Nhà chùa ở sát làng, được tách biệt bởi bốn bức tường rêu bám dày như phủ nhung xanh. Trụ trì chùa này là sư thầy Đàm Hồng, một phụ nữ tuổi chưa tới năm mươi. Và, “chú” tiểu Thanh mới chừng hai ba hai bốn tuổi, một nữ sinh Hà Nội chính gốc.
Nếu không nhìn thấy những bữa ăn đạm bạc toàn rau răm, muối vừng, cà ghém, và không có bộ quần áo tu hành, thì nhà chùa cũng giống hệt một gia đình thiếu bàn tay đàn ông, một mẹ một con, nuôi nhau nhờ mấy mảnh vườn chùa. Sáng sáng, đêm đêm sư thầy gõ mõ tụng kinh. Ngày ngày thầy trò cặm cụi vun đậu tưới rau ngoài vườn, thỉnh thoảng người này mới nói với người kia vài ba câu ngắn gọn, còn thì đầu óc họ hướng cả về miền Tây Trúc nơi có mây bay gió cuốn, muôn loài thanh thản yên vui dưới vòm trời bao la từ bi hỷ xả.
Hôm ấy trời nắng gắt, non trưa hai thầy trò dừng tay ngồi nghỉ dưới tán cây hồng xiêm. Tiểu Thanh nhẹ nhàng nói:
- Bạch thầy. Con chưa biết cách ngâm giá đỗ...
- Không khó lắm đâu - sư thầy trả lời - Khó nhất là ủ sao cho mầm giá nảy đều. Mùa đậu này ta sẽ dạy cho con.
Chợt tiểu Thanh chỉ tay ra phía cửa chùa:
- Hình như có ai đến?
Sư thầy gật đầu, tỏ vẻ đã biết:
- Cửa chùa rộng mở đón khách thập phương, có gì là lạ. Cớ sao con hốt hoảng thế?
- Bạch thầy. Người này trông khang khác thế nào.
Nói rồi tiểu Thanh đứng dậy cầm lấy cuốc, tiếp tục vun luống đậu tương. Sư thầy đi hái hoa ngâu, hoa sói, cúng phật và còn một ít để ướp trà. Tuy chăm chú vào công việc, nhưng cả hai thầy trò chốc chốc lại đảo mắt xem chừng một người đàn ông đang đứng giữa cổng chùa, ông ta đứng ở đó lâu lắm rồi, không tiến vào, không lùi ra, hình như cả đến đôi mắt của ông ta cũng không động đậy.
Lúc đầu thấy người đàn ông xuất hiện, sư thầy Đàm Hồng đã định sai tiểu Thanh “Con rửa tay vào pha trà chuẩn bị tiếp khách. Ta vắt nốt ngọn mướp này cho nó khỏi trườn ra ngoài giàn rồi sẽ vào sau”, nhưng liền đó sư thầy lại nghĩ hẵng để cho khách viếng cảnh chùa, mình thong thả vài phút cũng không sao. Giờ thấy cử chỉ khác lạ của khách, sư thầy đâm ra phân vân không hiểu ông ta cần gì, sao cứ đứng như pho tượng án giữa cổng chùa như thế?
Dù đây là chốn thôn dã, xem ra tình hình trật tự an ninh không được yên ổn cho lắm. Mới mấy hôm trước, một bọn cướp bị công an truy lùng, chúng từ thành phố chạy dạt về, giữa ban ngày ban mặt chúng dám xộc vào một gia đình phá tủ, cạy hòm, lấy những thứ đáng giá nhất rồi điềm nhiên đi sang làng khác. Sư thầy Đàm Hồng thở dài âm thầm buồn. Người thoát tục để nương thân nơi cửa Phật như ta chắc gì đã được yên.
Càng về trưa nắng càng chói chang, trời lại tắt gió. Những ngọn cây trong vườn chùa im phắc trong tiếng ve sầu ra rả, khiến dây thần kinh trong người cứ như doãi ra. Thầy trò sư thầy Đàm Hồng mồ hôi ướt đầm lưng áo, bụng đói cồn cào. Tiểu Thanh thưa:
- Con vào nấu cơm, bạch thầy?
- Con mệt lắm rồi phái không?
- Dạ.
- Nhưng hượm đã.
- Sao thế ạ?
Sư thầy Đàm Hồng ý tứ chỉ tay ra phía cổng. Người đàn ông vẫn đứng như pho tượng ở đó. Ánh nắng từ phía ngoài hắt vào, viền quanh cái pho tượng ấy một đường sáng óng ánh, ngỡ như nó đang dập dờn tan chảy hoặc đang nhẹ cất mình lên khỏi mặt đất để bay vào thinh không. Sư thầy Đàm Hồng đưa vạt áo lên lau mồ hôi đọng trên mi mắt, chớp chớp, cố nhìn thật rõ để tin rằng người đàn ông vẫn còn đứng ở kia, rồi sư thầy chắp đôi bàn tay trước ngực, miệng lầm rầm:
- A di đà Phật... Quan Thế Âm Bồ Tát nam mô Phật. Dữ Phật hữu nhân. Dữ Phật hữu duyên. Triệu niệm Quan Thế Âm. Mộ niệm Quan Thế Âm...
... Cả khu chùa lập tức như tách ra khỏi trái đất và bay tới một cõi xa xăm nào, một cõi u tịch, siêu thoát, đối mặt với âm dương, chênh vênh giữa hư vô và địa ngục, khiến tiểu Thanh rùng mình ớn xương sống vì sợ.
Dứt lời niệm, sư thầy Đàm Hồng quay lại bảo tiểu Thanh:
- Con đừng đi đâu vội. Hãy ở đây với ta.
Hai thầy trò tự nhiên ôm chặt lấy nhau, người nọ nghe hơi thở rung bần bật trong lồng ngực người kia.
Nắng đứng bóng. Rồi nắng xế về tây. Trời vẫn ngột ngạt tịnh không gạn gió. Và người đàn ông vẫn đứng đó, không hề động đậy. Sư thầy Đàm Hồng buông tiểu Thanh ra, thì thầm:
- Này con.
- Dạ.
- Con hãy bình tĩnh đi ngang qua cổng chùa xem sao. Xem đó là bóng người hay bóng quỉ.
Tiểu Thanh sắp bật khóc:
- Bạch thầy. Con sợ lắm!
Nghĩ ngợi một lát, sư thầy Đàm Hồng gật đầu:
- Con sợ thì để ta đi.
Sư thầy chắp hai tay trước ngực, nghe đôi chân bủn rủn, nhưng vẫn từ từ dấn bước về phía cổng chùa. Sư thầy vừa đi vừa lẩm nhẩm đọc. Trong lúc đầu óc tán loạn, điều gì chợt nhớ trong tâm tưởng thì sư thầy đọc lên thành lời điều ấy: “Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. Thiên thủ thiên nhân vô ngại đại bi tâm đà la ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da...”. Lời chú bị ngắt quãng khi sư thầy Đàm Hồng bước quang qua cổng chùa, liếc thấy người đàn ông da đen cháy, to cao lừng lững, với bộ quần áo không rõ màu gì, vẫn đứng xuôi hai tay bất động, khiến sư thầy kinh hãi đến nghẹt thở.
Lúc sau, tiểu Thanh len lén vòng theo bức tường bao chạy tọt về chùa, đã thấy sư thầy đóng chặt mấy cánh cửa và đang ngồi trước cái mõ nhưng không gõ, chỉ có tiếng tụng kinh lầm rầm trong khoảng không tối nhờ nhờ. Trưa hôm đó hai thầy trò không nghĩ gì đến chuyện cơm nước nghỉ ngơi. Tiểu Thanh ngồi nép trong một góc, còn sư thầy thì tụng kinh suốt sang chiều. Thỉnh thoảng sư thầy ngừng tụng kinh, mở hé hai cánh cửa gỗ lim nhìn ra rồi lại đóng chặt lại ngay. Cái người đàn ông kia vẫn đứng y nguyên như lúc sáng.
Đói và mệt. Tiểu Thanh thiêm thiếp ngủ nên không biết có một lúc sư thầy bật khóc nức nở...
Chuyện xảy ra hơn hai chục năm về trước. Thái lên đường ra trận được bảy, tám tháng, ở nhà Thu Hồng trở dạ sinh được một đứa con trai. Con đầy cữ, Thu Hồng bế nó sang xóm bên để nhận ông nội bà nội của nó. Nhưng bà mẹ của Thái đã cay nghiệt rít lên: “Thằng Thái lấy vợ chứ không lấy đĩ. Đừng mang đứa con hoang này đến đổ nợ cho nó!”. Thu Hồng không hề đôi co một lời. Cô lủi thủi bế con về, rắp lòng chờ đợi một ngày chính Thái sẽ về nhận con của anh. Nhưng rồi Thái không về. Đứa con của hai người lại chẳng may “bỏ đi” trong một trận bom Mỹ...
Mô phật. Có lẽ nào con người đang đứng lừng lững ngoài kia lại chính là Thái? Sư thầy Đàm Hồng vội mở toang cửa lao ra. Lát sau, sư thầy như người chết rồi, vừa bước vào tới ngưỡng cửa đã lảo đảo ngồi xệp xuống. Con người quái dị kia không thể là người yêu năm xưa của nàng. Sư thầy đã nhìn sát mặt người ấy, và hỏi “Chư vị là ai?”, nhưng đôi mắt trắng giã vẫn trừng trừng trên khuôn mặt đen nhếnh nhánh màu đồng hun. Không có vết sẹo bé như một mảnh vỏ trấu dính vào đuôi mắt bên phải. Không có cái ngón chân út ở bàn chân trái bị trâu giẫm bẹp lép. Không có ánh mắt nồng nàn, hồn nhiên như mắt trẻ thơ. Không có chút hơi hướng nào của Thái!
Quên cả tâm niệm của người thoát tục, sư thầy Đàm Hồng mặc cho những giọt nước mắt cay cực lã chã tuôn xuống đôi gò má nám hồng. Hình như những giọt nước mắt ấy đã động tới cõi cao xanh nên trời đang trong trẻo bỗng ầm ầm nổi con giông. Lá khô ào ào trút xuống mảnh sân hẹp. Chớp sáng lòe ngoài cánh đồng. Mái chùa rung rinh vì những tiếng sét đánh xuống sau rặng cây mít cây xoài cổ thụ. Sấm sét làm tiểu Thanh giật mình choàng dậy lúc sư thầy đang lặng lẽ châm lửa vào cây đèn dầu trước tượng phật A Di Đà.
- Bạch thầy - tiểu Thanh ngơ ngác nhìn quanh và cất tiếng hỏi - Trời đã tối rồi ư?
- Tối rồi con ạ. Ta thấy con ngủ say, vừa không muốn đánh thức con dậy nhưng lại lo con đói.
- Còn cái người đứng ngoài cổng, chắc ông ta đi rồi chứ ạ?
- Con thử ra xem. Lúc nãy ta thấy người ấy vẫn còn đứng đấy.
Tiểu Thanh chạy ra lại chạy vào ngay, mặt tái mét:
- Bạch thầy. Ông ấy vẫn đứng thế. Làm thế nào đây ạ?
Trời bắt đầu sa mưa. Những hạt mưa to và nặng gõ lạch tạch vào bức vách ken bằng ván lim. Sư thầy ngồi lặng phắc giữa cái bệ đọc kinh, mắt lóe sáng biết mình không còn cách hành động nào khác hơn được nữa. Đoạn, sư thầy nói như ra lệnh:
- Tiểu Thanh con. Lấy cho ta con dao bổ củi. Còn con hãy cầm lấy cây cuốc chim!
Tiểu Thanh y lời làm theo. Khi sư thầy cầm con dao bổ củi nhứ nhứ trong tay như định chém về phía trước, tiểu Thanh mới rụt rè hỏi:
- Mình sẽ đuổi người ấy đi hay sao, thưa thầy?
- Ừ. Phải đuổi thôi.
- Nếu người ấy không chịu đi thì sao ạ?
- Mô Phật. Pháp giới trước tiên của kẻ tu hành là tránh làm điều ác. Nhưng luận về cái ác cũng có năm bảy đường. Ngay như đức Điều Ngự Giác Hoàng thuở xưa, cũng phải nam chinh bắc chiến đến nỗi “xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã” rồi mới thoát tục trở thành Phật tổ của Thiền phái Trúc Lâm cơ mà. Vậy nên, nếu người đó không đi, mà lại giở trò này nọ, thì con phải mở đường thoát ra khỏi chùa rồi chạy đi báo cáo công an. Còn chuyện đối phó với y ra sao, cứ để mặc ta.
Nói đoạn, hai thầy trò tay lăm lăm vũ khí, mở cửa tiến ra cổng chùa giữa mưa gió. Hình dáng người đàn ông khi có chớp sáng mới hiện ra trong vài giây. Hai thầy trò nép vào cây ngâu, còn cách cổng chùa một vạt sân. Sư thầy bấm tay tiểu Thanh bảo nhỏ “Con hãy bình tĩnh nhé” rồi lớn tiếng quát:
- Ông kia! Ông cần gì ở đây?
Im lặng.
- Nếu ông cứ trêu gan thế, tôi chém đấy! - Sư thầy Đàm Hồng dồn hết sức lực trong người, thét vang - Đi đi. Đi ngay đi!
Tình thế thay đổi hết sức bất ngờ. Nghe tiếng thét của sư thầy Đàm Hồng, gã đàn ông đứng im thêm một lát như sẵn sàng giơ ngực chịu trận, nhưng ngược lại sư thầy Đàm Hồng đã để rơi con dao đánh xoảng. Gã bỗng ngửa cổ cười sằng sặc, rồi quay người bước ra khôi chùa.
- A ha ha. Tôi chỉ cần có thế, chứ chẳng cần gì khác. Nam mô di đà Phật. Chào sư thầy, tôi đi đây. A ha ha...
Cái bóng của người đàn ông mất hút vào lối ngõ chùa tối mịt, nhưng tiếng cười ngân nga như hát của gã vẫn văng vẳng vọng lại: “Nam mô a di đà Phật. Đức Phật đại từ đại bi. A ha ha...”.
Có một lúc nghe tiếng cười kia sư thầy bỗng sửng sốt thốt lên: “Mô Phật. Chẳng lẽ lại là con người ấy?”. Con người ấy cũng sinh ra ở cái làng này, cùng đi bộ đội với Thái một ngày nhưng sau đã đảo ngũ - Gã là người đầu tiên báo cho Thu Hồng cái tin sét đánh rằng Thái đã hy sinh, nhưng không hiểu tai vách mạch rừng thế nào mà dân làng lại có lời xì xầm chính hắn đã nhân lúc bom rơi đạn nổ giết chết Thái để quay về chiếm đoạt tình yêu của Thu Hồng - về sau gã lại bỏ làng đi, nghe đâu nhập bọn với một băng cướp hay băng buôn lậu sống lẻn lút trên rừng.
Vào những ngày Thu Hồng dọn mình chuẩn bị xuống tóc đi tu, đang đêm gã lẻn về ấn vào tay Thu Hồng một con dao găm sáng loáng, khẩn khoản xin Thu Hồng hãy đâm cho gã một nhát vào tim chứ nàng đừng uổng phí tuổi xuân trong kiếp người tu hành... Nhưng khi tiểu Thanh hỏi người ấy là ai, sư thầy Đàm Hồng liền gạt đi. “Không. Không. Con vào lo cơm nước đi. Suốt ngày nay thầy trò ta sắp chết đói rồi”.
Đêm ấy, sau buổi tụng kinh thường nhật, sư thầy Đàm Hồng đặt mình lên giường là lịm ngay vào giấc ngủ mê mệt. Trận mưa tạnh từ lâu, nhưng gió còn giật từng cơn trên tấm rèm trúc che dọc hiên chùa. Trong tiếng lật phật gió lay lúc khoan lúc nhặt, sư thầy Đàm Hồng thấy một tòa sen từ trên mây xanh lãng đãng trôi xuống gần ngôi chùa, và người ngự trên tòa sen chẳng phải ai khác mà chính là Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Đức Bồ Tát mỉm cười vô cùng dịu hiền hỏi sư thầy Đàm Hồng:
- Này con. Con có biết sự tích của cây cờ phướn nơi cửa chùa không?
- Thưa, con có biết ạ. Mô phật...
- Con hãy kể ta nghe.
- Thưa, thuở xưa có một vị cao tăng trên đường lên Tây Trúc cầu được làm Phật. Một tên tướng cướp gặp vị cao tăng và hỏi muốn thành Phật phải làm thế nào? Vị cao tăng trả lời rằng muốn được làm Phật thì chỉ cần tấm lòng. Nghe nói thế, tên tướng cướp liền rút gươm tự mổ bụng cắt trọn bộ lòng của mình trao cho vị cao tăng, nhờ vị cao tăng mang hộ đến cửa Phật. Trên đường đi phải vượt thác băng ghềnh, bộ lòng của tên tướng cướp lâu ngày bốc lên mùi hôi hám, vị cao tăng bèn vứt vào rừng để đi cho nhanh. Khi vị cao tăng lên đến đất Phật thì đã thấy ông tướng cướp này được thành Phật đang ngồi đấy rồi. Thưa, lá cờ phướn nhắc nhở tăng ni phật tử cùng bá tính quần sinh nhớ đến sự tích ấy ạ. Chẳng hay con nhớ như vậy có đúng không?...
Sư thầy Đàm Hồng quay lại định hỏi phật Quan Thế Âm thì Người đã biến đi rồi, chỉ còn lại tiếng gió lay mành trúc lẫn trong mùi hương thơm ngan ngát. Sư thầy sực tỉnh, nhớ ngay đến chuyện mình cùng tiểu Thanh mới đuổi người đàn ông kỳ dị nơi cổng chùa lúc tối. Từ đó trong người sư thầy Đàm Hồng cứ bồn chồn không yên. Sáng ra, sư thầy Đàm Hồng mỏi mệt biếng ăn biếng làm, rồi thành ra ốm nặng.
Mấy ngày liền sư thầy Đàm Hồng không dậy được, tiểu Thanh vô cùng lo lắng. Sáng hôm ấy tiểu Thanh đi mời một vị danh y ở huyện bên đến chữa bệnh cho sư thầy. Vị danh y bảo tiểu Thanh hãy về trước, ông chữa bệnh nốt cho mấy người nữa rồi sẽ sang sau.
Tiểu Thanh về bạch lại tình hình để sư thầy yên tâm.Nhưng sư thầy hình như đang bận tâm chuyện khác. Sư thầy bảo tiểu Thanh ngồi xuống bên mình, và thì thầm nói:
- Không hiểu ta mắc vào nghiệp chướng thế nào, vừa rồi ta lại nằm mơ thấy người đàn ông đứng án trước cổng chùa hôm qua...
Còn một chi tiết rất quan trọng trong giấc mơ, sư thầy không kể cho tiểu Thanh nghe. Người đàn ông sư thầy Đàm Hồng gặp trong mơ hoàn toàn không phải cái gã lỳ lợm và quái đản kia, mà chính là chàng trai có tên là Thái. Sư thầy đã ôm chầm lấy Thái, hôn như mưa như gió lên vết sẹo nhỏ như mảnh vỏ trấu dính ở đuôi mắt bên phải của chàng, nước mắt Thu Hồng đã tưới chan hòa lên vết sẹo ấy, lên gương mặt đáng yêu ấy. Nhưng, tới phút sư thầy ngả đầu lên ngực Thái, đòi đi theo Thái, thì chàng đã lẳng lặng bỏ nàng lại mà quay mặt đi.
Ngỡ như giấc mơ còn đang tiếp diễn, sư thầy Đàm Hồng lại nghẹn ngào khóc. Tiểu Thanh chạy ra lấy tấm khăn mặt vào lau nước mắt cho sư thầy Đàm Hồng, mới hay người sư thầy Đàm Hồng đã lạnh như đồng.
Lúc vị danh y huyện bên tới, sư thầy Đàm Hồng đã lâm vào tình trạng mê sảng. Sư thầy thì thầm nói với người trong mộng: “Thái ơi. Thái cho em đi với. Sở dĩ em gửi thân vào cửa Phật chỉ cốt có đủ thời gian đợi chờ anh. Đừng bỏ em mà đi. Một mai lên tới cõi niết bàn nhưng thiếu anh, một mình em lên đó để làm gì? Thái ơi! Con ơi!...”.
Vị danh y đặt mấy ngón tay vào cổ tay sư thầy Đàm Hồng để bắt mạch. Ông cụ lắc đầu ái ngại, lâu lắm mới thở dài nói với tiểu Thanh:
- Còn nước còn tát. Tôi bốc một thang thuốc này - ông cụ vừa nói vừa đặt cái tay nải đựng thuốc xuống giường - Chú tiểu đun thuốc sôi tới đâu chắt ngay cho sư thầy uống tới đó. Uống liên tục. Thế mà không được nữa thì đành chịu.
Đúng như lòi vị danh y tiên đoán. Đêm ấy, vào lúc chính ngọ, sư thầy Đàm Hồng đã trút hơi thở cuối cùng.
Sư thầy “ra đi” thản nhiên, nhẹ nhõm như một chiếc lá rụng về cội. Khi khâm liệm cho sư thầy, ai cũng ngạc nhiên thấy gương mặt sư thầy vẫn nhuần nhụy, tươi tắn như lúc sư thầy còn sống.
Một vị sư già dẫn theo mấy nhà sư trẻ từ trên hội Phật Giáo của tỉnh về cùng với các nhà chức trách địa phương lo tang chay cho sư thầy Đàm Hồng. Trong đêm làm lễ siêu tịnh cho sư thầy Đàm Hồng, đèn nến sáng rực chùa. Tiếng tụng kinh ngân nga âm vang như những ngọn gió thiền bay mãi bay mãi lên vòm trời đêm mông lung. Riêng tiểu Thanh, cứ nghĩ đến chuyện xong lễ cầu siêu này là vị cao tăng cùng các nhà sư sẽ về chùa trên tỉnh, bà con dân làng sẽ ai về nhà ấy, khắp khu chùa quạnh quẽ và um tùm cây cối này sẽ còn lại chỉ một mình tiểu Thanh, là nước mắt tiểu Thanh lại tràn ra.
Vì mải tụng kinh, chẳng ai để ý đến tiểu Thanh khóc rũ rượi trong một góc chùa. Bỗng tiểu Thanh mơ hồ nghe tiếng một người thì thầm ở quanh đâu đây: “Này con. Khóc lóc như thế không phải là cách tiếc thương của những người tu hành chúng ta. Con quên lời Phật dạy rồi ư? Sự sống, sự chết chẳng qua chỉ là một bước chuyển vần trong cõi luân hồi mà thôi. Mỗi khi con nghĩ đến ta, tức là ta vẫn còn ở bên con đấy...”.
Tiểu Thanh nhận ngay ra giọng của người đang nói chính là giọng của sư thầy Đàm Hồng. Tiểu Thanh bàng hoàng gọi: “Thầy ơi! Thầy đang ở đâu?” thì giọng nói ấy im bặt.
Dăm hôm sau đám tang sư thầy Đàm Hồng, người đàn ông hôm nọ lại trở lại ngôi chùa. Trông thấy ông ta, tiểu Thanh sợ hết vía, nhưng ông ta đã ôn tồn bảo rằng ông ta biết trong thời gian chờ đợi có một nhà sư mới về thay sư thầy Đàm Hồng, tiểu Thanh rất cần có người giúp đỡ, và ông trở lại chỉ vì lý do ấy.
- Nào - ông ta nói - Mang cuốc, mang bình tưới ra. Bác cháu mình đi làm vườn đi.
Tiểu Thanh ngập ngừng:
- Nhưng... bác là người như thế nào ạ?
- Bác là gì ư. Bác không phải là nhà sư. Bác không thích tu hành.
Có được một người cùng làm, dù sao tiểu Thanh cũng thấy vui vui. Người đàn ông tay cầm cuốc vun xới thoăn thoắt, miệng bập hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, và thỉnh thoáng lại tìm cơ hội để chuyện trò cùng tiểu Thanh.
- Cháu có bao giờ nghe sư thầy nhắc đến một người tên là Thái không?
- Thưa không.
- Còn một người nữa tên là Ngự. Có không?
- Không.
- Thế là bà ấy không hề kể về cuộc đời của bà ấy cho cháu nghe!
- Thưa vâng. Nhưng... Ông là ai mà biết sư thầy của cháu ạ?
Người đàn ông mỉm cười chua chát, trả lời rằng ông ta là một “con nợ” của sư thầy Đàm Hồng, một món nợ không sao trả được. “Cháu nên biết đến thế thôi, cháu gái ạ!”’
26/9/1995