Tuyển Tập Truyện Ngắn Triệu Bôn

Lượt đọc: 217 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đêm Đuốc Máu

❊ ❊ ❊

Chuyện xảy ra đã non một thế kỷ, mà dường như lại bắt đầu từ ngày hôm nay. Cái ngày hôm nay rộng dài, nói chính xác là vào vụ gặt chiêm năm 1978-1979 gì đó, cách ngày ra đời của truyện ngắn này cũng đã vài thập kỷ chứ ít.

Bấy giờ đánh xong giặc Mỹ, thống nhất được nước nhà, người lớn con nít ai ai đều cảm thấy chủ nghĩa xã hội, cả chủ nghĩa cộng sản nữa, đã rất gần kề. Hợp tác xã cấp thôn lên hợp tác xã cấp xã hết lượt. Chưa thấy hợp tác xã cấp huyện nhưng nghe đâu đang rục rịch. Ruộng đất của chung, trâu bò cày cuốc của chung, buồng cau nải chuối con tôm con tép cũng sắp thành của chung. Vì thế nên hợp tác xã Đông Thành đất chật người đông mới được cấp trên phân phối thêm cho nửa cánh đồng - gọi là cánh đồng Nghè - bên địa phận hợp tác xã Đông Thạch, cho đội sản xuất số 6 của Đông Thành sang làm bên đó.

Đông Thành có tên tục là Kẻ Cồn, còn tên tục của Đông Thạch là Kẻ Chiểu. Kẻ Cồn, Kẻ Chiểu có biên giới chung là con sông Nhà Lê. Cánh đồng Rộc bên Kẻ Cồn và cánh đồng Nghè bên Kẻ Chiểu đều tát nước từ con sông này lên cày cấy tưới tắm.

Nghe nói xưa kia sông Nhà Lê mênh mang con nước thủy triều, thuyền binh của vua Lê chảy qua cờ quạt gươm giáo sáng ngời. Nhưng rồi Tây sang, con đường cái quan chẹn mất long mạch, thủy triều thôi lên xuống, sông Nhà Lê thành con sông nước tù, dân Kẻ Cồn Kẻ Chiểu đôi bên vượt bùn lên để mở mang đồng ruộng, lâu dần lòng sông chỉ còn bề ngang mươi bước nhảng chân và dày chi chít bèo tây. Thứ bèo có lắm tên: bèo tây, bèo Nhật Bản, trong Nam gọi là lục bình, sống khỏe lạ, sinh sôi lan tràn hỗn như ăn cướp, rễ sùm sòa như râu ông Quan Công, cọng cao tầy đòn gánh, gốc chen khít rịt người có thể trườn trên đó mà không dính nước.

Đội 6 Đông Thành kéo bèo tây đắp dầy thành cái cầu phao qua sông để tiện sớm tối đi về. Người Kẻ Chiểu nhìn những thửa ruộng miếng gan miếng tiết do ông cha mình truyền lại nay không cầm cố bán chác gì mà bỗng dưng lọt vào tay người Kẻ Cồn thì tức ngầm tức ngột trong lòng. Đã thế lại còn phải nghe tiếng hát hổng véo von, tiếng cười hí hố của họ nữa. Cứ như trêu ngươi nhau. Mà khéo là trêu ngươi thật cũng chưa biết chừng. Kẻ Cồn xưa nay là đất phát quan, phát cả võ lẫn văn, ngay thời nay cũng thế, nên dân Kẻ Cồn nhìn dân kẻ khác không khỏi ít nhiều có phần khinh thị.

Tuy vậy, qua một vụ chiêm cấy lúa sang một vụ đông trồng đậu lạc ngô khoai, dân làng hai phía chỉ mặt nặng mày nhẹ với nhau chứ trên nửa cánh đồng Nghè chưa xảy ra chuyện gì. Nhưng, bước sang vụ chiêm năm sau là lôi thôi rồi. Giữa lúc lúa đang ngậm đòng đòng, đêm mưa sầm sập, mà sáng ra khu ruộng của đội 6 Đông Thành không còn hột nước nào. Quái lạ. Tìm mãi mới phát hiện ra những cái lỗ ngầm chọc xiên qua bờ ruộng. Ai? Ai? Ai đã kỳ công làm cái việc quái ác này nếu không phải là âm mưu thâm độc của bọn Kẻ Chiểu! Cả đội 6 Đông Thành túa sang đi lần tìm từng cái hang hốc bí mật để đắp lại, rồi mang gầu giai gầu sòng ra tát nước sông Nhà Lê lên cho lúa làm đòng. Đã thế, phải làm thật hăng, thật náo nhiệt, cho bọn Kẻ Chiểu, cái bọn dốt nát nơm giậm ấy biết tay.

Tới trận mưa rào tiếp theo, mấy tay bộ đội đặc công phục viên ở đội 6 ra phục kích sau các lùm dứa dại, bắt được đứa nào phá hoại sản xuất nhất định đánh què. Nhưng trên cánh đồng mờ mịt mưa chẳng thấy một bóng người lảng vảng.

Tới kỳ lúa chín. Chỉ trong một đêm dân Đông Thạch kéo nhau ra gặt bay mấy sào ruộng tốt nhất của đội 6 Đông Thành, lại đập lúa rũ rơm ngay trong đêm để phi tang.

Đội 6 phát đơn kiện. Rồi ban quản trị hợp tác xã Đông Thành cũng phát đơn kiện lên huyện đòi hợp tác xã Đông Thạch, phải bồi thường số lúa bị gặt trộm. Năng suất mỗi sào được hơn tạ thóc, bắt đền vống lên những 2 tạ rưỡi một sào.

Huyện ủy phải đứng ra dàn xếp. Hễ yên trong đảng thì dân khắc yên. Bí thư Đông Thành và bí thư Đông Thạch được mời lên, không dùng luật mà dùng tinh thần xã hội chủ nghĩa và tình đồng chí đồng bào. Bí thư Đông Thạch thề sống thề chết vụ việc này ông không biết tí gì. Bí thư Đông Thành nóng mặt.

- Thế thì đồng chí lãnh đạo cái gì?

Bí thư Đông Thạch đốp lại:

- Còn đồng chí, đồng chí lãnh đạo cái gì?

- Tôi lãnh đạo cái gì thì lãnh đạo, chứ không lãnh đạo đi ăn cướp.

Bí thư Đông Thạch đập bàn đánh rầm.

- Ăn cướp hả. Chứng cớ đâu?

Bí thư Đông Thành ngắc ngứ. Dân Đông Thạch gặt trộm lúa của Đông Thành, thực là hai năm rõ mười. Nhưng chứng cớ thì không có. Bí thư Đông Thạch hét lên: “Tôi cấm đồng chí nói láo như thế nhé!” rồi xách sà cột phăm phăm bỏ về.

Trong khi mối quan hệ giữa những nhà lãnh đạo mới dừng lại ở những lời lẽ gay gắt thóa mạ nhau, thì dân hai phía đã xử theo cách khác. Đông Thành, Đông Thạch đều không thiếu những sĩ quan chỉ huy, những tay súng dầy dạn ngoài chiến trường, họ bèn kéo ra dàn thế trận dọc hai bờ sông Nhà Lê. Phía Đông Thạch chỉ là một đám đông gậy gộc lố nhố không hàng ngũ. Còn phía Đông Thành, có thê đội một, thê đội hai, lại được yểm trợ bằng đội quân đấu tranh chính trị bao gồm các bà các chị to mồm chửi khỏe, rất lớp lang bài bản.

Một mũi nhọn của Đông Thành bò qua dải bèo tây trên sông Nhà Lê bất ngờ xung phong định đánh chiếm vị trí đầu cầu bên đồng Nghè, bị gạch đá bên Đông Thạch đánh bật trở lại.

Quân Đông Thạch thừa thắng hò nhau tràn sang, cũng bị Đông Thành đánh lui, một người còn bị Đông Thành bắt trói làm tù binh.

Chiến sự bắt đầu từ khoảng hơn 8 giờ sáng, tới non trưa thì thấy cả hai bên xuất hiện những khẩu súng trường CKC, lên đạn rốp rốp. Nhưng vừa lúc đó xe huyện ủy, rồi xe của ủy ban huyện lên. Chắc có người cấp báo.

Từ hai chiếc u oát bước ra có hai ông cấp phó, phó bí thư huyện ủy và phó chủ tịch huyện, cùng gần chục anh công an. Ai hăng tiết mặc ai, những người từ huyện lên đều đi lại thong thả khoan thai,và rất kiệm lời. Ông phó chủ tịch huyện cầm cái loa pin đứng giữa cầu phao bèo tây, nói: “Tôi yêu cầu bà con giải tán, phải trái thế nào sẽ có người giải quyết”. Thế thôi. Súng ống bị công an thu hết bó thành bó bỏ lên xe. Bà con hai bên la ó rầm rầm nhưng là vừa la vừa tản ra về. Công cước thấp tịt. Mỗi công - tức là mười điểm lao động ghi trong sổ - hợp tác xã Đông Thạch mới chia cho xã viên được ba lạng thóc, bên Đông Thành mức ăn chia còn thấp hơn. Từ sáng nhiều người chỉ vội húp bát cháo rau má rau khoai rồi vác vũ khí chạy ra chiến tuyến, có người nhịn veo, giờ thấy các ông trên huyện về giải tán cuộc xô xát tự dưng người cứ mệt thỉu, miệng cố chửi vớt vài tiếng nhưng trong bụng đã muốn về lắm rồi.

Và khúc chuyện đời nay xin được khép lại ở đây, dành thời gian cho chuyện đời xưa. Chuyện đời xưa lại có dính dáng đến chính tôi. Chẳng là dạo đó tôi bắt đầu tập tễnh viết văn viết báo, muốn có một phóng sự về vụ tranh chấp trên cánh đồng Nghè, cốt để bênh làng mình.

Tôi bỏ gần hết kỳ nghỉ phép mười ngày của con nhà lính để lân la hỏi chuyện ông này bà kia, đa phần là các vị chức sắc từ đội trưởng đội sản xuất lên tới chủ nhiệm hợp tác xã, xã đội trưởng, và chánh phó chủ tịch xã, ghi ghi chép chép, đối chiếu tài liệu này văn bản nọ, y như một nhà điều tra. Nhưng tới đoạn chót, còn vài ngày phép cuối cùng thì tôi lại đột ngột hướng về một nhân vật đặc biệt, là cố  Tênh.

Cố Tênh năm ấy đã ngoài chín mươi tuổi. Với cây gậy trúc bóng như ngà cố vẫn thập thững đi lại khắp làng, đầu óc rất là minh mẫn. Cố búi tóc củ hành, bộ râu dài tới nửa thân áo đoạn, râu và tóc đều bạc huôm huôm màu khói. Đôi guốc dưới chân cố Tênh thời này chẳng tìm đâu ra. Nó là hai cái gốc tre đẽo mỏng, mũi cong lên kiểu mũi hài, quai dây mây, đế cao dễ đến mười phân. Guốc ấy mà không kèm cây gậy chống chắc chắn là ngã sấp mặt.

Trong nhà Cố Tênh có rất nhiều sách, toàn sách chữ nho xếp trong những cái giá - những cái quang kẹp thì đúng hơn - treo kín một bức vách. Không bao giờ cố đọc sách ở bàn học của con cháu, mà ngồi chấp bằng trên tấm phản gụ, mỏi thì nằm đọc, đầu gối lên những cái gối vuông vức như hòn gạch vồ bọc vải đỏ xếp chồng lên nhau.

Còn nói năng, bất kể là nói với khách già hay trẻ, bao giờ cố Tênh cũng một thưa hai dạ, nghe rất rườm rà.

Giữa thời buổi học trò gọi thầy giáo bằng anh, trong cuộc họp bố con gọi nhau bằng đồng chí, ăn và mặc đều quấy quá, cố ý phô cái túng cái khổ ra, nói năng vắn gọn thẳng đuột, con người cố Tênh tự nhiên cứ như cái nan đan lỗi trong mặt bằng của xã hội. Và thú thật chính tôi cũng nhìn cố Tênh như nhìn một di vật thời tiền sử trong viện bảo tàng.

Tôi tình cờ được gặp cố Tênh ở một đám cưới trong xóm. Đêm chớm thu trời khô ráo và se lạnh. Rạp cót dựng tràn cả ra vườn. Dưới ánh sáng của những cây đèn quang các bà thong thả nhai trầu, các ông thì đốt thuốc lá khói um. Ở quãng giữa rạp đang lom nhom một cuộc bàn cãi rất sôi nổi. Bàn cãi về vụ tranh chấp lúa má bên đồng Nghè. Một người đàn ông trung niên đứng phắt dậy huơ tay.

- Làng mình non tay bỏ mẹ! Chứ như tôi ấy à, tôi cho tràn sang gặt ráo mấy đám lúa của bọn Kẻ Chiểu đi. Chúng nó ăn trộm lúa của mình, mình lấy lại. Làm gì nổi nhau?

Một người khác cãi:

- Chú nghĩ người Kẻ Chiểu chịu khoanh tay nhìn chú gặt lúa của họ đấy chắc?

- Đứa nào dám ra, nện cho mấy đời!

Thế là một phe chủ hòa một phe chủ chiến đấu khẩu ầm ầm ngỡ vỡ tung rạp. Rồi chợt mọi người im phắc khi cố Tênh rời cái phản kê ở gian giữa trong nhà chống gậy bước ra sân. Cố đứng dưới cây đèn quang, sửa lại khăn xếp cho ngay ngắn rồi mới lên tiếng, nói rất từ tốn mà giọng sang sảng.

- Tôi có mấy nhời xin được góp chuyện cùng quí vị. Tôi thiển nghĩ các quí vị mới biết một mà chưa biết mười. Dùng vũ lực chẳng qua chỉ tấp thêm vào mối hiềm thù truyền kiếp giữa Kẻ Cồn ta với bên Kẻ Chiểu mà thôi.

Cái người đàn ông cầm đầu phái chủ chiến lại đứng lên.

- Thế ý cố nên làm thế nào?

Cố Tênh bỏ qua câu hỏi ấy, nói tiếp.

- Tôi xin hỏi quí vị nào biết ngày cụ Hồ phất cờ khởi nghĩa vì sao bên ấy lấy tên là Đông Thạch, bên ta là Đông Thành hay không?

Nhiều người đồng thanh “Thưa chưa”. Cố Tênh gật đầu bảo ngày mới khởi nghĩa các bậc trí giả còn được trọng dụng chứ không “bình quyền bình đẳng” như bây giờ. Do đó cố cũng được mời ra giúp nước một thời gian ngắn. Cố được tham dự vào cuộc họp đặt tên đời mới cho các kẻ, các giáp.

- Chứ thưa các quí vị. Các quí vị có thấy ngọn núi đá bên Kẻ Chiểu trông xa giống cái ngòi bút chĩa lên trời không ạ?

- Thưa có.

- Ấy đấy. Nếu cái ngòi bút ấy nghiêng sang bên hữu, tức là nghiêng về Kẻ Chiểu, thì đất ấy chính là đất vượng về đường học hành khoa bảng. Nhưng đằng này nó lại nghiêng sang tả, nghiêng về Kẻ Cồn ta, nên đất ta mới phát ông nghè ông cống, phát quan văn quan võ từ xưa tới giờ. Ta lấy tên Đông Thành, thành là thành đạt. Còn bên người ta chỉ có đá, chỉ có cha truyền con nối nghề nơm giậm, khá hơn một chút thì đi làm lái trâu lái bò, nên chỉ gọi là Đông Thạch mà thôi...

Một người có vẻ nóng nảy hỏi:

- Vâng thế thì sao ạ?

Cố Tênh cười mỉm, có ý chê người này cạn nghĩ, nhưng rồi cố cũng nói rõ hơn.

- Người ta nghĩ mình lấy hết cái chữ cái nghĩa cái sang cái trọng của người ta, nên người ta khổ, người ta ganh ghét. Khốn nỗi họ đâu có biết, tự cổ chí kim, phàm đã trọng chữ nghĩa thì làm sao mà giầu có được.

- Ai bảo họ không chịu học cơ chứ?

- Ấy chưa đấy lại là chuyện đất có tuần dân có vận, mình thấy sao được sự huyền vi ạ. Tôi chỉ xin dặn quí vị biết thế mà lường. Chứ từ thời mồ ma cụ Khếnh Luật đã một lần máu người Kẻ Chiểu chảy thành vũng trên cánh đồng Rộc bên ta. Thôi. Tôi xin mạn phép các quí vị...

Nói rồi cố Tênh chống gậy lộp cộp ra về. Một cậu trai xách đèn đứng ở đầu sân đợi đưa cố lại nhà.

Câu chuyện dở dang của cố Tênh như hé mở một tấm màn bí mật. Suốt đêm hôm ấy, ngay cả lúc cựa mình tỉnh giấc trong đầu tôi cũng gợn lên câu hỏi ông Khếnh Luật là ai? Và máu người Kẻ Chiểu chảy thành vũng trên cánh đồng Rộc là cố Tênh nói theo nghĩa bóng hay theo nghĩa đen? Tôi cảm thấy nôn nóng trong người. Nếu không    hiểu cho đến ngọn ngành câu chuyện này, lần về   phép năm sau chắc gì còn được trông thấy cố Tênh nữa mà hỏi.

Những hiểu biết trong óc người già giống như những dòng chữ khắc trên bia đá. Có điều một khi hơi thở người già ngừng lại thì những dòng chữ ấy lập tức bị xóa sạch, khiến lũ trẻ chúng ta cắm cúi đi như những kẻ mù lòa.

Ngay sáng hôm sau tôi chọn một bộ quân phục còn mới, vuốt thẳng lại những nếp nhàu cho con người mình thật chỉnh trang ngay ngắn, rồi mang sổ ghi chép đến nhà cố Tênh, nhờ giáo Tình - bạn thuở nhỏ của tôi và là cháu nội của cố - và xin cố cho tôi được hầu chuyện.

Cố Tênh “cảnh giác” một cách xa xôi, hỏi:

- Các ông bây giờ cần biết những chuyện thời xưa để làm gì?

Tôi chưa để cố hiểu vì sao tôi làm công việc này. Cố gật đầu, dùng năm ngón tay gầy chải chải lên bộ râu một lúc, rồi lại gật đầu, cất tiếng gọi xuống nhà dưới:

- Ông giáo đâu rồi?

Giáo Tình miệng dạ chân chạy lên chắp tay đứng trước cửa. Cố Tênh vỗ tay xuống tấm phản gụ.

- Ông chịu khó ngồi mà nghe chuyện cùng với ông Sửu đây. Tôi cũng muốn nói lại lắm, ngặt vì làng này chả ai muốn nghe cả. Chứ xin hỏi hai ông. Hai ông có biết các vị hiền tài đất Kẻ Cồn ta gồm những ai không?

Cố Tênh rề rà giảng giải từ Văn ban Chư Tôn vị bắt đầu từ Tuyên lực công thần đặc tiến kim tử vinh Lộc đại phu bồi tòng Lại bộ tả thị lang kiêm Đông các học sĩ nhập thị Kinh lịch thái bảo Phúc ấm bá Nguyễn Văn Nghi, thầy dạy học cho ba ông vua đời Lê; đến Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân tham đốc thần vũ tứ vệ quân vụ sự Mỹ quận công, thuộc Võ ban chư tôn vị tổng cộng mười chín người.

Chức tước đời xưa chép mỏi liệt tay, nghe ù đặc tai. Tôi nóng nảy ruột gan mong cố Tênh kể chong chóng để được nghe về vụ xô xát đẫm máu giữa Kẻ Cồn - Kẻ Chiểu từ thời “mồ ma cụ Khếnh Luật” như cố Tênh đã nói. Nhưng chuyện đó phải lui lại mãi tới đêm giữa lúc ngoài trời đang vần vũ một cơn dông cuối mùa, gió quất nghiêng ngả ngọn cau ngọn dừa, sấm chớp đùng đùng như đại bác gầm ngoài mặt trận. Giọng cố Tênh khản đặc. Cố vừa kể vừa hi hóp thở. Nhưng không vì thế mà lời lẽ của cố vắn tắt hơn nên trong đoạn sau tôi đành mạn phép cố mà viết lại những gì mình đã câm nhận được qua câu chuyện cố kể, có vài chỗ đành phải tưởng tượng thêm ra vậy.

⁂

 

Nạn đói năm Ất Dậu ớ đồng bằng Bắc bộ làm chết hai triệu người là một tội ác trời không dung đất không tha của bọn phát xít Nhật. Sử sách đã chép rõ ràng, nhưng là chuyện sau này. Còn trước đó, có năm nào là năm không có người chết đói, có mấy làng không có người chết đói?

Đất Kẻ Cồn cũng vậy. Kẻ Cồn được tiếng là đất học khoa bảng, đất phát nhân tài là bởi có nhiều người rau cháo qua ngày để sôi kinh nấu sử đợi các khoa thi hương thi hội thi đình, nhiều người khác thì mải mê với con đường côn kiếm hơn các kẻ khác. Ngoài ra, đa phần làng xóm vẫn đói xanh xương. Đói nhất, nháo nhác nhất, là vào những tiết giáp hạt tháng ba ngày tám. Khi ấy thì cả làng hong hóng trông vào ngọn khoai bắp ngô trên cánh đồng Rộc. Mất cánh đồng Rộc thì từ các vị tiên chỉ đến đám cùng đinh đều bị treo niêu.

- Các ông có biết thế nào là tháng củ mật không nhỉ? - cố Tênh đột ngột hỏi tôi và giáo Tình.

- Thưa không.

- Ấy đấy. Vụ đói tháng ba bắt đầu từ tháng củ mật, tức thị tháng Chạp ta. Đêm tối rét cắt ruột nằm trong ổ rơm ổ rạ còn thom thóm lo chuyện trộm cướp. Một đêm không biết mấy lần rộ lên tiếng trống ngũ liên, tiếng la đuổi trộm cướp. Mà trộm cướp cái gì? Trộm thúng khoai. Trộm buồng cau nải chuối. Cướp vài cái mâm đồng nồi đồng hoặc dắt đi con trâu con bò. Sáng ra nghe đồn nơi này nơi nọ có đứa kẻ trộm bị đánh què, bị đánh chết, cũng chẳng ai hơi đâu mà đổ ra xem. Mạng người rẻ quá mạng con gà con chó.

Cố Tênh ngừng lại thở và nhấp ngụm trà, nghe mưa quất ràn rạt ngoài sân, thong thả đằng hắng.

- Phải như thuở xưa, đêm nay thế nào cũng có nhà mất trộm.

- Làng ta có ai đi ăn trộm không ạ? - Tôi rụt rè hỏi. Cố Tênh nghiêm nghị lắc đầu.

- Không. Tuy cũng túng đói chẳng kém thiên hạ nhưng giấy rách còn giữ được lề, trộm cướp tịnh không nảy nòi được ở cái đất này. Còn bên Kẻ Chiểu thì lắm lắm. Hễ ban ngày thấy có cái đập bèo tây đắp qua sông là các nhà bảo nhau đêm phải phòng bị quân Kẻ Chiểu...

Năm ấy, mùa hè trời làm hạn hán, lúa ngô chết trắng xóa. Tới vụ mùa thì lại lụt bão dầm dề, sông Chu vỡ đê trên mạn Kẻ Dị nước ồ ồ như thác cuốn phăng cả nhà cửa vườn tược lợn gà. Nhưng để bù lại sự tàn phá của bão lụt, sau đó đất đai mầu mỡ lạ thường.

Bước sang tháng một tháng Chạp, cánh đồng Rộc đã xanh tốt ngùn ngụt, ngọn khoai dây bí bò kín mặt đất, phải lách chân mới có lối vào đồng. Tuy vậy, nạn đói gay gắt đáng sợ vẫn lừng lững trùm bóng đen lên khắp một vùng quê. Nhà nhà đã phải nấu rau khoai lang ăn trừ bữa. Ngày tháng sao mà dằng dặc, liệu có còn sống nổi qua xuân để được ngửi thấy mùi hạt gạo lúa chiêm năm sau.

Và cũng vì thế mà cái tháng củ mật năm ấy là tháng thê thảm “vô tiền khoáng hậu”, theo cách nói của cố Tênh. Những cái đập bèo tây dân Kẻ Chiểu đắp qua sông Nhà Lê, dân Kẻ Cồn phá. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã thấy có cái đập khác mới đắp xong. Phá ban ngày, lại đắp ngay ban ngày. Vì thế dân Kẻ Cồn cứ mặc cho Kẻ Chiểu đắp, nhập nhoạng tối mới kéo nhau ra phá. Dân Kẻ Chiểu tức lắm bèn cho người phục sẵn ở đầu đập, thấy người đến phá đập là xông ra đánh. Một anh tuần đinh Kẻ Cồn bị đánh hộc máu, một anh khác bị dìm xuống sông gần chết. Hễ nhọ mặt người là nghe mõ ngũ liên và tiếng la làng, tiếng kêu cứu dậy lên trên đồng Rộc.

Một đêm, lúc tối được yên yên, nhưng vào giấc canh ba cả Kẻ Cồn bị dựng dậy vì tiếng la thất thanh:

- Ối làng nước ơi, bọn Kẻ Chiểu đánh chết người làng ta rồi. Ối làng nước! Ối làng nước!...

Tiếng người la mà nghe như tiếng chim lợn ma, như tiếng cú kêu hãi hùng cứ văng vẳng vang lên ở góc này ở góc kia giữa đêm mưa phùn gió bấc tối mịt mùng. Tới lúc Kẻ Cồn thắp đuốc túa ra, chỉ còn thấy bốn người tuần đinh làng mình bị trói vào gốc đa, mồm bị nhét đầy giẻ, bị đánh nhừ tử, kêu ú ớ. Cái người ấy la làng chính là nạn nhân thứ năm đã có may mắn thoát ra được để chạy về kêu cứu.

Một vạt đồng khoai dọc theo sông Nhà Lê bị phá tan hoang. Lũ cướp đói không có thời gian để hái lá nên họ lôi cả dây cả rễ mà đội mà gánh qua đập. Khoai chưa kịp làm củ, những chùm rễ mới lông lống bằng đầu đũa bằng ngón tay, lũ giặc đói làm rơi vãi bừa bộn trên đường họ đi. Ác hại thêm nữa là cả mấy ruộng ngô mới nhu nhú hoa riềng cũng bị họ cầm gậy, cầm đòn gánh phạt cho gẫy gục.

Để trêu người Kẻ Cồn, người Kẻ Chiểu qua khỏi đập bèo tây còn ngang nhiên dong đuốc mà đi. Nhìn hàng đuốc Kẻ Chiểu kéo rồng rắn bập bùng trong mưa bụi, dân Kẻ Cồn chỉ còn biết nghiến răng trèo trẹo, bầm gan tím ruột nghĩ cách báo thù.

Hôm sau ông Khếnh Luật sai ông mõ - tên là Đệch - đi rao khắp làng. Ông Mõ Đệch lê đôi chân phù thũng như hai cái gốc chuối, tay trái cầm mõ gốc tre, tay phải cầm dùi gõ. Cứ sau một hồi mõ, ông Mõ Đệch lại cất tiếng rao ngân nga: “Chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ tây đông. Trai đinh mười tám tuổi đổ lên năm mươi tuổi đổ xuống, mau mau ra đình họp bàn chống giặc...”. Tiếng mõ tiếng rao vang tới đâu là người người bỏ hết việc nhà việc cửa để lập đập chạy ra đình tới đó.

Hóa ra không chỉ trai đinh, mà cả các bô lão, cả đám con nít láu kháu cũng kéo ra đứng chật trên sân đình.

Như là có giặc giã sắp kéo đến thật. Lại như một trò náo nức kích thích đến quên cả bụng đói cật rét. Ông Khếnh Luật cho làm một lúc ba cái điếm canh theo thế chân vạc ngoài đồng Rộc. Trai đinh trong làng được chia thành bốn thập, mỗi thập mười người. Ba thập giữ ba điếm canh, một thập túc trực ở điếm trong làng để hễ có động rụng phải mau chóng chạy ra tiếp viện.

Ấy thế mà cánh đồng khoai vẫn bị dân Kẻ Chiểu sang lấy trộm, hái lá trộm, nhổ dây trộm. Có kẻ còn láo lếu đứng bên kia sông nói vóng sang “Bớ quân Kẻ Cồn, liệu hồn không thì choa (1) đập chết vứt xác xuống sông đấy!”.

Bắt chước các mưu sĩ thời Xuân thu Chiến quốc bên Tầu, mấy bô lão bàn với ông Khếnh Luật rằng xưa nay dẹp giặc tựu trung chỉ có hai cách. Thắng được thì đánh, không thắng được thì giảng hòa. Ông làm tướng phải mau mau quyết đoán chứ không thì dân làng đến cái rễ trối khoai cũng chẳng còn mà nhá.

Nghe lời khuyên của các bô lão, trong lòng ông Khếnh Luật cũng muốn giữ hòa hiếu với Kẻ Chiểu cho yên, ông bèn khăn xếp áo dài sang Kẻ Chiểu gặp người cầm đầu bên đó tên là Quyền Vạn.

Ông Vạn và ông Luật từng học võ chung với một thầy, là Nguyên soái bình Tây họ Thiều. Chức nguyên soái là do nghĩa quân Ngàn Nưa phong cho võ sĩ họ Thiều. Sau ngày cuộc khởi nghĩa Ngàn Nưa bị dập tắt, Thiều nguyên soái bị Tây bắt đi tù, rồi về quê mở lò dạy võ ngầm phát triển lực lượng chờ thời cơ khác lại nổi lên. Ông Vạn người Kẻ Chiểu không rõ họ gì, sở dĩ gọi là Quyền Vạn bởi ông rất giỏi môn quyền cước, vào loại sư huynh của ông Khếnh Luật bên Kẻ Cồn nhưng lại chỉ đáng là học trò của ông Khếnh Luật về đường côn mũi kiếm.

Tại nhà ông Quyền Vạn, hai bên thi lễ mời trầu mời nước xong, ông Khếnh Luật thận trọng vào đề.

- Hôm nay tôi sang, trước là thăm bác cùng quý quyến, sau nữa cũng muốn thưa với Bác một việc.

Dù đã biết tỏng mục đích cuộc viếng thăm này, ông Quyền Vạn vẫn giả vờ hỏi:

- Bác muốn nói việc gì?

Thế này khéo mà hỏng việc rồi. Ông Khếnh Luật nghĩ bụng thế, nhưng đã trót sang tới đây thì cũng phải nói cho hết nhẽ.

- Bác với tôi cùng học một thầy. Nay thầy đã qui tiên nhưng cái tình anh em đồng môn của chúng ta vẫn còn chứ bác nhỉ?

Ông Quyền Vạn “ừ”, rồi hỏi lại:

- Sao bác lại nói chuyện xa xôi thế?

- Vâng. Bác cho phép nói gần, tôi xin nói gần. Tôi muốn bàn với bác, bác bên này, tôi bên kia, ta đứng ra giảng hòa cho hai làng. Kẻo đang lúc đói kém mà hai làng tranh nhau nắm rau ngọn bí thì cực lòng lắm.

- Bác nói thế là có ý gì. Nồi nhà ai nhà ấy đun, gạo nhà ai nhà ấy nấu, chứ “tranh nhau” làm sao được?

Bụng dạ ông Quyền Vạn không có một tý chân tình. Dù có nói điều hơn lẽ thiệt lúc này cũng chỉ hoài công mà thôi, nên ông Khếnh Luật giũ áo đứng lên.

- Tôi nói thế mà bác không nghe thì tôi xin chịu. Từ nay hễ bên này sang phá hoa mầu bên đồng Rộc chúng tôi mà lỡ xảy ra chuyện gì, xin bác đừng trách chúng tôi không nói trước.

Ông Quyền Vạn cũng đứng phắt lên, giọng gay gắt.

- Đói dù đầu gối phải bò. Ai bò được đến đâu cứ bò. Mạnh ai nấy được, còn tình nghĩa lý sự, để chỗ khác.

Ông Khếnh Luật thở dài ra về. Biết thế đừng sang. Phí cả lời.

Được một ngày yên ổn.

Sáng ngày hôm sau nữa, từ giữa trưa bà con đi làm đồng về đã hớt hơ hớt hải chạy đến nhà ông Khếnh Luật mách rằng quân Kẻ Chiểu đang kéo bèo tây đắp đập qua sông. Họ đắp hai cái đập liền một lúc, hễ thấy người Kẻ Cồn lai vãng đến gần là họ đuổi đánh. Có đứa còn ngạo ngược thách cả làng ta có giỏi ra đánh nhau với chúng nó.

Nghe xong, ông Khếnh Luật ngửa mặt nhìn trời than:

- Quyền Vạn quyết bắt mình phải ra tay rồi đây. Ta thà chết chứ sao lại chịu cho nhà ngươi làm nhục đến thế này!

Than xong, ông Khếnh Luật gọi mấy người trai đến bảo đi truyền cho khắp mặt tuần đinh mỗi người hãy kiếm lấy một bó đuốc dài, gài bùi nhùi cho tốt, đến tối nghe mõ thì ra cả ngoài đê quai.

Bữa chiều hôm ấy còn lưng đấu gạo cuối cùng trong nhà, ông Khếnh Luật bảo vợ nấu tất, ăn no rồi ông lững thững đi tay không ra đồng Rộc. Quyền Vạn giỏi quyền cước, ông giỏi côn kiếm, ông vui lòng nhường cái lợi thế ấy cho địch thủ nên chọn chính môn quyền cước mà đối lại với Quyền Vạn.

Ngay từ thời hai người còn theo học trong cùng một võ đường, thấy Khếnh Luật được các đồng môn khen là văn võ song toàn, Quyền Vạn đã hậm hực ganh ghét, hễ có dịp là lăm le loại trừ Khếnh Luật ra ngoài. Âu ông trời đã xui khiến, sớm muộn rồi cũng có dịp để hai người tỷ thí sống mái một phen với nhau...

Đêm hạ tuần tháng Chạp, đầu hôm xòe bàn tay trước mặt không nhìn thấy năm ngón tay. Mãi quá nửa đêm nền trời mới nha nhá màu nước gạo loãng nhưng cũng đủ thấy những bóng người thấp thoáng từ bên Kẻ Chiểu tràn sang đồng đất Kẻ Cồn.

Ông Khếnh Luật ra lệnh cho trai đinh Kẻ Cồn cứ hai người thì đốt lên một bó đuốc, một bó để dành phòng khi sự thể kéo dài. Xong, ông dẫn đầu toán trai tuần tiến thẳng xuống bờ sông. Thấy những bóng người đang lom khom giật dây khoai, bẻ ngô non, ông Khếnh Luật lớn tiếng quát:

- Ai cho phép các người sang cướp đồng?

Gạch đá ném rào rào thay cho câu trả lời.

Ông Khếnh Luật lại quát:

- Cút! Cút ngay. Không cút là có án mạng đấy.

Gạch đá lại bay đến vun vút. Một tuần đinh Kẻ Cồn bị nửa viên gạch ném trúng ngực kêu hự một tiếng rồi nằm lăn quay. Mấy người cõng anh này chạy lên đê quai, số còn lại theo ông Khếnh Luật tiến thẳng xuống bờ sông chặn đường rút của dân Kẻ Chiểu. Phía Kẻ Chiểu cũng đã lường trước chuyện này. Ở ngay đầu con đập bèo tây, có một người cao lớn bận quần áo đen, vấn khăn đầu rìu, cầm cái tay thước - một thứ côn làm bằng gỗ lim, to và dài như cái đòn gánh - chân dạng ra đứng chắn đường đám người Kẻ Cồn đang lao tới. Dù đã nhận ra con người ấy là Quyền Vạn, Khếnh Luật vẫn lên tiếng ra lệnh:

- Soi đuốc lại đây xem thằng nào.

Hai đối thủ trừng trừng nhìn nhau. Khếnh Luật cười nhạt:

- Hóa ra là bác Quyền, tôi cứ ngỡ ai.

Im lặng rợn người. Khếnh Luật lại lên tiếng:

- Tôi đã phải sang tận nhà thưa chuyện với bác. Cớ sao bác cạn tàu ráo máng đến thế?

Cái tay thước gỗ lim trong tay Quyền Vạn bất ngờ nhằm thẳng đầu Khếnh Luật bổ xuống nghe đánh vút. Khếnh Luật nghiêng người tránh nên chỉ bị cái tay thước sượt qua lưng, làm một mảnh áo rách toạc. Quyền Vạn bèn đổi thế, cái tay thước lia như một đường gươm chém ngang thân đối thủ. Nhưng Khếnh Luật đã nhanh tay bắt được. Bên đánh, đánh hết sức lực. Bên bắt cũng dùng hết sức lực mà bắt. Thanh gỗ lim gẫy roác; đoạn dài trong tay Quyền Vạn, đầu nhọn hoắt như mũi kiếm, đoạn ngắn trong tay Khếnh Luật biến thành một con dao găm.

Quyền Vạn như con hổ hăng máu lúc đâm lúc chém tới tấp. Khếnh Luật vừa đỡ vừa lùi. Chẳng may Khếnh Luật vấp phải bờ ruộng loạng choạng, mẩu tay thước trong tay bị Quyền Vạn phạt bay mất. Khếnh Luật đành quay người chạy lên giữa đồng, cốt tìm một đám đất bằng để dừng lại đấu tay không với Quyền Vạn. Nhưng cánh đồng khoai chẳng có đám nào bằng, cả hai cứ phải luôn luôn nhảy qua những luống khoai mà chạy mà đuổi giữa tiếng reo hò la thét náo loạn của cả hai phía dân làng.

Quyền Vạn cao lớn nên chạy nhanh hơn, mấy lần cái mũi nhọn gỗ lim đâm vào lưng Khếnh Luật nhưng đều vuột. Tới lúc Quyền Vạn đã đuổi sát Khếnh Luật thì một trai đinh Kẻ Cồn kịp đưa cho Khếnh Luật một cây đinh ba. Và... và... mọi người mở mắt ra đã thấy Quyền Vạn đang giãy đành đạch trên ngọn cây đinh ba giơ thẳng của Khếnh Luật, máu tưới như mưa xuống đám ruộng đậu mới bủa vòi. Quần áo mặt mũi ông Khếnh Luật và mấy người tuần đinh cầm đuốc đều đỏ lòm máu.

Dân Kẻ Cồn reo mừng như hóa điên. Còn dân Kẻ Chiểu thì la khóc xô nhau lội sông chạy về làng. Không rõ ai đã nghĩ ra cái trò trói tay trói chân Quyền Vạn rồi xả đòn khiêng, dong đuốc sáng rực, gõ chiêng, gõ mõ rầm rĩ kéo đàn kéo lũ đi diễu dọc sông Nhà Lê, tới lúc đuốc lụi mới thôi.

Việc còn lại là chờ sáng lên bẩm quan. Xác thằng cướp còn đây. Tang chứng còn đây, những dây khoai, đọt bí, những bắp ngô sữa, những đống khoai con chuột, còn vung vãi trên đồng. Và người có công đánh cướp... Ô, ông Khếnh Luật đâu nhỉ. Chả ai nhìn thấy Khếnh Luật đâu cả. Chạy bổ về làng cũng không thấy. Nhớn nhác gọi, nhớn nhác tìm. Hay là ông ấy bị cái thằng kẻ cướp kia đánh trúng chỗ phạm, cũng chết mất rồi?

Không. Khếnh Luật không chết. Khếnh Luật không làm sao cả. Ông cởi cái áo mặc ngoài ướt sũng máu ông Quyền Vạn quẳng vào đêm tối, rồi ngồi thầm một mình lưng tựa vào gốc cây đa giữa đồng, miệng lầm nhầm như nói mê nói sảng. Ta giết người vì cái gì? Vì cái gì? Hỡi ông Trời bà Đất, kiếp sau có đầu thai trở lại thập vạn chúng sinh thì hãy cố mà tránh cho xa cái kiếp người!...

⁂

 

Lần về phép tiếp theo đó quá nhiên tôi không còn được gặp cố Tênh nữa. Chung quanh tấm phản gụ cố Tênh từng ngồi kể chuyện cho tôi và giáo Tình nghe vẫn treo kín những quang sách chữ nho nhưng gian thờ giữa nhà la liệt những bức trướng, câu đối, phướn, áo xô,... Tôi ra mộ cố Tênh thắp mấy nén hương cầu xin vong linh cố xá cho cái lỗi quá muộn màng của mình, và hứa sẽ viết câu chuyện cố kể trên sách báo để mọi người cùng biết.

Nhưng rồi không hiểu sao tôi cứ lần chần, mãi tới khi tóc trên đầu tôi đổ bạc ào ào. Nhân một lần về quê, tôi sang chơi bên xã Đông Thạch, đi giữa những giàn ăng ten ti vi như chuồn chuồn đậu trên ngọn cau ngọn dừa, giữa con đường làng lát gạch thẳng băng hai bên san sát nhà trệt, nhà hai tầng, ba tầng, một cái làng thật đẹp với những gương mặt người rạng rỡ yên bình, tôi mới giật mình tự hỏi Kẻ Chiểu xưa đâu rồi?...

Sáng 13/8/1999

Chú thích:

(1) Chúng tôi

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN - 2012 Nguồn pdf: Sưu tầm Chuyển sang text: hoi_ls
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Triệu Bôn

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.