Bây giờ có rất ít điều để kể mà cả thế giới này chưa từng biết rõ, cũng giống như họ đã biết về sự ra đi của vợ chồng Lãnh chúa Redgrave khỏi Trái Đất vào đầu cuộc hải hành kỳ diệu ấy — cú lao mình liều lĩnh vào những chốn vô tận chưa ai biết tới trong Không gian, vốn khởi đầu thật êm đẹp nhưng lại mang theo bao nỗi hoài nghi sâu sắc trong lòng bạn bè họ, để rồi sau bao hiểm nguy, những nhà thám hiểm dũng cảm ấy đã kết thúc hành trình còn tốt đẹp hơn cả lúc bắt đầu.
Như tôi đã nói ở phần đầu của câu chuyện này, mục đích duy nhất khi viết tác phẩm này là để trình bày trước công chúng đọc giả một bản tường thuật về những cuộc phiêu lưu mà Lãnh chúa Redgrave cùng vị Nữ bá tước xinh đẹp của ông đã trải qua, kể từ thời điểm họ rời khỏi Trái Đất cho đến giờ phút trở về. Do đó, không cần thiết phải kể lại một câu chuyện đã được kể, một câu chuyện đã được đọc đi đọc lại đến hàng nghìn lần. Bất cứ ai từng đọc báo từ Kamchatka đến Mũi Horn, từ Alaska đến miền Nam Australia, đều biết rằng vị Chỉ huy con tàu vũ trụ đã khéo léo điều khiển phần năng lượng R. Force còn lại sau khi vượt qua sức hút của Mặt Trời ra sao, để rồi có thể lái con tàu theo một quỹ đạo chéo giữa Mặt Trăng và Trái Đất, trung hòa điều mà Zaidie gọi là lực hút quá đỗi nồng nàn của Hành tinh Mẹ, và sau sáu mươi giờ căng thẳng đến tột cùng, cuối cùng họ cũng tái xâm nhập bầu khí quyển quê hương.
Việc tiêu thụ những đơn vị năng lượng R. Force cuối cùng đã giúp họ vừa đủ vượt qua các đỉnh núi của dãy Andes ở Bolivia, băng qua các vùng chân đồi cùng sườn phía tây Peru, và cuối cùng thả con tàu vũ trụ lướt nhẹ nhàng xuống lòng Thái Bình Dương bao la cách cảng Mollendo khoảng hai mươi dặm về phía tây.
Suốt thời gian đó, hàng ngàn đôi mắt đầy lo âu vẫn miệt mài dò dẫm qua các ống nhòm mỗi đêm để tìm kiếm những kẻ lãng du — những người giờ đây hẳn phải trở về nếu họ còn có ngày về — và phần thưởng mười nghìn đô la, do chính phủ Anh và Hoa Kỳ cùng nhau treo giải cho tin tức chính xác đầu tiên về con tàu vũ trụ, đã thuộc về một thanh niên người California rất lanh lợi, người giữ chức Trợ lý Thiên văn học tại Đài thiên văn Đại học Harvard ở Arequipa.
Vào một đêm nọ khi đang làm nhiệm vụ quan sát hiện tượng thiên thể che khuất, anh nhìn thấy một vật thể lướt qua đĩa tròn của vầng trăng tròn, y hệt như cách thuyền trưởng và các sĩ quan tàu St. Louis từng nhìn thấy vật thể ấy lướt qua đĩa tròn của vầng thái dương đang mọc. Còn gì khác ngoài con tàu vũ trụ nữa chứ? Anh liền bấm chuông gọi một trợ lý khác tiếp quản việc quan sát, rồi đánh điện về vùng duyên hải yêu cầu Lãnh sự Anh tại Mollendo hãy chú ý đón nhận một vị khách đến từ bầu trời.
Ba giờ sau, ánh chớp từ một chiếc đèn pha điện quét xuống ngọn núi lửa đen sì khổng lồ Misti, và đến rạng sáng hôm sau, một trong những chiếc tuần dương hạm của Nữ hoàng — mang cái tên rất thích hợp là Astræa — thuộc Hạm đội Thái Bình Dương lúc đó đang trên đường từ Lima đến Valparaiso, đã rẽ sóng tiến về phía tây từ Mollendo để rồi tìm thấy phần thân tàu dài và lóng lánh của con tàu vũ trụ đang lặng lẽ chờ đợi trên những con sóng dài phẳng lặng của Thái Bình Dương, nơi Lãnh chúa và phu nhân Redgrave đang dùng bữa sáng trong khoang trên boong.
Sau những lời chào hỏi và chúc mừng được trao đổi đầy đủ, con tàu đã được chiếc tuần dương hạm kéo đi và cứ thế cập bến Valparaiso. Nơi đây con tàu neo đậu trong vài ngày, trong khi các đường dây điện thoại trên khắp thế giới liên tục truyền đi những bản tin về sự trở lại Trái Đất của họ, và vị Chỉ huy với sự hỗ trợ từ các sĩ quan thuộc Phòng Thí nghiệm Quốc gia đang bổ sung lượng dung dịch R. Fluid từ các hóa chất đã được đặt sẵn để ông sử dụng.
Đáng lẽ ông và Zaidie hoàn toàn có thể đi tàu hơi nước về phía bắc tới Panama, băng qua eo đất, rồi trở về New York và Washington qua ngả Jamaica. Đô đốc Hải quân Anh thậm chí còn đề nghị đặt chiếc tuần dương hạm nhanh nhất của ông để phục vụ họ trong chuyến đi tới San Francisco, từ đó chuyến tàu tốc hành Overland Limited sẽ đưa họ về New York chỉ trong bốn ngày rưỡi; nhưng Zaidie đã bác bỏ điều đó nhanh chóng hệt như cách cô từng từ chối đề nghị trước. Nếu theo ý cô, con tàu vũ trụ phải quay về Washington đúng cách nó đã rời đi, bằng chính động lực của bản thân, và dĩ nhiên sự việc đã diễn ra đúng như vậy.
Ngay cả những nét mặt góc cạnh và mộc mạc của Murgatroyd dường như cũng bừng sáng lên bởi thứ mà sau này anh nghĩ là niềm tự hào đầy tính trần tục khi một lần nữa đứng cạnh các cần gạt và nghe thấy tiếng tín hiệu quen thuộc phát ra từ đài chỉ huy.
"Một phần mười."
Và rồi — "Chuẩn bị hệ thống lái."
Khoảnh khắc tiếp theo, một tiếng leng keng nữa vang lên trong buồng máy.
Redgrave, đứng cùng Zaidie trong đài chỉ huy, đẩy bánh lái công suất thêm mười độ, rồi trước sự kinh ngạc của hàng chục nghìn khán giả, phần thân của con tàu vũ trụ vươn thẳng đứng lên khỏi mặt nước vịnh. Hạm đội Anh cùng một Phân đội hải quân Chile đồng loạt gầm vang loạt đại bác chào mừng, chỉ ít khoảnh khắc sau được đáp lễ bởi các khẩu pháo trên bờ; Redgrave bước xuống khoang trên boong và điểm hỏa hai mươi mốt phát đạn từ một khẩu Maxim-Nordenfelt — chính là thứ vũ khí mà anh từng dùng để quét sạch những đám đông người Sao Hỏa tại quảng trường thành phố lớn của họ cách đây một trăm ba mươi triệu dặm — và trong lúc anh làm điều đó, Zaidie trên đài chỉ huy đã kéo lá cờ Trắng bay phấp phới trên đỉnh cột cờ.
Rồi những cánh cửa kính lại được khép kín, các cánh quạt bắt đầu quay với tốc độ tối đa, và chiếc phi thuyền thám hiểm không gian với một cú nhảy vồ vập đầy kinh hoàng đã vượt qua dãy Andes trùng điệp để biến mất về hướng đông bắc.
Việc miêu tả lại sự đón tiếp dành cho Lãnh chúa và phu nhân Redgrave khi con tàu vũ trụ đáp xuống vài giờ sau đó, ngay tại đúng địa điểm trước bậc thềm Điện Capitol ở Washington — nơi nó từng cất cánh đúng bốn tháng trước — chẳng khác nào lặp lại những gì đã được khắc họa trên mặt báo khắp thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, với sự chi tiết phong phú dồi dào hơn nhiều so với những gì nơi đây có thể đua tranh. Chỉ cần nói rằng, hình bóng con người đầu tiên mà Zaidie ôm lấy sau chuyến lãng du dài đằng đẵng chính là bà Van Stuyler, người được Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hộ tống ra tận cầu thang đón khách.
Những cuộc phiêu lưu kỳ diệu nhất của con người rồi cũng trở nên nhàm chán khi được lặp đi lặp lại, và bà Van Stuyler đã dành gần hai tuần lễ để ngấu nghiến từng chi tiết, dù là thật hay hư cấu, mà báo chí Mỹ đã thêu dệt nên quanh những cuộc phiêu lưu của con tàu vũ trụ cùng phi hành đoàn. Thế nên khi những cái ôm chào mừng và cảm xúc ban đầu qua đi, tất cả những gì bà có thể thốt lên là:
"Nào, Zaidie thân mến, tóm lại cháu thấy chuyến đi thế nào?"
"Thật sự tuyệt cú mèo, thưa bà Van, và nếu có từ nào còn hoành tráng hơn thế trong tiếng Mỹ thì cháu đã dùng rồi," Zaidie đáp lại bằng một cái ôm siết chặt nữa, "Sao bà không đi cùng cháu cơ chứ? Bà sẽ — à không, có lẽ cháu không nên nói xem bà sẽ thế nào thì hơn. Nhưng hãy nghĩ về điều đó xem, hoặc cố gắng mà hình dung — Một chuyến trăng mật dài hơn hai nghìn triệu dặm, rồi trở về — bình an vô sự — tạ ơn Chúa!"
Vừa nói, Zaidie vừa quàng tay qua vai bà Van Stuyler, kéo bà về phía phần mũi của khoang trên boong. Cùng lúc đó, bàn tay của vị Tổng thống nắm lấy bàn tay của Lãnh chúa Redgrave trong một cái bắt tay dài và siết chặt. Lúc ấy họ chẳng nói gì cả. Đàn ông hiếm khi nói năng trong những hoàn cảnh như vậy.