Triệu Bôn là nhà biên tập đầu tiên viết thư trao đổi về bài vở với tôi. Đấy là năm 1978, tôi đang ngấp nghé trước cửa làng văn. Ngập ngừng mãi mới dám gửi một truyện ngắn cho tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cũng đâu có dám trực tiếp gửi, một cậu bạn cùng lớp bảo “chị tớ là văn thư ở tạp chí, đưa chị tớ gửi cho”. Hai tháng sau, nhận được thư của nhà văn Triệu Bôn gửi về Đại học Ngoại giao, đại ý: kính gửi đồng chí... chúng tôi sẽ dùng truyện ngắn của đồng chí, đề nghị cho biết truyện đã in ở đâu chưa để chúng tôi tiện sử dụng, chào thân ái.
Những dòng chữ mực tím, màu mực anh Triệu Bôn thích dùng. Tôi vui mừng âm ỉ vì nhà văn Triệu Bôn khi ấy rất nổi tiếng với truyện ngắn Mầm sống lại xưng hô với mình như một đồng nghiệp ngang hàng, kính gửi kính thưa hẳn hoi. Lại hỏi truyện đã in ở đâu chưa, chứng tỏ truyện của mình “tầm cỡ” in được. Chỉ thế là đủ sướng đối với một cây bút trẻ còn đang hồi hộp chưa biết tác phẩm của mình có in được hay không.
Triệu Bôn phải thư từ nhắn nhủ mãi tôi mới dám mò đến toà soạn. Hồi ấy Văn nghệ Quân đội mỗi tháng chỉ có một số, bài vở phải xếp hàng lâu. Từ khi nhận được thư kính gửi đồng chí cho đến khi truyện in ra phải mất thêm nửa năm. Triệu Bôn thấy tôi đến thì gọi thêm các nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, Hồ Phương, Dũng Hà... sang “xem mặt”. Ai cũng hồ hởi, đọc truyện cứ tưởng cậu là giáo viên bốn chục tuổi, ai ngờ là sinh viên năm thứ nhất như thế này. Triệu Bôn xem ra là người phấn khởi nhất, như thể anh nhận hết những lời khen ấy về mình.
Từ đó tôi hay lui tới thăm anh. Trong căn phòng ở tầng hai nhà số 4 Lý Nam Đế, tôi được trò chuyện với Triệu Bôn, tiếp nhận nhiều kinh nghiệm về nghề văn, nghe anh bộc lộ quan điểm về các tác phẩm mới. Ví dụ lúc ấy người ta đang tìm đọc Daghestan của tôi, thì anh bảo Rasun Gamzatov viết lý luận văn học một cách dễ đọc và hơi đơn giản. Rồi anh nói về Chiến bại của Fadeev, một tác phẩm “ngột ngạt” đến mức đọc xong mà nửa đêm anh phải mở toang cửa sổ ra. Rồi anh góp ý cho tác phẩm của tôi. Truyện này viết gầm gào bi kịch hóa. Truyện kia thì nhân vật đặt tên toàn hai chữ, kiểu như Huệ Tâm, Lê Hân, cứ như cậu ấm cô chiêu, lối đặt tên của Tự lực văn đoàn đời cũ. Thời gian qua lâu rồi, nhưng điều này tôi vẫn giữ lại tới bây giờ, rất dị ứng với lối đặt tên nhân vật đầy tính tiểu tư sản. Tôi nhìn con người điềm đạm của anh mà kính trọng. Yêu mến nữa. Tôi viết cả truyện ngắn tặng anh. Nhưng Triệu Bôn không bao giờ đem truyện ấy ra mổ xẻ, không nhắc gì đến nó. Cảm ơn anh đã trân trọng tình cảm thực của tôi mà không chê bai nó như với một bản thảo gửi cho anh biên tập.
Sau này Triệu Bôn chuyển sang làm báo Người Hà Nội ngay từ số đầu tiên. Tôi vẫn còn thỉnh thoảng đến thăm anh ở 19 Hàng Buồm. Rồi tôi đi xa lâu lâu. Gần mười năm sau trở lại, như gặp một người khác. Một ông già hom hem, cái yếu đuối thể chất ăn sang cả phong độ. Rụt rè hỏi em có làm báo phải không, bảo cho anh cách viết báo với. Sao sự thể lại xoay ra thế, anh là “người thầy đầu tiên” của tôi, bây giờ lại run run hỏi tôi dạy anh viết báo kiếm sống? Không dám. Không bao giờ. Tôi chỉ dám đặt bài anh, đến nhận, đưa báo này không in thì chuyển sang báo khác, in bằng được thì thôi. Nghe nói anh đã ốm đau nằm liệt, thành ra một ông già như thế. Ở một cuộc họp, có nhà thơ nữ gần tứ tuần chào anh bằng bác, rồi quay sang nhà thơ Vân Long chào anh. Vân Long cười, nhắc: Bác Triệu Bôn ấy kém anh Vân Long này những bốn tuổi đấy. Chỉ đôi khi mới thấy lại dáng vẻ của nhà văn Triệu Bôn khi tôi mười tám tuổi thập thò đến gặp anh lần đầu. Sau khi ở báo Người Hà Nội, anh chuyển sang làm Tổng biên tập tạp chí Du lịch, rồi về hưu từ Tổng cục Du lịch. Trong vòng quay công chức nghe đâu không phải lúc nào anh cũng giữ được sự trầm tĩnh điềm đạm như tôi thấy ngày đầu. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, Triệu Bôn như lui về một thế giới khác. Thảng hoặc anh có lấy làm tiếc về đôi điều nào đó, cả công lẫn tư. Trùm lên tất cả là một cảm giác hư vô, tiếc cho mình đã có lúc mất thời gian vào mọi chuyện phù vân.
Hơn mười năm qua, Triệu Bôn viết khác hẳn. Không còn là Triệu Bôn viết về chiến tranh, khốc liệt. Không còn là Triệu Bôn viết về cái đời thường, thô mộc. Anh đã mấp mé chạm đến ranh giới giữa thực và ảo, tinh tế hơn. Mừng cho anh lắm. Năm 2002 Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng hàng năm cho tập Ngồi một chỗ thấy ngoài ngàn dặm là ghi nhận nỗ lực làm mới mình của Triệu Bôn. Giải thưởng ấy là nhân duyên. Bởi vì nếu năm nay sách anh mới ra thì Hội không có được may mắn tặng giải khi anh đang sống nữa.
Trong tập ấy có truyện Gió lay cửa Phật ám ảnh mãi. Ngôi chùa có hai người đàn bà - một bà sư thầy và một “chú” tiểu. Cuộc sống của họ bắt đầu xao động khi có một người đàn ông ngày nào cũng đến đứng trước cổng chùa nhìn vào. Xót xa, tiếc nuối, sám hối... đủ mọi sắc độ tình cảm. “Chú” tiểu mới là một thiếu nữ đôi mươi, chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chỉ có bà sư và người đàn ông kì dị kia hình như là biết, nhưng chẳng ai nói... Bây giờ nhắc đến truyện này, cầu mong Triệu Bôn thanh thản mà đi. Mọi tiếc nuối, mọi uẩn khúc nỗi niềm xin để lại trần gian, chẳng việc gì phải nặng nợ ôm giữ mang theo.
Nếu quả thật có một kiếp tái sinh như trong những truyện cuối đời anh viết thì xin gửi những dòng này theo anh. Giống như thư anh gửi cho tôi hai mươi lăm năm trước, tôi xin trân trọng đặt bút: Kính gửi đồng chí Triệu Bôn.
HẾT