính gác vang lên:
“Ai đi đấy? Trả lời mau, không tao bắn.”
“Không có gì đâu anh bạn; là Đại tá Nelson đây.”
“Xin chờ cho tôi gọi phiên gác, thưa Đại tá Nelson,” người lính gác đáp bằng giọng điệu đều đều quen thuộc của binh chủng mình.
“Được rồi, lính gác, anh làm tròn nhiệm vụ lắm.”
Chỉ nửa phút sau, giọng nói của một sĩ quan vang lên từ phía trên, và ngọn đèn lồng được giơ ra phía mạn tàu.
“Có phải ngài đó không, thưa ngài?” người ấy hỏi.
“Đúng vậy; đây là tàu nào thế?”
“Tàu Romulus ạ.”
“Các anh có thể cho tôi mượn một chiếc la bàn không?”
“Vâng, thưa ngài, tôi mang lên ngay đây.”
“Cảm ơn cậu!” Nelson nói khi vị sĩ quan quay lại cùng chiếc la bàn. “Tôi bị mất phương hướng trong sương mù, và muốn trở về lều của mình trên bờ. Dù vậy, tôi nắm rõ tọa độ chính xác của nó từ chiến thuyền này.”
Chỉ hai mươi phút chèo xuồng là họ tới được bến cập bờ. Điều đầu tiên Nelson nghĩ đến là đám thủy thủ, ông tới kho chứa gần đó, đánh thức mấy người quản lý dậy và bảo đảm họ được cung cấp đầy đủ đồ ăn thức uống. Sau đó, ông bước vào lều của mình. Nơi đây bàn ghế đã được bày biện sẵn với đủ loại thức ăn. Khi gọi người hầu lên, một ấm nước được đun sôi, và ông cùng Will ngồi xuống thưởng thức một bữa ăn thị soạn.
“Chamfrey, cậu có biết người ta đồn đại gì về chúng ta trong lúc vắng mặt không?” Nelson hỏi người hầu của mình.
“Thưa không, ngài ạ; mọi thứ đều bị đảo lộn vì trận sương mù này. Người ta từ các chiến lũy phái người xuống hỏi xem ngài và ông Gilmore đang ở đâu, và chúng tôi chỉ biết đáp rằng đoán ngài đang ở trên tàu. Phía chiến thuyền cũng cử người sang hỏi, và chúng tôi chẳng biết nói gì ngoài việc phỏng đoán rằng ngài đang ở đâu đó trên các chiến lũy. Vài người, khi thấy ngài chiều nay vẫn chưa về, đã nghĩ rằng ngài bị lạc trong sương mù; nhưng chẳng ai mảy may nghĩ rằng có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra với ngài cả.”
Nelson đứng dậy đi ra chỗ đám thủy thủ đang ngồi nghỉ sau khi đã dùng xong bữa.
“Này gã lái xuồng, đây là hai đồng guinea cho anh và mỗi người một đồng guinea. Giờ tôi muốn tất cả các anh phải ngậm chặt miệng lại về những chuyện vừa xảy ra. Tôi hứa rằng nếu kẻ nào dám bép xép sẽ bị đá văng khỏi xuồng của tôi. Các anh rõ chưa?”
“Thưa rõ, ngài ạ,” họ đồng thanh đáp. “Ngài cứ tin tưởng tuyệt đối ở tụi này. Tụi này sẽ không hé răng nửa lời về chuyện đó đâu.”
“Thế thì tốt,” Nelson nhận xét khi quay trở lại chỗ Will. “Nếu chuyện đã qua mà bị lộ ra ngoài, thể nào tôi cũng bị Đô đốc Lord Hood mắng cho một trận vì dám đi quá xa và liều lĩnh như vậy. Tất nhiên, như ông và tôi đều rõ, sẽ chẳng có chút rủi ro nào nếu trận sương mù đó không buông xuống và chúng ta không quên mang theo la bàn. Nhưng ngài biết đấy, một sĩ quan hải quân bị coi là phải lường trước mọi thứ, và tôi chắc chắn sẽ bị khiển trách nặng nề chẳng khác nào việc cố tình chèo đầu vào sương mù vậy. Tôi sẽ phải đối mặt với sự cằn nhằn của tất cả các hạm trưởng trong hạm đội, và họ sẽ nói rằng: ‘Nelson này, với cái thói cứ hay chạy lon ton của anh, sớm muộn gì cũng dính vào rắc rối nào đó cho mà xem.’ Thậm chí một bản báo cáo còn có thể được gửi về Anh quốc, tất nhiên là đã được thổi phồng lên gấp bội, với những cái tít giật gân như: ‘Đại tá Nelson lạc trong sương mù!’ hay ‘Đại tá Nelson bị thổ dân Corsica thiêu sống!’ Đánh đổi năm trăm đồng guinea tôi cũng không đời nào để tin tức đó lọt ra ngoài đâu. Tôi đoán ngày đầu tiên vắng mặt người ta vẫn chưa chú ý tới đâu. Đương nhiên là họ biết tôi rời đi bằng xuồng máy; nhưng vì thỉnh thoảng tôi vẫn ngủ lại đây hoặc trên tàu, việc không thấy tôi ở cả hai nơi cũng chẳng gây ngạc nhiên mấy. Còn về ngày hôm nay, nếu có ai gặng hỏi, tôi sẽ đơn giản đáp rằng mình đã lạc lối trong sương mù và mãi tối muộn mới về tới đây, một câu chuyện có ưu điểm lớn là hoàn toàn đúng sự thật.”
“Ngài cứ yên tâm, sẽ không có một nửa lời nào lọt qua môi tôi về chuyện này đâu, thưa ngài.”
“Tôi hoàn toàn tin tưởng ông về điều đó, ông Gilmore. Tôi sẽ không bao giờ quên hiểm họa mà chúng ta đã cùng nhau trải qua, cũng như cách ông kiên cường chống chọi với thử thách khủng khiếp ấy. Tôi sẽ luôn xem ông là một trong những chiến hữu và người bạn thân thiết nhất của mình, và khi thời cơ đến, tôi sẽ dốc sức vun vén cho tương lai của ông. Hiện tại tôi chưa có nhiều quyền lực với tư cách là một hạm trưởng dưới quyền Lord Hood, nhưng sẽ có lúc tôi có thể làm điều gì đó cho ông, và tôi xin đảm bảo rằng khi cơ hội ấy đến, tôi chẳng cần ai phải nhắc nhở về lời hứa này đâu.”
Cho đến ngày 11 tháng 4 năm 1794, ba chiến lũy đã hoàn thành và ngay lập tức nã pháo tấn công thị trấn. Pháo đài địch kịch liệt đáp trả bằng đạn nung đỏ, khiến một chiếc chiến thuyền được cải ho cải thành pháo đài bốc cháy. Dù vậy, D’Aubant vẫn án binh bất động. Đám thủy thủ sục sôi căm hờn lại càng làm việc hăng hái hơn trước. Lúc này Nelson vô cùng tự tin vào chiến thắng. Ông dự đoán thị trấn sẽ thất thủ trong khoảng thời gian từ ngày 11 đến 17 tháng 5, và dự đoán của ông đã ứng nghiệm gần như từng chữ một, bởi đúng bốn giờ chiều ngày 11, một chiếc xuồng từ thị trấn chèo ra chiếc Victory để ngỏ lời đầu hàng. Chiều hôm đó, Tướng D’Aubant, sau khi nhận được một số tăng viện từ Gibraltar, từ San Fiorenzo kéo đến để rồi nhận ra rằng cái công việc mà ông từng lớn tiếng tuyên bố là bất khả thi ấy đã được hoàn thành mà chẳng cần đến sự trợ giúp của ông.
Will đã dành trọn vẹn thời gian diễn ra cuộc vây hãm ở trên bờ. Anh miệt mài lao động không mệt mỏi để đưa các khẩu đại bác lên vị trí chiến đấu, và được giao trọng trách chỉ huy một trong những chiến lũy. Nelson đã đặc biệt biểu dương anh vì những đóng góp đó, và Đô đốc Lord Hood cũng đích thân nhắc tên anh trong các bản tấu gửi về Bộ Hải quân ở quê nhà.
Bừa lũy Bastia vừa thất thủ, viên đô đốc liền quyết định vây hãm Calvi, cứ điểm kiên cố cuối cùng của người Pháp còn sót lại trên hòn đảo. Tuy nhiên, tin tức truyền tới cho hay một phần hạm đội Pháp đã phá vòng vây thoát khỏi Toulon, và Lord Hood lập tức lên đường truy đuổi, để lại Nelson ở lại tiếp tục chỉ đạo các chiến dịch.
Dẫn theo lực lượng bộ binh lúc bấy giờ do Tướng Stuart chỉ huy — một con người có phong thái hoàn toàn khác biệt so với D’Aubant — Nelson cho quân đổ bộ vào ngày 19 tháng 6 mà không gặp sự kháng cự nào tại một vùng vịnh nhỏ hẹp cách thị trấn ba dặm rưỡi. Một bộ phận thủy thủ cũng được lệnh đổ bộ dưới sự chỉ huy của Will. Họ lập tức bắt tay vào việc kéo đại bác lên đồi để dựng chiến lũy hệt như ở Bastia.
Kẻ địch được bảo vệ kiên cố bởi bốn pháo đài ngoại vi. Trong vũng biển cũng neo đậu hai chiến thuyền Pháp là Melpomene và Mignonne. Diễn biến sự việc chẳng khác nào ở Bastia. Khối lượng công việc hoàn thành thật khủng khiếp và các chiến lũy mọc lên nhanh như phép thần thông.
Cuối tháng 6, Lord Hood quay về sau khi đã canh chừng đám chiến thuyền Pháp, và công việc được tiến hành thậm chí còn khẩn trương hơn trước. Giống như ở Bastia, Nelson tiếp tục truyền ngọn lửa nhiệt huyết cho binh sĩ bằng chính tinh thần và tấm gương của mình. Bản thân ông cũng bị thương do những mảnh đá văng lên khi một quả đạn pháo nổ tung sát bên cạnh, khiến ông vĩnh viễn mất đi thị lực mắt phải. [pg 264]Nhưng dẫu nỗi đau đớn giày vò khôn tả, ông vẫn kiên quyết không chịu ngơi tay dù chỉ một ngày. Chẳng mấy chốc các chiến lũy đồng loạt khai hỏa, lần lượt từng pháo đài ngoại vi bị hạ bách, và chính thị trấn cũng bị tấn công dồn dập. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 8, kẻ địch đề nghị ngưng chiến đầu hàng. Yêu cầu này được chấp thuận với điều kiện nếu hạm đội Toulon không xuất hiện trong vòng bảy ngày, họ sẽ phải hạ vũ khí và giao nộp hai chiếc chiến thuyền. Tuy nhiên, hạm đội Toulon lúc ấy chẳng đời nào dám mạo hiểm giao chiến với đoàn tàu hùng mạnh của Lord Hood, thế là vào ngày 10, quân đồn trú đành buông súng đầu hàng và diễu hành qua cánh cổng lớn của thị trấn với đầy đủ nghi thức quân phong quân kỷ vinh dự. Nelson khôn xiết hoan hỉ khi nghĩ rằng chiến tích chiếm được thị trấn này cũng như Bastia hoàn toàn là công sức của đám thủy thủ dưới quyền, rằng các chiến lũy do chính tay họ dựng nên, đại bác do chính tay họ kéo lên, và ngoại trừ duy nhất một tay pháo binh ra, toàn bộ số pháo đều do họ trực tiếp điều khiển chiến đấu.
Will đã thu về vinh quang vô cùng to lớn qua những đóng góp của mình. Anh có năng khiếu bẩm sinh trong việc điều phối các vật nặng, và đã thấm nhuần triệt để bài học rằng sức mạnh cùng sự bền bỉ của những người thủy thủ Anh có thể vượt qua mọi chướng ngại tưởng chừng như không gì phá nổi.