Tới nay liệu còn mấy người nhớ tới chuyến xe bất hạnh ấy? Chuyến xe tải từ mạn ngược phía Hòa Bình chở những người về quê ăn Tết, vùng Đồng Giao đầu địa phận tỉnh Thanh Hóa chẳng may gặp tai nạn, đổ nhào, giữa chiều 27 tháng Chạp hun hút gió lạnh và mưa phùn rơi ngập trời.
Có 40 người trên thùng xe thì 39 người mừng rỡ vì thoát chết. Riêng người thứ 40 không bao giờ dậy nữa là một phụ nữ đã đứng tuổi mang theo đứa con nhỏ chắc mới đầy năm. Lúc xe đổ, chị phải dùng vai và hai cánh tay che chở cho đứa con nên đầu chị đập vào một hòn đá nhọn...
Họ phải dừng lại suốt chiều qua đêm để lập các thứ biên bản về vụ tai nạn, và chôn cất người đàn bà xấu số. Sáng ra, 39 người vẫy nhờ một chiếc xe bộ đội, tiếp tục chặng đường cuối cùng.
Khi mọi người xếp chỗ xong xuôi trên thùng chiếc xe mới, một phụ nữ mặc chiếc áo bông bộ đội đã sờn bạc hai tay bế đứa trẻ chạy tới, gào to:
- Các anh các chị ơi. Có ai là người thân của mẹ đứa bé này không?
Không có tiếng trả lời nhưng có vài người bạn cùng lâm trường với chị đã cúi mặt xuống. Họ biết rõ chị là một chiến sĩ Thanh niên xung phong trên Trường Sơn chuyển ngành về lâm trường, và chịu chung cái cảnh quá lứa lỡ thì như biết bao cô gái khác đã hiến dâng cả quãng đời đẹp nhất cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước. Đứa con trai kia là do chị “kiếm” được với người đàn ông nào đó mà chị nhất quyết không chịu khai anh ta là ai, để một mình lãnh cái án kỷ luật bị đuổi ra khỏi biên chế Nhà nước. Lần này chị mang con về ăn Tết xong rồi ở lại quê, không trở ra nữa...
- Trời đất ơi! - Người phụ nữ bận áo bông quân phục uất ức thét lên khi chiếc xe nổ máy đi khuất sau quả đồi lau đẫm sương giữa buổi sáng ngày 28 Tết - ông Trời thật đui mù, thật là kẻ khốn kiếp mới nỡ bắt người ta phải chịu cơ cực hết nhẽ như thế này!
Tiếng thét bất ngờ làm đứa trẻ đang thiêm thiếp trong cái bọc chăn dưới tay chị giật mình mở choàng đôi mắt sáng long lanh, và oằn người khóc. Chị bế đứa trẻ về khu lán nữ công nhân nông trường, vừa đi vừa vỗ về dỗ nó:
- Nín đi con! Mẹ xin. Từ nay mẹ là mẹ của con. Nín đi - chị ngừng lời, mặc cho những giọt nước mắt rơi lã chã xuống chiếc mũ len cáu bẩn bụi đường của đứa trẻ. - Mẹ định không đi đâu cả. Ở đây đã lủi thủi thì về quê cũng chẳng thể nào vui hơn. Nhưng, giờ mẹ có con rồi. Sáng mai mẹ con ta về ăn Tết với ông bà, con nhé...
Sang Giêng năm ấy, câu chuyện được nối tiếp, và chỉ xin kể tóm tắt như sau:
Chị Mai - tên người phụ nữ mặc áo bông quân phục ta vừa gặp ở trên - cùng với ba người bạn gái là chị Tuất, chị Vinh, và chị Hoan nuôi chung đứa trẻ trong khu lán tập thể dành cho những người sống độc thân của nông trường. Cháu được các chị cho lấy họ của “mẹ” Mai, và đặt tên là Lê Xuân Côi. Năm Côi lẫm chẫm tập chạy, “mẹ” Hoàn đi lấy chồng. Năm sau nữa, “mẹ” Vinh được đi học bên Liên Xô. “Mẹ” Tuất cũng phái rời bỏ nông trường về quê chăm sóc người mẹ già đau ốm, trên Bắc Thái. Còn một mình “mẹ” Mai ở lại nuôi cháu Côi khôn lớn tới bây giờ.
Dạo mùa hè năm ngoái tình cờ tôi gặp cháu Côi trong cuộc thi học sinh giỏi toán của tỉnh Thanh Hóa, giữa lúc cháu đang đứng khóc rưng rức trước cổng trường, vì cháu đã giải sai câu hỏi cuối cùng trong đề thi.
- Câu hỏi này chẳng có gì là quá sức cháu - Côi nói với tôi.
- Vậy tại sao cháu lại giải sai? - Tôi hỏi.
Cháu gạt nước mắt, thờ dài đau xót:
- Thế mới khổ tâm, chú ạ! Lúc cháu làm xong những câu hỏi trên, cháu dừng bút, vô tình nhìn mấy bạn ngồi thi bên cạnh. Cháu tự hỏi, trong các bạn này, có ai có hoàn cành như mình không nhỉ? Thế là cháu nghĩ tới mẹ đẻ của cháu, rồi cháu nghĩ tới “mẹ” Mai ở nhà, “mẹ” Hoàn, “mẹ” Tuất, “mẹ” Vinh không biết hồi này sống ra sao. Tự dưng nước mắt cháu cứ trào ra...
Lúc đó tôi đã phát bực với chính mình, vì không thể tìm được những lời lẽ xứng đáng để an ủi Côi. Và do vậy, mẩu chuyện này tôi hy vọng sẽ là một món quà nhỏ gửi đến cháu để mừng cháu thêm một tuổi mới.