Anh Nải năm nay vừa tròn năm mươi tuổi. Ngay cả khi đã bước vào cái tuổi “tri thiên mệnh”, về hình thức bên ngoài mà nói, nhiều chàng trai vẫn phải “chào thua” anh. Anh có dáng người đẹp một cách rất đàn ông: Cao lớn, cân đối, nước da ngâm ngăm, gương mặt từng trải, ham thể dục thể thao, đặc biệt là đôi mắt nhìn và khóe miệng cười lúc nào cũng buồn buồn. Phái nữ đa tình nhiều cô nhiều chị từng mất ăn mất ngủ vì đôi mắt ấy nụ cười ấy.
Vậy mà hơn mười năm nay - từ ngày anh Nải từ bộ đội chuyển ngành sang cơ quan tôi - anh không thể nào “kiếm được một mảnh tình vắt vai” như lời anh nói.
Ai cũng biết đó là một cách nói nhún mình quá đáng. Sự thật có lúc nào anh Nải thoát khỏi được vòng vây của những cô gái chưa chồng trong cơ quan. Mấy cô theo đuổi anh Nải mãi, không được, mới đành phải đi lấy người khác, nay đã con bế con bồng mà trong lòng hình như vẫn còn chưa nguôi “hận” anh.
Một dạo anh Nải mang tiếng là kẻ kiêu kỳ. Có người bị anh từ chối tình yêu đã ra lời rủa anh là cái đồ già kén kẹn hom.
Một dạo có cô con gái của một xếp lớn chiều chiều ghé xe trước cổng cơ quan rủ anh đi chơi tennít; thêm một cô phiên dịch đẹp như con búp bê nhựa thỉnh thoảng đến kèm cặp cho anh nói tiếng Pháp. Thế là anh lại bị mang tiếng là kẻ hướng thượng, đứng núi nọ trông núi kia cao, là kẻ chơi trống bỏi.
Nhưng rồi con gái của sếp, cả cô phiên dịch đều đã lần lượt lên xe hoa. Anh Nải được giải oan cái tiếng xấu là kẻ hãnh tiến trong hôn nhân, thì sau đó - tức là khoảng dăm năm đổ lại đây - anh lại bị mang cái tiếng là trai quá lứa sinh ra hâm dở.
Mọi lời đồn xấu xí ấy đều bay tới tai Nải. Nhưng anh đều làm ngơ. Anh vẫn đều đặn chơi thể thao, vẫn đều đặn học ngoại ngữ, say mê công việc, đối xử hết sức ân cần chu đáo với mọi người.
Rồi bỗng anh Nải đốc chứng lạ. Hễ đến ngày rằm và mồng một mỗi tháng âm lịch là anh sắm vàng hương đi lễ chùa. Một mớ sách nhà Phật, những lịch sử Tam Thế, Kinh Thập Thiện, Kinh Kim Cương Thọ Mạng, Kinh Bát Dương... xếp thành chồng như cục gạch ở góc bàn làm việc của anh, với bức tranh vẽ đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tòa sen to bằng con bài tú lơ khơ đặt ngay trước mặt anh dưới miếng kính lót bàn. Từ đấy, không hiểu ai loan truyền cái tin anh Nải là người nặng căn tu hành. Riêng tôi lấy làm nghi ngờ, cái tin ấy chẳng qua do chính anh Nải phao lên để lẩn trốn các cô gái chứ chẳng ai khác. Vì thế tôi đã bí mật bám đuôi anh Nải đi lễ chùa một lần xem anh lễ bái thế nào.
Ngày mồng một ở chùa thiện nam tín nữ khắp nơi túa về đông hơn họp chợ. Các bà già và các bà nhầng nhầng mặc áo đồng lầm đeo tràng hạt ngồi xếp hàng trước ban thờ Phật tổ đọc kinh như ong kêu; rất nhiều các cậu các cô phấn son trát bự, quần áo giày dép đều mốt Tây, cắm hương nhoay nhoáy, chen lấn nhau đứng vái như bổ củi. Còn ông Nải nhà tôi thì ngay mấy bậc thềm chùa cũng không đặt chân lên. Anh chắp tay sau lưng đứng xem người ta vào lễ chán rồi đi lơ ngơ quanh gốc cây đại, ngắm nghía mấy cây ngâu, cây hoa ở sân chùa.
Thế là rõ, tôi đoán chẳng sai. Nhưng tôi giữ kín điều tôi phát hiện, không nói với ai. Tôi tuy chưa già lão nhưng tính khí cũng “âm lịch” lắm. Thấy con trai tán con gái còn thuận mắt, chứ mà con gái đổ xô tán con trai nó cứ dơ dáng thế nào. Anh Nải dùng cách tung hỏa mù để lẩn tránh thế là chí phải.
Giờ thì tôi chỉ còn có thể phỏng đoán, sở dĩ anh Nải không lấy vợ, không yêu đương, chỉ vì anh không làm được cái “chức năng đàn ông” nữa mà thôi.
Nhưng, bỗng lại có một nguồn tin rất giật gân về cái ông Nải nhiễu sự này. Nguồn tin phát ra từ phòng hành chính, hai cô bé đánh vi tính cả quyết rằng các cô đã tận mắt trông thấy vợ anh Nải.
Cái tin ấy có sức gây chấn động còn hơn cả tin động đất ở Nhật, ở Ấn Độ, Nê Pan, lôi cuốn cả đám đàn ông tò mò như tôi vào cuộc. Công việc cơ quan nào có nhiều nhặn gì, thế nên được phân công nhau làm thám tử chúng tôi khoái lắm. Sáng nào cũng chụm đầu hội ý bên bàn trà, người nọ bàn giao nhiệm vụ để mắt bám sát đối tượng cho người kia. Suốt một tháng ròng, hôm nào giao ban cũng chỉ được nghe “tình hình vẫn yên tĩnh”, lâu dần ai nấy sinh nản ngãng ra.
Thế rồi đến một buổi chiều thứ bảy gần kề với ngày hai hai tháng mười hai là ngày kỷ niệm thành lập quân đội, dù cái lịch phân công theo dõi anh Nải đã xếp xó từ lâu, chính tôi lại là kẻ thám tử lập công đầu.
Vòm trời thấp sùm sụp, mưa bụi lây phây nhưng không lạnh mà thời tiết đang trở nồm. Tôi dừng xe ngang đường Trần Bình Trọng để cởi bớt cái áo lông khoác ngoài vắt lên ghi đông xe. Trong lúc vô tình tôi đã đụng tay vào một người thiếu phụ bận quân phục cũ, tay phải nắm ghi đông, tay trái quờ lại sau giữ lưng cho một đứa trẻ bọc kín từ bàn chân đến đỉnh đầu trong quần len mũ len, đang ngồi trong cái ghế mây buộc liền với gác đèo hàng, chị ta đạp vội vàng, không để cho tôi có thời gian xin lỗi.
Tôi tiếp tục đạp xe lững thững sau người thiếu phụ và đứa trẻ một quãng. Và chỉ lúc sau, tới cuối con phố Trần Bình Trọng tôi đã hiểu vì sao chị ta lại vội vàng đến vậy: Trên bờ hồ Thiền Quang có một người đàn ông đang đứng chờ. Người đàn ông chạy như lao ra mặt đường để bế bổng đứa trẻ lên, thơm như vục mặt vào cổ vào bụng vào háng nó...
Hẳn bạn đọc đã đoán người đàn ông ấy là ai.
Anh không thể ngờ anh đã làm cho nhiệm vụ thám tử bỗng trở lại với tôi, khiến tôi vô cùng hồi hộp tạt ngay vào một quán nước chè chén bên đường, miệng gọi nước gọi thuốc lá nhưng mắt lom lom không rời ba người kia. Tấm lưng rộng vạm vỡ của anh Nải khom khom như che mưa che gió cho mẹ con người thiếu phụ. Có lúc tôi thấy anh Nải rút khăn mùi xoa lau mưa bụi trên má người mẹ, rồi phủi phủi trên mũ len áo len của đứa con. Mỗi tội vì cái chõng hàng nước cách chỗ họ đứng mấy mét mặt đường nên họ nói gì với nhau tôi không thể nghe được. Điều tôi ghi rất sâu vào ý nghĩ của mình là hình ảnh họ sao mà đẹp thế, hình ảnh một bài thơ hạnh phúc rung động lòng người. Tôi nhẫn nại sắm vai thám tử cho tới lúc đèn đường bật sáng và ba người kia chia tay nhau. Hình như người thiếu phụ khóc, anh Nải cầm mùi xoa thấm nước mắt cho chị.
Chờ cho chị đèo con xuôi theo phố Nguyễn Du, tôi mới hắng giọng dắt xe bước qua đường.
- Anh Nải. Ai đấy?
Anh giật mình, nhưng lấy lại tự chủ rất nhanh.
- Cậu đấy à. Về muộn thế?
Tôi nhắc lại câu hỏi trước. Anh Nải có vẻ đắn đo vài giây rồi mới trả lời:
- Cô ấy là vợ cũ của mình.
- Thế còn cháu bé. Con của anh đấy à?
- Không. Nó là con của cô ấy với một cậu trung đội trưởng của tôi. Hết chiến tranh, cậu này về tới nhà thì vợ đã đi theo người khác.
Tôi lờ mờ hiểu ra vấn đề. Lại một bi kịch người lính. Chao ôi, những người lính thế hệ chúng tôi có nghìn lẻ một thứ bi kịch, càng nói ra càng xót xa nên cứ vờ như không biết, không nói tới là hơn.
Có lẽ anh Nải đọc được mớ ý nghĩ đang lả tả, đang xao xác, đang nhoi nhói trong lòng tôi. Anh dang rộng đôi cánh tay ôm choàng ngang người tôi, kéo tôi cùng ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh ngắt. Anh bảo ngồi đây tớ kể hết nông nỗi cho mà nghe, rồi muốn nói lại với bọn ấy - anh ám chỉ lũ người hay tò mò thóc mách ở cơ quan - thì nói, không muốn nói thì tùy. Nhưng hàng chục phút sau, tôi hút tàn điếu thuốc, hai anh em vẫn bá vai nhau ngồi câm lặng nhìn ra hồ Thiền Quang mờ mờ hơi mưa.
- Cậu là lính B2 phải không? - Anh Nải đột ngột lên tiếng kèm theo một cái xiết nhè nhẹ trên vai tôi - Nếu trí nhớ của tớ không tồi, cậu đã kể về vùng Mã Đà, Sa Mát. Đúng thế không?
- Vâng.
- Trong ấy cũng nếm đủ mùi thuốc độc hóa học của bọn Mỹ chứ?
- Ồ còn phải nói!
Tôi hào hứng kể cho anh Nải nghe những buổi sáng còn ấm sương, máy bay C130 rải chất độc mù mịt như mây phủ xuống những cánh rừng dọc hai bên bờ sông Đồng Nai. Còn bọn tôi, mỗi đứa một cái khăn mặt nhúng nước bịt kín mũi, tay cầm dao phạt vội ngang thân cây những luống sắn trên bãi tăng gia, để thuốc độc không kịp ngấm xuống củ. Thế mà lúc luộc sắn ăn vẫn còn nhần nhận đắng.
- Ngoài tớ cũng thế - anh đáp lời - Trận địa cao xạ bọn tớ bám trụ ở ngã ba biên giới suốt ba năm. Rừng đại ngàn ở hai bên sông Tà Ngâu bị hàng trăm lần chúng nó phun chất độc xuống, không còn búi cỏ nào sống sót, đến nỗi bọn tớ phải ngụy trang trận địa toàn bằng cành cây khô và lá mục.
Anh Nải như bị ngộp thở, dừng lại một lát.
- Cô ấy là lính thông tin. Bọn tớ được đơn vị “tổ chức cho. Nhưng cả hai lần cô ấy sinh nở chẳng ra gì. Thế nên...
- Thôi thôi anh Nải - tôi bất giác muốn thét lên - Tôi hiểu tất cả rồi. Đừng kể nữa! Đừng kể nữa!
Nhưng anh Nải đã bấu thật mạnh vào vai tôi, như lay gọi một người đang trong con mê sảng:
- Ừ thôi. Nhưng chắc cậu chưa hiểu được nỗi lo thắt thẻo của bọn tớ, tức là vợ chồng cô ấy và tớ. Lo cho thằng bé. Tính từng ngày. Ngày nào thằng bé khỏe mạnh chịu ăn chịu chơi thì ngày ấy bọn tớ còn thấy mình được hạnh phúc.
14/11/1999