Tôi nằm xuống chân đồi Thuận Trạch từ một buổi chiều giữa mùa thu năm 1968. Lá săng lẻ đỏ bầm rắc trên nấm mộ mới đắp xong của tôi. Tôi nghe văng vẳng tiếng em gái Lệ Thủy khóc bảo đó là những chiếc lá săng lẻ thấm máu tôi và máu mấy người vừa ngã xuống chiều nay.
Âm dương cách biệt mất rồi. Tôi muốn khuyên Lệ Thủy hãy lau nước mắt, ráng học cho hết lớp mười rồi thi vào đại học. Từ mảnh đất chân Trường Sơn cằn cỗi và heo hút mà nuôi được chí học hành còn gian lao vất vả hơn cả cái công việc hôm nay em đang cầm cây súng trường K41 bắn vào mặt bọn giặc Mỹ. Khó lắm đấy, nhưng hãy gắng sức. Và cả gắng sức mà quên anh đi. Em gái thân yêu ạ. Anh đã nói với em rằng anh có người vợ chung thủy, nết na, là chị Thúy Lan đang dạy Trung văn ở một trường đại học. Cớ sao em vẫn bướng bỉnh cãi lại anh, “Anh có quyền hạ lệnh cho đại đội cao xạ của anh bỏ qua tên giặc nào, bắn tên giặc nào, nhưng hạ lệnh cho trái tim em thì không được đâu”.
Xen trong tiếng nấc nghẹn của em gái Lệ Thủy là tiếng thằng bé Cường. Sao nó hét to thế. “Chú Tân ơi. Thế là chú chết thay cháu rồi. Không có chú thì cháu... hu hu hu...”. Cái thằng bé rõ thương, mà dại dột quá. Nhà nó ở dưới chân đồi trận địa của chúng tôi. Sau hai đợt chiến đấu lúc trưa, chiều bọn giặc lại ào tới. May là xe chở đạn vừa đến kịp. Nó cũng theo người lớn vác đạn lên trận địa. Bom bi nổ lóe khắp sườn đồi mà nó cứ chạy lông nhông, thét thế nào cũng không chịu nằm, thành thử tôi phải nhảy lên khỏi hầm đè cổ nó xuống... Còn những ai nữa kìa? À cô Lợi con dâu ông Kính nhà ở dưới gốc cây gạo. Cô đang nuôi con nhỏ, sữa lúc nào cũng ướt sũng hai đám ngực áo. Cả chị Miêng khẩu đội trưởng 12 ly 8 của xã đội. Lúc thường chậm chạp lạch bạch như con vịt bầu, thế mà hễ giặc đến là chị nhanh nhẹn quát tháo dữ như con hổ cái. Cả ông Kính, ông Phết, bà Phấn,... Chà chà. Dân làng kéo ra đông thế, lỡ chúng nó thình lình đến rải bom bi thì nguy. “Bớ bà con làng nước, các bọ các mạ các chị các o, xin bà con giải tán ai về nhà nấy đi!”. Tôi gào khản cổ mà chả ai thèm nghe. Tại lớp đất dày đắp lên người tôi. Tại mọi người đang mải khóc. À thì ra âm dương cách biệt là thế này đây. Dù gần trong gang tấc nhưng người trên trần không còn nghe được tiếng nói của tôi nữa rồi. Buồn quá.
Từ hôm đó tôi và mấy đồng đội của tôi đã nhập tịch vào bãi tha ma làng Thuận Trạch. Tôi nhìn thấy rất rõ quê hương tôi ngoài Bắc, nhất là ngôi nhà gia đình tôi đang ở trong khu tập thể Kim Liên. Chiều nào bố tôi cũng ngồi trên cái ghế tựa đặt ngoài hè tay run rẩy chống cây can làm bằng song, mặc cho gió thổi phơ phất chòm râu bạc. Gương mặt bố tôi rầu rầu. Mẹ tôi mất lâu rồi. Tôi thì đi xa. Hai anh tôi - Anh Hinh và anh Minh - anh Hinh đã luống tuổi, còn anh Minh thì nay đông mai đoài quanh năm lặn lội. Anh là họa sĩ mà. Những người lính như chúng tôi tìm nơi nào có giặc mà đến, còn những văn nghệ sĩ như anh Minh thì suốt đời đi tìm hồn vía của cuộc sống. Họ cũng lãnh đủ gian nan cực nhọc, rừng thiêng nước độc, kể cả xương máu những miền súng nổ bom rơi. Thế nên dù các anh các chị chẳng để cho bố tôi phải thiếu thốn thèm nhạt, lũ cháu không lúc nào không xúm xít quanh ông, nhưng để quên nỗi cô đơn tuổi già trong người bố tôi đâu phải dễ.
Nhiều lúc tôi chỉ muốn len lén đến sau bố tôi, hú òa một tiếng cho bố giật mình rồi mới thưa “Con đã về đây bố!” nhưng không thể được. Thế giới cõi âm thật kỳ cục, thấy rõ mọi nơi, biết trước mọi điều, nhưng lại không với tới được bất cứ thứ gì, không can dự được vào bất cứ việc gì.
Một lần tôi đã lướt qua đường biên giới Việt - Trung phiêu diêu sang Nam Ninh giữa mùa cỏ non xanh rờn rợn và dưới vòm trời màu tro vực bừng lên những vườn táo vườn lê đang trổ hoa trắng ngần. Tôi lẽo đẽo theo một tốp các cô gái tay xách làn bận quần áo rặt một thứ vải xanh sĩ lâm đi vào thành phố, để tìm đến đúng nơi Thúy Lan của tôi đang dạy tiếng Trung Quốc cho đám lưu học sinh Việt Nam. Tôi đứng dưới lớp nhìn Thúy Lan đẹp như một đóa hoa hồng buổi sáng đứng trên bục. Từ đôi môi mềm của Thúy Lan phát ra thứ ngôn ngữ của người phương Bắc nghe lục cục xủng xoẻng tôi chả hiểu gi. Tới lúc Thúy Lan bẻ đôi viên phấn chuẩn bị viết lên tấm bảng sơn đen tôi bỗng xao xuyến cả người. Cái bàn tay trắng ngần đang cầm viên phấn kia mới mềm mại ấm áp làm sao. Trong đời tôi, chính tôi đấy, đã từng được đôi bàn tay ngọc ngà của em ôm ấp! Tôi vụt tới thoa nhẹ lên bàn tay Thúy Lan nhưng em đâu biết. Lòng tôi nhót buốt ân hận vì không để lại cho Thúy Lan một đứa con, song lại nghĩ rồi đây Thúy Lan ắt phải xây cho mình một tổ ấm mới, mà như thế thì son rỗi lại là điều tốt hơn cho em... Thúy Lan ơi. Một mai biết tin anh đã bỏ mình vì non sông đất nước, anh chỉ xin em hãy can đảm lên, chứ đừng khóc. Nước mắt của em sẽ làm tan nát cả trời cao đất dày, anh không chịu đựng nổi đâu.
Ôi trần thế! Còn biết bao điều lưu luyến nhớ nhung như bào xát trong gan trong ruột, mà đành thôi. Ngày ngày tôi lang thang đến khắp nơi, thăm viếng tất cả những người thân thiết, hiềm nỗi không thể ở lại được nơi nào khác nên vẫn phải về cái nghĩa trang này. Dần dà tôi đâm quen thuộc gắn bó với ngày nắng đêm sương, với hương đất hương cỏ làng Thuận Trạch và ý thức rằng nơi đây cũng chính là quê hương mình. Quả thật là thế. Các bọ các mạ, người trên kẻ dưới của tôi ở làng Thuận Trạch nào khác chi bố mẹ anh chị em tôi nơi quê nhà.
Nói gọn lại là ở cõi âm tôi không có điều gì đáng phải phàn nàn, ngoài một nỗi khổ bất khả kháng do tình trạng quá nhàn rỗi gây nên. Thời gian mỗi ngày lê thê vật vờ dài kinh khủng. Nhưng ngoảnh đi ngoảnh lại thì lại thấy năm tháng trôi nhanh vùn vụt.
Hôm dân làng đưa tôi từ bãi tha ma Thuận Trạch lên nghĩa trang liệt sĩ của huyện Lệ Thủy, nhìn thấy thằng cháu Cường cao lớn râu ria lởm chởm, đứa con cô Lợi sắp cao bằng mẹ, ông Kính chống gậy lưng còng gập, còn chị Miêng thì tóc đã lốm đốm bạc trên đầu, tôi mới giật mình biết là hơn mười năm trôi qua từ cái buổi chiều chúng tôi quyết chiến với hai mươi mốt tốp máy bay Mỹ để bảo vệ một con tàu chở vũ khí vào Nam đang neo đậu ở cửa biển Nhật Lệ.
Rồi cái hôm anh Hinh, anh Minh cùng vợ chồng Thúy Lan bế đứa con đầu lòng của họ vào thăm, tôi bàng hoàng như cả thiên niên kỷ đã vuột khỏi vòng tay mình, làm cho cái quá khứ thêm dằng dặc muôn sông nghìn núi phủ mịt mùng sương khói. Khác với lần tôi “gặp”
Thúy Lan bên Nam Ninh, tôi đã đứng sát bên người em, ngửi thấy mùi da thịt nồng ấm của em. Còn lần này tôi những muốn chạy lại ôm chặt lấy hai mẹ con Thúy Lan, muốn thơm lên đôi má bụ bẫm của thằng bé - Nó là hình ảnh suốt đời tôi ao ước - mà không thể được. Hơi hướng người chồng mới của Thúy Lan đã cản tôi lại.
Họ là hiện tại, là tương lai. Còn tôi mãi mãi đã là quá khứ. Từ hiện tại đến quá khứ cách nhau một bước chân. Một bước chân cực kỳ ngắn chỉ đủ bước qua một sợi tóc. Nhưng lại là bước chân có phép thần thông rút đất của tạo hóa, chứa muôn trùng trong đó, để một khi đã bước qua thì không bao giờ có thể bước trở lại được nữa, như con tốt bước qua sông trên cái bàn cờ khắc nghiệt của tạo hóa.
Thời gian vẫn trôi lê thê từng ngày và loang loáng những năm những tháng. Nấm mộ xây của tôi nằm trên gần đỉnh đồi nghĩa trang năm nào cũng được quét vôi, quét đi quét lại khéo đã vài chục lần. Thằng bé Cường đã có vợ và hai đứa con. Cứ đến ngày giỗ tôi hoặc các dịp Tết nhất là bố con nhà nó lại dẫn nhau ra thắp hương mời tôi về ăn cỗ. Tôi được lên chức ông từ lâu lắm rồi.
Cho tới một đêm tháng Chạp có trăng non, gió lạnh hun hút thổi qua sông Nhật Lệ tràn tới. Tôi được một lúc mảnh trăng lá lúa đã đậu xuống đỉnh dãy Trường Sơn một khối đen hùng vĩ lưng trời phía bên trái nơi tôi nằm. Từ trong khối bóng tối ấy bắt đầu vang lên tiếng đôi chim từ quy gọi bạn tình. Tiếng chim da diết, chậm rãi, não nùng khiến cảnh vật bốn bề thê lương đến nhức nhối trong lòng. Trong cái đêm hành quân qua Đèo Ngang năm xưa, tôi đã làm một bài thơ về cảnh này. Bài thơ tôi gửi về cho anh Minh. Câu chữ thế nào không còn nhớ, nhưng không thể quên vẻ đẹp ứa lệ đường xa trăng tàn đối với người lính bỏ lại quê nhà để dấn thân vào binh lửa.
Tôi đang vắt óc nhớ lại bài thơ đó, thì bỗng xuất hiện một tốp người từ chân đồi nghĩa trang đi thẳng lên chỗ tôi. Người đi đầu tôi nhận ngay ra là ông quản trang. Ngày nào ông chẳng đến đây dũi cỏ, tưới hoa, thắp hương với vẻ lặng lẽ cần mẫn của một lão bộc. Sau ông quản trang là người phụ nữ quần áo nửa tỉnh nửa quê mặc áo mút màu xanh rêu đầu bịt khăn len kiểu mỏ quạ. Tiếp đến một cậu trai bận bu dông da, quần bò, dáng cao lớn như một phi công. Người đàn ông đi sau chót có vẻ là dân vùng này, vác trên vai cuốc xẻng và nhiều thứ lỉnh kỉnh.
Bốn người lúi húi đứng che gió để bật lửa đốt hương. Bó hương cháy bùng như ngọn đuốc, gió thổi tung tàn lửa bay sang các hàng mộ khác. Người phụ nữ đột nhiên quỳ thụp ôm chặt lấy tấm bia của tôi, rền rĩ:
- Ối anh Tân ơi là anh Tân ơi. Anh có cho phép em được nhận làm vợ anh một lần nữa không anh ơi. Anh sống khôn chết thiêng hãy tha cho chuyện khôn ba năm dại một giờ của em. Cay cực lắm. Cay cực lắm. Trời ơi cay cực lắm!...
Người phụ nữ lăn lộn cào cấu lên nấm mộ tôi, khăn áo văng ra. Giọng càng lúc càng nghẹn tắc. Tôi chỉ còn nghe được chị ta gọi “Anh Tân ơi! Anh Tân ơi” Em đây!...” như người nói trong cơn mê sảng. Còn tôi thì ngơ ngác tự hỏi thế này là thế nào? Người phụ nữ này là ai? Tại sao chị lại gọi đúng tên tôi, và cái chuyện khôn ba năm dại một giờ là chuyện gì thế nhỉ?
Cậu trai xốc nách dìu người phụ nữ đứng dậy, quát lên:
- Mẹ! Đừng nhắc lại chuyện ấy nữa - Cậu ta nuốt nước bọt đánh ực - Mẹ không khấn bố thì để con khấn cho vậy.
Nói đoạn, cậu trai chắp tay trước ngực, nghiêng người trước mộ tôi, lầm rầm “Kính thưa linh hồn bố Nguyễn Duy Tân, Nguyễn Nhật Tân mới đúng tên tôi chứ, quê ở làng Đa Ngưu, xã Vân Giang, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên. Đúng quê tôi rồi. Ông bà tôi sinh ra bố tôi ở làng này, sau vì đói khổ bố tôi mới phiêu bạt lên Yên Bái rồi về Hà Nội, nên trong lý lịch tôi vẫn khai quê quán của tôi là Đa Ngưu, Vân Giang, Châu Giang, Hưng Yên. Bố sinh năm 1940, hy sinh năm 1968. Đúng thế. Trong giấy báo tử của bố, chỉ ghi là bố hy sinh ở Quảng Bình. Mẹ và con dò hỏi rất nhiều, nhờ đăng cả lên báo để tìm mà vẫn không biết bố nằm nơi đâu. May thay, xã ta có bác đại tá là bác Diễn, bác Diễn đã lặn lội đi tìm đồng đội của bác ấy. Nhờ thế bác Diễn mới tình cờ biết bố nằm ở đây. Hôm nay, mẹ và con xin phép cấp trên đến để đón bố về quê...
Ra là thế. Tôi hét khản cổ rằng tôi là Nguyễn Nhật Tân, không phải Nguyễn Duy Tân. Nhưng người dương nào có nghe.
Bó hương thứ nhất vừa tàn. Họ thắp tiếp bó hương thứ hai và bắt đầu cạy gạch cạy vữa trên mộ tôi... Khi cái tiểu sành được đưa lên mặt đất, lại đến lượt cậu trai ôm chật lấy cái tiểu, òa khóc: “Bố ơi. Con là thằng Tuấn của bố đây. Từ lúc lọt lòng mẹ, giờ con mới được gặp bố. Bố của con là cái tiểu sành này ư? Bố nói lên một tiếng. Con van bố! Bố cho con được nghe giọng nói của bố, chỉ một lần thôi mà!...”.
Thế là tôi phải giã từ nghĩa trang Lệ Thủy ngay trong đêm. Vĩnh biệt cửa sông Nhật Lệ nước biển đang tràn vào tung ánh lân tinh sáng lập lòe ngọn sóng. Vĩnh biệt dãy Trường Sơn hùng vĩ được tưới đẫm máu những người dũng cảm nên càng thâm nghiêm hùng vĩ hơn gấp ngàn lần. Vĩnh biệt anh em đồng chí cùng nằm với tôi hơn nửa thế kỷ nay. Vĩnh biệt các bọ các mạ và tất cả bà con Thuận Trạch. Nếu ở cõi âm còn một lần phải liều thân cho đất nước, tôi lại sẽ chọn mảnh đất này mà ngã xuống!...
Chúng tôi lên tàu hỏa ở ga Lệ Thủy lúc 5 giờ sáng. Người phụ nữ đã khóc hết nước mắt vừa thu xếp chỗ ngồi trên tàu xong thì lả đi, tựa lưng vào cái hòm gỗ bên trong đựng cái tiểu bọc giấy trang kim của tôi. Tôi nghe chị ta thở dốc, nhưng tàu chạy được một đoạn thì hơi thở của chị ta đã đều đều. Chị ta ngủ rồi. Ngồi sát bên phía tay phải người mẹ là cậu con trai tên Tuấn. Cậu ta lăn qua lăn lại mái đầu trên thành toa xe, đôi mắt vô định nhìn ra đồng đất lau lách hai bên đường.
Mãi lúc này tôi mới có chút thời gian ngắm kỹ “đứa con trai” của mình. Da dẻ nó rám nắng, đôi mắt to hơi xếch, vầng trán rộng có đường gân xanh chạy dọc từ chân tóc xuống. Phàm những người đàn ông có “con giun” giữa trán thường là thẳng thắn bộc trực, làm được việc, nhưng bướng bỉnh lắm đây. Cái cậu này xem chừng cũng thế, gương mặt ấy, ánh mắt ấy, rõ ra là thằng bé cương nghị và thông minh. Hiềm nỗi không có sự dìu dắt của cha, không hiểu nó có được học hành chu đáo hay không? Tôi buồn thắt ruột tưởng tượng ra đứa con mà cả Thúy Lan và tôi cùng ước mơ. Nếu được thế, chắc nó cũng xấp xỉ với tuổi cậu Tuấn này.
Người đàn bà ngủ tựa vào cái tiểu của tôi ngáy khe khẽ. Nét mặt chất phác của chị ta lúc này trông thật bình yên. Có lẽ chị ta đã yên lòng xem như cái gia đình bé nhỏ của chị từ nay trở đi được đoàn tụ mãi mãi, cho dù mẹ con chị chỉ được đoàn tụ với một nắm xương. Nhưng cái ý nguyện đơn sơ mà tội nghiệp ấy cũng chẳng được. Giá như tôi chính là cái anh bạn đồng đội Nguyễn Duy Tân kia thì hay biết bao.
Con tàu tốc hành băng qua Lũy Thầy, Đèo Ngang, rồi Bến Thủy, Phà Ghép, Hàm Rồng... Tới đâu tôi cũng ngẩn ngơ tìm lại trận địa cũ nhưng chẳng đâu còn. Nhà cửa, công trình, phố xá mọc lên san sát khiến chính tôi phải lẩn thẩn tự hỏi có phải đất nước đã từng trải qua những trận binh lửa thảm khốc vào loại nhất nhì thế gian hay không? Nếu phải, chẳng lẽ những cánh đồng dày đặc hố bom, những chiếc cầu bị phá đi phá lại không biết bao nhiêu lần, những làng mạc xác xơ nghi ngút cháy... giờ ở đâu cả rồi?
Tới ga Giáp Bát, Ngã Tư Vọng, mặt hồ Bảy Mẫu vẫn lăn tăn sóng thầm mách báo cho tôi biết trường Đại học Bách khoa của tôi đã gần kề đâu đây. Tôi muốn được dừng lại ít phút vào thăm trường, thăm các thầy các bạn năm xưa giờ ai còn ai mất, nhưng “con trai”
tôi không hiểu được lòng tôi nên sau khi xuống ga Hàng Cỏ nó đã thuê xích lô cho tôi dạo quanh một vòng bờ hồ Hoàn Kiếm để bố đi xa lâu ngày giờ có dịp thăm lại Hà Nội.
Bờ hồ Hoàn Kiếm mờ mờ trong mưa bụi. Loáng thoáng có người bày cành đào chậu quất trên vỉa hè, hoặc đèo xe đạp đi bán dạo dọc phố. Ôi nhớ anh Minh! Ngày nhỏ cứ vào dịp này năm nào em chẳng theo anh đi xem chợ hoa. Chợ hoa đông ngàn ngạt, thế mà anh còn cắp cái cặp vẽ kè kè bên hông, lúc lúc lại dừng lại ghi ghi chép chép. Còn em chỉ muốn vỗ cánh bay lên cao để thỏa mắt ngắm nhìn những thảm hoa, những thảm người rực rỡ màu len dạ trải dài khắp kinh thành. “Nhà ta ở khu tập thể Kim Liên. Đi lối này chứ!”, tôi nói thật to mấy lần, nhưng biết là vô ích. Thằng Tuấn kiếm đâu được cái xe ô tô com măng ca đít vuông chở tôi vút qua sông Hồng. Người đàn bà lại sụt sùi khóc. Tuấn lầm rầm khấn “Bố ơi, giờ mẹ con con mời bố về làng mình, bố nhé”.
“Làng mình” tức là làng Đa Ngưu, tôi hiểu thế. Đa Ngưu là đất tổ chi họ Nguyễn của chúng tôi. Nhưng từ bé tới lớn tôi chỉ được về Đa Ngưu có hai lần. Một lần từ hồi mẹ tôi còn sống, bố tôi đưa cả nhà về ăn giỗ tổ ở nhà bác trưởng tộc. Tôi còn bé quá chả nhớ được gì ngoài một hình ảnh mẹ tôi vấn khăn nhung mặc áo dài màu đồng lầm dắt tôi đi từng bước trên con đường làng chi chít vết chân trâu. Và một lần nữa trước khi tôi đi bộ đội. Bố tôi gọi ba anh em tôi lại, nhưng là nói với anh Hinh:
- Chân cẳng bố bây giờ đi lại khó khăn lắm rồi. Bố giao anh cả Hinh đưa các con về vái tổ để cho em Tân lên đường.
Lần ấy thì lại quá vội vàng. Sáng đạp xe về, trưa đã phải trở ra. Tôi bị hút hồn trước một cô gái làng đang múc nước bên cái giếng xây. Người đâu mà đẹp đến thế, cứ như nàng tiên từ bộ tranh tố nữ bước ra. Tôi và cô gái nhìn nhau chằm chặp, anh Minh nói tếu “Trâu ta gặm cỏ đồng ta thì hay quá!” làm hai má cô gái đỏ bừng.
Chợt cậu Tuấn vỗ nhẹ bàn tay lên nắp tiểu của tôi thốt lên:
- Bố ơi bố. Nhà ta ở chỗ có hai cây dừa kia kìa. Mẹ bảo hai cây dừa bố trồng ngày bố ra đi đấy. Bố có nhận ra không? Nhưng giờ thì con xin phép đưa bố vào nghĩa trang đã. Trên Hà Nội con đã gọi điện, chắc các bác các chú ở huyện ở xã đang đợi đón bố về.
Tuấn vừa dứt lời xe đã rẽ trái đi vào khúc đường rải đá dăm băng qua mấy thửa ruộng lúa chiêm chưa kịp bén. Tôi nhìn thấy đài Tổ Quốc Ghi Công cao lừng lững vươn lên giữa cánh đồng ngút ngát Tam thiên mẫu. Bên dưới đài Tổ Quốc Ghi Công có lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trong nắng, và dòng khẩu hiệu vải đỏ chữ vàng chăng ngang trên đầu một đám rất đông người. Chiếc xe tắt máy thì tiếng trống ếch nổi lên vang dội. Hai hàng thiếu nhi bên trai bên gái mặc đồng phục quần xanh áo trắng đội mũ chào mào thắt khăn đỏ nhất loạt đứng nghiêm giơ tay chào tôi. Tiếng người nói qua mi cờ rô vang lên:
“Lễ đón rước liệt sĩ Nguyễn Duy Tân, bắt đầu!”
Chiếc tiểu của tôi từ từ trôi trong tiếng nhạc Chiêu hồn tử sĩ. Nhiều tiếng khóc trào lên. Tôi cũng khóc. Xưa nay tính tôi vốn ngại ngùng trước những thủ tục long trọng, vậy mà lúc này tôi không cầm được nước mắt. Nguyễn Duy Tân bạn hỡi! Linh hồn bạn ở nơi đâu hãy mau mau mà về. Dân làng ta, quê hương ta, mảnh đất làng ta đang ôm ấp vỗ về ta! Máu những người lính chúng ta dù đổ xuống ở phương trời nào, đều hóa thành những mạch nước ngầm thấm xuôi về cội. Bạn có nghe tôi gọi đấy chăng...
Buổi lễ kéo dài mãi gần hết buổi chiều, vì nhiều người lên phát biểu quá. Sau đó là còn lại một mình tôi giữa mấy chục ngôi mộ xa lạ chung quanh. Rồi đêm xuống. Trời lạnh căm căm. Gan dạ tôi ngổn ngang vừa thích thú cảnh đồng đất quê nhà vừa da diết nhớ núi rừng Trường Sơn, nhớ dòng sông và cửa biển Nhật Lệ, bà con ở làng Thuận Trạch. Cái mảnh trăng lá lúa đìu hiu trên ngọn Trường Sơn tối hôm nào vẫn theo tôi ra tới đây. Nó có đầy thêm lên một tí nhưng không le lói bằng, và rất khó tìm, bởi ánh điện từ Thủ đô làm cho vòm trời đêm ở các vùng phụ cận lúc nào cũng mang mang như sáng trăng suông. Một luồng gió lạnh nhẹ thổi qua cánh đồng đã đưa tới bên tôi một bóng dáng chập chờn, nhìn kỹ tôi mới nhận ra đó là một trung úy hải quân. Người trung úy hải quân tự giới thiệu là Nguyễn Duy Tân, làm tôi sửng sốt:
- Trời đất. Sao mãi giờ anh mới về? Nguyên Duy Tân cười buồn thăm thẳm:
- Anh biết đấy. Người cõi âm chúng ta đi đâu về đâu mà chẳng được. Chỉ có chuyện nằm ở đâu mới thành vấn đề. Từ hai hôm trước tôi đã biết chuyện về anh...
- Ôi! - Tôi cắt ngang lời Nguyễn Duy Tân - Hai chúng mình cùng một quê quán, cùng năm sinh, cùng năm mất, chỉ khác nhau ở chỗ anh là Nguyễn Duy Tân, tôi là Nguyễn Nhật Tân, vả lại tấm lòng hậu phương rất nôn nóng tìm kiếm chúng ta nên mới xảy ra sự nhầm lẫn nghiêm trọng này!
Nguyễn Duy Tân khoát tay:
- Có gì là nghiêm trọng đâu. Cũng chính vì thế hôm nay tôi mới tìm đến anh để đề nghị anh một việc.
- Việc gì, xin anh cứ nói.
- Là thế này, Nguyễn Nhật Tân ạ. Thật đau lòng nếu để vợ tôi lại phải thêm một lần mất chồng, con tôi lại thêm một lần phải mất cha. Mất tôi, mẹ con nhà nó đã chịu quá nhiều thiệt thòi cơ cực rồi…
- Tôi hiểu ý anh. Có phải anh khuyên tôi cứ thế này mà nhập vào vai của anh, để làm yên lòng những người đang sống?
Nguyễn Duy Tân lại cười, nụ cười có phần đỡ ngậm ngùi hơn nụ cười ban nãy.
- Cảm ơn Nguyễn Nhật Tân. Đúng thế.
Tôi suy nghĩ. Nếu chỉ riêng tôi, việc nhận lời với Nguyễn Duy Tân thật là đơn giản. Nhưng... Tôi còn anh Hinh, anh Minh, còn Thúy Lan, và nhiều người thân hiện đang sống ở ngay Hà Nội đây. Sớm muộn rồi những người thân của tôi cũng lần tìm ra manh mối của sự nhầm lẫn éo le này. Tới chừng đó, biết làm sao?
- Không sao. Không sao - Nguyễn Duy Tân nói - Tôi cũng đã nghĩ đến tình huống ấy. Miễn sao anh đừng để vợ con tôi phải tủi thân, phải xót xa nghĩ rằng mẹ con nó đã lặn lội xiết bao khó nhọc để đi nhặt nắm xương của một người dưng nước lã về.
Tới đây tôi bật kêu lên:
- Này Nguyễn Duy Tân, có một giải pháp đơn giản hơn nhiều, là anh hãy báo mộng cho chị ấy và cháu Tuấn biết anh đang nằm ở đâu. Cớ sao anh không làm?
Im lặng rất lâu rồi Nguyễn Duy Tân mới thì thầm:
- Tôi nằm ở đâu ư? Nếu biết, vợ con tôi làm sao để tìm thấy hài cốt của tôi giữa biển Đông bao la? Thôi thôi Nhật Tân, bạn hãy vui lòng giúp tôi thì hơn là làm cho mẹ con cô ấy thêm đau lòng, thêm khó nhọc hơn nữa...
Tiếng gà gáy eo óc từ những thôn xóm dọc hai bên quốc lộ 5 vọng tới. Nguyễn Duy Tân khẽ rùng mình. Hình như anh đang cố nén một cơn bão tố trong lòng.
- Nguyễn Duy Tân đi đây, Nguyễn Nhật Tân nhé. Trời sắp sáng mất rồi!
*
Vài dòng thay đoạn kết.
Nghe tin Quảng Bình bị con bão số 6 tàn phá, anh em ông Nguyễn Thế Hinh và Nguyễn Thế Minh đã đánh điện cho cháu Lê Minh Cường ở làng Thuận Trạch, xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình, để hỏi xem tình hình gia đình cháu ra sao. Và chính tác giả truyện ngắn này đã may mắn được gặp cháu Nguyễn Duy Tuấn con trai của liệt sĩ Nguyễn Duy Tân khi cháu ra đi học tại nhà họa sĩ Nguyễn Thế Minh ở phố Cao Bá Quát, Hà Nội.
Xương máu của hai liệt sĩ Nguyễn Duy Tân, Nguyễn Nhật Tân đã tạo cho mấy gia đình này một mối quan hệ thân thiết gắn bó, quan tâm đến nhau, giúp đỡ nhau, cưu mang nhau, như những người cùng huyết thống vậy.
19/5/1999