Tuyển Tập Truyện Ngắn Triệu Bôn

Lượt đọc: 252 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tung Bay Dải Yếm Lụa Đào

❊ ❊ ❊

Bà Vơn - con gái cụ đồ Tú Chiêu - một thời từng được coi là cô gái xinh đẹp nhất xứ Cổ Bôn.

Bà xinh đẹp đến thế nào? Quanh năm suốt tháng dầm mưa dãi nắng ngoài đồng mà da dẻ cứ trắng như trứng gà bóc, dáng người thắt đáy lưng ong, mắt đen lay láy, miệng cười như hoa, tính nết đoan trang thùy mị. Đại loại thế.

Tôi không thể mô tả được gì hơn, bởi nếu còn tới bây giờ bà Vơn đã gần trăm tuổi. Đứa con út của bà là tôi nay tóc cũng đã bạc phơ phơ rồi cơ mà.

Cụ Tú Chiêu là một trong vài vị túc nho cuối cùng trên đất Cổ Bôn. Mấy vị tiền thân của cụ đều đỗ đạt cao trong chốn khoa trường nhưng chỉ một người ra làm quan với triều đình, còn thì đều về quê mở trường dạy học cả. Có ai giàu lên nhờ nghề dạy học đâu. Xưa nay vần thế. Riêng cụ Tú Chiêu còn vì phẫn chí với thời cuộc mà lom lem giải sầu với bộ bàn đèn, vì thế cảnh nhà túng thiếu triền miên. Bà Vơn tiếng là con nhà danh giá nhưng quanh năm đầu tắt mặt tối ngoài đồng, tứ thời quần nâu áo vải: có một bộ cánh đẹp, quần lĩnh áo mớ ba, khăn nhiễu, yếm đào, phải để dành đến Tết mới dám mang ra mặc.

Với quần nâu áo vải bà Vơn đã nổi tiếng xinh đẹp, ngày Tết được mặc quần áo đẹp bà càng rực rỡ như nàng tiên giáng trần. Lại thêm tiếng gọi náo nức của mùa xuân khiến bà như con chim sổ lồng thướt tha bay lượn trên đường làng ngõ xóm, không đám vui chơi hội hè nào bà không muốn được ghé vào. Mà thật lắm đám vui.

Trong đình, bạn Tư Văn mở hội ngâm thơ, bình thơ, viết chữ. Các nho sĩ người nào cũng quần trắng áo thụng lam, đội mũ giải có chóp, cầm bút lông đề thơ, nét chữ như rồng bay phượng múa.

Ngoài sân đình, phấp phới cờ thần cờ phật, tàn xanh lọng tía, lại đang có hội thi đánh cờ. Những quân cờ cao ngang tầm người, bên trên là tấm bảng sơn son thiếp vàng đề tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, tốt gắn với cái cán đen nhánh màu son then để cắm xuống cái lỗ trên bàn cờ đỏ xanh vạch trắng. Hai đối thủ hai bên cũng mặc áo thụng lam đội mũ giải, đi đi lại lại điều binh khiển tướng như hai ông tiên.

Trên mặt nước Phồn Giang trong xanh là hội thi bơi chải. Tám giáp trong xứ có tám con thuyền mảnh dài hình lá lúa. Trai tráng mặc áo chẽn chít khăn đầu rìu màu đỏ, màu xanh, tay cầm bơi chèo, chờ một tiếng trống đại nổ rầm như phát súng thần công là hối hả khỏa đẩy con thuyền rẽ sóng lao đi như tên bắn giữa tiếng chiêng và tiếng reo hò cổ vũ dậy trời.

Hội thi vật mở trên bãi điểm binh cạnh nghè thờ Đăng quận công - nơi xưa kia là chốn sa trường huyết chiến giữa quân nhà Lê và quân nhà Mạc - Các đô vật từng đoàn từng tốp tứ xứ đổ về. Chẳng sá gì mưa phùn gió bấc, người nào cũng cởi trần vấn khố, cơ bắp nổi cuồn cuộn. Từng đôi từng đôi giao đấu như hổ vờn nhau trên rừng như cá kình cá ngạc tranh tài dưới biển.

Chiêng trống, thanh la não bạt, pháo lớn pháo đùng, reo hò la hét, lại ầm ầm nghiêng ngửa một góc trời.

Còn đám chơi đu thì diễn ra trên tràn đất bắc mạ ngay bên bến Hà Thơm.

Mạ chiêm nhổ đi rồi, cỏ chen nhau dệt thành tấm thảm xanh rợn điểm xuyết nhũ bạc của rau khúc và vàng rực những ngồng hoa cài trời. Giàn đu được trồng bằng sáu cây tre gộp, ba cây một bên, ngọn chụm vào nhau làm nơi gắn cái trục đu. Dây đu là hai cây trẩy mồng két suôn và thẳng băng, đầu trên neo vào trục đu đầu dưới chốt vào bàn đu. Người chơi leo lên đứng trên bàn đu, nhún cho bàn đu dây đu lên lên xuống xuống như cái con lắc đồng hồ.

Trai gái làng Cổ Bôn ai cũng thích trò chơi này. Từ ngày ông Táo lên trời tới ngày hạ cây nêu, ban ngày cái bàn đu hầu như không lúc nào được để rỗi. Nhưng con gái thích là thích vậy chứ mới nhún bàn đu lên lưng chừng cột đã sợ hết hồn. Bà Vơn thì không thế. Hễ đặt chân lên bàn đu bao giờ bà cũng nhún cho đu lên giật trục. Bà thèm được nghe gió quất ào ào bên tai, được thấy mình thênh thênh chao liệng ngang với ngọn cau ngọn dừa, được thấy dãy ao làng, cái giếng làng thoắt lãng đãng dập dờn trong phút mơ màng đầy khoái cảm. Bà Vơn không hề biết rằng bà đã làm say lòng cả hội đu. Những phút như thế vạt áo đuôi khăn dải yếm của bà tung bay thành một bức tranh kỳ ảo đưa người xem thoát khỏi kiếp sống nhọc nhằn đói khát để cùng bà lạc lên cõi bồng lai vời vợi ngàn trùng.

Lệ làng định sẵn, phải bỏ ra một đồng tiền kẽm mới được chơi đu trong quãng thời gian nhai dập bã trầu. Nhưng riêng với bà Vơn, thấy bà ngừng nhún là bên dưới có tiếng ông chủ hội la lên, bảo bà cứ chơi nữa, cho bà con được ngắm được vui. Bà thành người nổi tiếng, thành niềm ước thầm kín khát cháy trong tâm tưởng đám trai làng.

Rồi Tết năm ấy trong hội đu bên bến Hà Thơm bỗng xuất hiện một cô gái lạ. Cô gái này cũng quần lụa, yếm lụa, áo mớ ba, chít khăn nhiễu, nhưng rặt một màu thanh thiên, và dáng người cao lớn, bước đi cũng cứng cáp khác hẳn bà Vơn.

Lúc bà Vơn chuẩn bị leo lên bàn đu, cô gái lạ liền bước tới nghiêng mình ngỏ ý muốn được chơi đu đôi cùng bà. Bà Vơn gật đầu ưng thuận. Hai người lên bàn đu tay cùng nắm dây đu, mặt quay vào nhau, đôi chân cùng nhún. Lát sau đu đã lên cao giật trục nhưng hai người vẫn không dừng. Đu lên vượt trục, lúc xuống, hai người như thiên thần từ trên trời lao thẳng xuống, khiến người thì nhắm mắt rùng mình, người thì hét lên vì sợ hãi. Mặc. Đôi bạn đu vẫn nhìn nhau mỉm cười. Giữa lưng chừng trời nghiêng ngửa trong gió táp khăn bay, bà Vơn ngờ ngợ không hiểu người bạn gái này mình đã gặp ở đâu.

Cho tới khi hai người dìu nhau bước xuống đất, người bạn đu mới ghé sát tai bà Vơn, thì thầm:

- Cô không nhận ra tôi ư?

Bà Vơn sững sờ, bấy giờ mới lắp bắp hỏi: “Có phải anh là... anh là học trò của cha?” rồi cứ thế đôi má bà đỏ bừng, người vã mồ hôi vì ngượng ngùng xấu hổ. Người kia gật đầu nói nhỏ:

- Vâng, tôi là Miện đây. Bao lâu nay tôi héo hắt vì cô, nhưng nghĩ phận mình hèn mọn học không hay cày không thạo, nên đành ôm sầu nuốt tủi cho đến bây giờ. Chẳng hay cô có đại xá cho tôi cái tội liều lĩnh này?

Bà Vơn chỉ kịp thốt lên “Trời ơi...” rồi vùng chạy. Mấy ngày còn lại của cái Tết năm ấy bà Vơn không bước ra khỏi nhà, tự dưng sinh biếng ăn biếng ngủ, cứ vẩn vơ như người ốm lửng làm vợ chồng cụ Tú Chiêu đâm lo.

Đến một buổi sáng sau ngày hạ cây nêu, cụ Tú chọn được giờ khai bút đầu năm. Cụ bày nghiên bút lên án thư, chưa kịp viết chữ nào đã thấy người học trò cũ của mình bước vào quỳ phủ phục trước cửa, lại tự đặt cây roi trên lưng.

Cụ Tú ngơ ngác hỏi:

- Chuyện gì thế này?

Người trò cất lời, giọng cầu khẩn:

- Xin thầy hãy phạt đòn rồi con mới dám thưa.

- Nhưng phạt đòn vì chuyện gì chứ?

- Bẩm thầy. Hôm mồng hai, con vừa phạm một trọng tội. Không hiểu cô nhà về đã thưa lại với thầy hay chưa.

Cụ Tú Chiêu chợt hiểu, “à” lên một tiếng rồi cho phép người học trò ngồi lên giường hỏi chuyện. Cụ biết Miện là đứa học trò sáng dạ, tính nết điềm đạm, nhưng vì mồ côi cha, gia cảnh nghèo túng nên chỉ học với cụ được vài năm rồi xin thôi. Cụ vẫn có lòng thương, nhưng không có cách gì giúp Miện học thêm được nữa...

Chuyện của cha mẹ tôi đã được bắt đầu như vậy. Suốt một đời cha mẹ tôi làm lụng vất vả, chắt chiu từng hạt gạo lá rau, để bốn anh chị em tôi được lần lượt ra đời dưới một mái nhà vô cùng đầm ấm yêu thương.

Và cho tới tận bây giờ mỗi độ xuân sang lòng tôi vẫn nao nao nhớ về bãi đất bằng bên bến Hà Thơm. Trong gió trong mưa, trong mang mang hương thơm cây cỏ đơm hoa trổ lộc tôi lại mơ thấy giữa thinh không vẫn tung bay đôi dải yếm lụa đào.

 

18/12/1999

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012 Nguồn pdf: Sưu tầm Chuyển sang text: hoi_ls
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Triệu Bôn

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.