Tiếng Sét Hủy Diệt

Lượt đọc: 85 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Một Thí Nghiệm Kỳ Lạ

❊ ❊ ❊

Chẳng bao lâu sau khi đặt chân đến London, tôi đến tìm Brande theo địa chỉ ông đã cho ở phố Brook. Ông tiếp đón tôi bằng vẻ lịch thiệp nhã nhặn vốn có của một người từng trải, và lời cáo lỗi vì không thể dành buổi tối tiếp tôi tại nhà riêng quả là một mẫu mực của phép tắc xã giao. Lý do cản trở thực ra là một điều bất khả kháng. Hội của ông có một buổi họp vào tối hôm đó, và sự hiện diện của ông là điều bắt buộc.

"Sao anh không cùng đến nhỉ?" ông nói. "Đó là điều mà chúng tôi có thể gọi là buổi tối dành cho khách. Nghĩa là khách viếng thăm, nếu là bạn bè của hội viên, sẽ được chào đón, và vì đặc quyền này có thể sẽ không còn được dành cho người ngoài nữa, anh nên đến trước khi đưa ra quyết định cuối cùng gia nhập chúng tôi. Tôi phải đi ngay bây giờ, nhưng Natalie" (ông không gọi là "cô Brande") "sẽ tiếp chuyện và dẫn anh đến hội trường. Nơi đó rất gần—ở Quảng trường Hanover."

"Tôi rất sẵn lòng đi cùng cô Brande đến hội trường," tôi đáp, sửa lại câu nói nhằm uốn nắn cách xưng hô có phần trịch thượng quá mức của Brande.

"Cũng là một ý đó nhưng diễn đạt bằng từ khác, phải không nào? Nếu anh thích theo cách ấy, cứ thế đi."

Sự thản nhiên của ông không hề dao động.

Đúng lúc ấy, cô Brande bước vào phòng. Anh trai cô gửi lời cáo lỗi thêm lần nữa rồi rời đi, và chẳng mấy chốc tôi thấy anh băng qua đường để gọi một chiếc xe hăng-xôm đang chạy tới.

"Anh đừng trách anh ấy vì phải vội vã đi ngay," cô Brande nói. "Anh ấy có rất nhiều điều phải bận tâm, và cái hội này gần như phụng sự hoàn toàn vào một mình anh ấy."

Tôi ngập ngừng bày tỏ rằng mình hoàn toàn không trách gì anh ta, và quả thực lời thanh minh ấy hoàn toàn chân thật. Brande không thể làm tôi hài lòng hơn bằng cách giải thoát chúng tôi khỏi sự hiện diện của anh ta.

Cô Brande pha trà, và tôi ra vẻ thưởng thức nó với hy vọng làm vui lòng cô. Bên ấm trà, chúng tôi trò chuyện tự nhiên như những người bạn cũ đã qua thử thách lâu ngày chứ không chỉ là dăm ba kẻ mới quen cách đây mười hôm. Chỉ đôi bận, sợi dây vô hình làm vẩn đục câu chuyện duyên dáng của thiếu nữ ấy lại vô tình chạm phải. Cô lập tức đổi chủ đề khi nhận thấy sự bối rối của tôi. Tôi dùng từ bối rối, bởi không một từ ngữ nào nhẹ nhàng hơn có thể diễn tả chính xác tâm trạng của tôi mỗi khi cô sa đà vào thứ lý thuyết ngụy khoa học vốn là điều mà anh trai cô yêu thích một cách kỳ quặc. Ít ra, với tôi thì đó chỉ là những lời nhảm nhí. Lúc bấy giờ, tôi nào có thể tiên liệu được rằng những luận điểm thoạt trông chỉ là sự phi lý thuần túy về mặt lý thuyết ấy lại có ngày được chứng minh—như thực tế đã chứng minh—là những hiện thực vô cùng đáng sợ. Trái lại, trong những vấn đề giáo dục thông thường, nữ chủ nhân của tôi lại tỏ ra am hiểu tường tận và vô cùng thấu đáo, khiến tôi say sưa lắng nghe chừng nào cô còn muốn tiếp tục lên tiếng. Thật là một trải nghiệm mới mẻ và thú vị biết bao khi được lắng nghe một thiếu nữ xinh đẹp tựa một kiệt tác hội họa, khoác lên mình bộ xiêm y lộng lẫy của một quý tộc triều đình, lại có thể luận bàn với sự hiểu biết và ngôn từ của một bậc hiền triết uyên bác lâu đời. Nhưng đây chỉ là một trong vô số sự kết hợp đến ngạc nhiên trong nhân cách phức tạp của cô. Thời gian thử thách của tôi vẫn còn ở chặng đầu tiên.

Thời điểm phải lên đường đến buổi họp đến nhanh hơn mong muốn của tôi rất nhiều. Chúng tôi quyết định đi bộ, vì trời tối đẹp trời và không quá oi bức, hơn nữa khoảng cách chỉ bằng mười phút dạo bước. Tại một ngã tư đường, chúng tôi gặp một đám đông náo động hơn hẳn mức bình thường ở khu phố đó. Cô Brande lại một lần nữa khiến tôi ngạc nhiên. Cô đang ngắm nhìn dòng người cuồn cuộn và đông đúc lướt qua. Đôi mắt đen thẳm của cô dõi theo đám người với một vẻ tăm tối đầy kinh ngạc, xót xa mà tôi không tài nào hiểu nổi. Khuôn mặt cô, vốn luôn tuyệt mỹ trong từng biểu cảm, lúc này dường như hoàn toàn biến đổi, trở nên thánh thiện đến lạ thường. Brande từng nhiều lần bàn luận với tôi về thuật thôi miên, khả năng thấu thị và những chủ đề tương tự, thế nên tôi chợt nghĩ rằng anh ta đã dùng em gái mình làm vật thí nghiệm, một người có khả năng thấu thị. Do đó, bộ óc của cô không còn nằm dưới sự kiểm soát bình thường nữa. Tôi lập tức tự nhủ sẽ nhân cơ hội đầu tiên để nói thẳng với anh ta rằng nếu không muốn nhìn thấy cô gái bị tổn thương vĩnh viễn, anh ta buộc phải kìm hãm ảnh hưởng thôi miên của mình lại.

"Cảnh tượng này cũng khá náo nhiệt đấy chứ," tôi nói với cô Brande có phần cộc lọn khiến cô giật mình. Tôi cố tình làm cô hoảng, nhưng kết quả không được như mong đợi.

"Đó là một cảnh tượng rất đáng sợ," cô đáp.

"Ồ, không có nguy hiểm gì đâu," tôi vội vàng trấn an, rồi kéo tay cô đặt lên tay áo mình.

"Nguy hiểm ư! Tôi đâu có nghĩ đến chuyện nguy hiểm."

Vì cô không rút tay ra, nên tôi vẫn giữ sự im lặng tiếp nối sau đó, cho đến khi dòng xe cộ thưa bớt cho phép chúng tôi băng qua đường. Lúc ấy tôi mới cất lời:

"Tôi có thể hỏi cô đang nghĩ gì vậy, thưa cô Brande?"

"Nghĩ về con người—về cuộc đời của họ—công việc của họ—và nỗi thống khổ của họ!"

"Tôi đoan chắc với cô là rất nhiều người đang rất hạnh phúc," tôi đáp. "Cô đang nhìn sự đời qua lăng kính bi quan đấy chứ. Đau khổ không phải là quy luật chung. Tôi tin chắc phần đông mọi người đều hạnh phúc."

"Điều đó thì thay đổi được gì chứ?" thiếu nữ thở dài nói. "Rốt cuộc thì tất cả để làm gì—ý nghĩa của tất cả những điều này là gì? Hạnh phúc của họ ư? Cui Bono?"

Chúng tôi tiếp tục bước đi trong im lặng, trong khi tôi nghiền ngẫm những gì cô vừa thốt lên. Tôi chẳng thể rút ra kết luận nào ngoại trừ việc sự ác cảm của tôi đối với những lệch lạc đầy ẩn ý của cô ngày càng trở nên sâu sắc hơn dẫu cho lòng mến mộ của tôi dành cho chính bản thân cô cũng đang tăng lên. Để chuyển hướng suy nghĩ của cô và của chính mình, tôi đột ngột hỏi:

"Cô có phải là hội viên của Hội Cui Bono không?"

"Tôi ư! Ồ, không. Phụ nữ chưa được phép gia nhập—tạm thời là thế."

"Tôi nghe vậy thì khấp khởi mừng thầm," tôi hào hứng đáp, "và tôi hy vọng quy tắc đó sẽ tiếp tục được duy trì."

Cô ngạc nhiên nhìn tôi. "Sao anh lại phải bận tâm chuyện đó? Chính anh cũng đang gia nhập đấy thôi."

"Chuyện đó khác chứ. Tôi không đồng tình việc phụ nữ tự chuốc lấy rắc rối khi dây dưa vào những hội nhóm kỳ lạ và có phần đáng ngờ này."

Nhận xét của tôi làm cô thấy thích thú. Đôi mắt cô ánh lên nét đùa vui hồn nhiên. Sự thay đổi trong thái độ ấy khiến tôi vô cùng dễ chịu.

"Tôi lẽ ra phải đoán được điều đó chứ." Đến sự hài lòng tột cùng của tôi, giờ đây trông cô có vẻ tinh nghịch hẳn. "Herbert đã bảo với tôi rằng anh hơi..."

"Hơi gì cơ?"

"À, hơi... anh đừng giận nhé? Phải rồi. Anh ấy bảo anh hơi... cổ hủ."

Điều này làm giảm đi phần nào sự đánh giá của tôi về khiếu hài hước của cô, và tôi giữ vẻ im lặng đầy kiêu hãnh—thứ mà không may lại bị cô xem là sự ủ rũ thuần túy—cho đến khi chúng tôi bước vào căn phòng họp của Hội.

Nơi đó đã chật kín người, và hội chúng, dẫu cho những bộ trang phục mang phong cách tân thời đến mức thái quá của các phụ nữ trẻ mà tôi chẳng biết miêu tả thế nào cho đúng ngoài việc nói rằng chúng chẳng khác mấy so với y phục nam giới thông thường, vẫn hoàn toàn chuẩn mực trong việc trao đổi những phép xã giao tối thiểu. Tuy nhiên, bất cứ khi nào một thành viên trong Hội hòa mình vào một nhóm khách mời, cuộc trò chuyện nhanh chóng chuyển sang một hướng hoàn toàn mới. Những bí ẩn của khoa học mà trước nay tôi vẫn hằng đinh ninh là thứ không tài nào khám phá nổi, lại được đem ra bàn tán hời hợt chẳng khác nào những kiến thức phổ thông tầm thường nhất. Sự phi lý của tính cá thể và tính chủ quan của cảm xúc đều bị nhấn mạnh một cách bất chấp nghịch lý—thứ mà đối với tôi có vẻ vô cùng cực đoan. Các hội viên theo đuổi chủ nghĩa vị tha chỉ vì bản thân tính vị tha, chứ không phải vì lợi ích của những kẻ được thụ hưởng. Họ không phải là những tín đồ thuyết phiếm thần, bởi họ không nhìn thấy sự thiện lương phổ quát hay Thiên Chúa, mà đúng hơn là nhìn thấy cái ác trong vạn vật—bao gồm cả chính bản thân họ. Dù vậy, những lời bàn luận của họ vô cùng uyên bác, và dẫu gạt đi những tư tưởng có phần chói tai ấy, nó vẫn mang một nét quyến rũ khó tả từng phảng phất quanh Brande. Những suy ngẫm của tôi về sự tương đồng trong bản chất ấy bỗng bị ngắt quãng bởi chính nhân vật chính. Sau một lời chào mừng, ông cất lời:

"Hãy để tôi cho anh xem thí nghiệm vĩ đại nhất của chúng tôi; thứ chạm đến đỉnh cao chói lọi của thành tựu khoa học trong lịch sử nhân loại. Bản thân nó không có gì to tát, nhưng lại là kẻ dọn đường cho vô số điều kỳ diệu."

Ông dẫn tôi đến một chiếc giá bằng kim loại, trên đó đặt một dụng cụ nhỏ làm bằng một thứ kim loại trắng. Rất nhiều dây dẫn được nối với các bộ phận khác nhau của nó, và những sợi dây này xuyên qua bức tường bên của tòa nhà.

Về bề ngoài, kỳ quan vi mô này, xét về phần thị kính và các bộ phận phía trên, trông giống như một chiếc kính hiển vi thông thường, nhưng năng lực phóng đại của nó đối với tôi là điều không thể tin nổi. Nó phóng đại vật thể đang được quan sát lớn hơn gấp nhiều nghìn lần so với chiếc kính hiển vi mạnh nhất trên thế giới.

Tôi nhìn qua thấu kính phía trên và thấy một quả cầu nhỏ lơ lửng ở giữa một căn phòng tí hon ngập tràn ánh sáng xanh dịu nhẹ, hoặc một thứ vật chất trong suốt. Xoay quanh quả cầu này là bốn khối cầu khác chuyển động theo những quỹ đạo, cái thì gần như hình tròn, cái hình elip, cái lại theo hình parabol. Khi tôi đang quan sát, Brande chạm vào một phím bấm, và những tiểu cầu nhỏ bắt đầu bay nhanh hơn quanh tâm của chúng, đồng thời vạch ra những vòng quay rộng hơn. Một phím khác được nhấn, các khối cầu đang quay chậm dần và xích lại gần nhau hơn cho đến khi tôi hầu như không thể phân biệt được bất kỳ chuyển động nào nữa. Những tiểu cầu dường như hòa lại thành một khối cầu đặc.

"Hãy chú ý đây!" Brande thốt lên.

"Anh nghĩ sao về nó?"

"Nó là cái gì? Nó có nghĩa là gì? Đây là hệ mặt trời hay một hệ thống nào khác được minh họa dưới dạng thu nhỏ vậy? Tôi rất tiếc vì sự cố vừa rồi."

"Anh đoán đúng được một phần," Brande đáp. "Đó quả là mô hình minh họa của một hệ hành tinh, dù là một hệ rất nhỏ. Nhưng chẳng có sự cố nào xảy ra cả. Tôi đã gây ra kết quả có phần nguy hiểm mà anh vừa chứng kiến, đó không chỉ là sự phá hủy phân tử khí đầm lầy mà anh đang quan sát—điều mà bất kỳ nhà hóa học được đào tạo nào cũng có thể làm dễ dàng như tôi—mà là sự phá hủy các nguyên tử cấu thành nên nó. Đây là một chiến thắng khoa học làm lu mờ cả công trình của Helmholtz, Avogadro, hay Mendelejeff. Ngay cả nhà bác học bất tử Dalton" (từ "bất tử" được thốt ra với một nụ cười nhạo báng) "có lẽ cũng phải chui lên từ mộ phần để mà chứng kiến điều này."

"Nguyên tử—phân tử! Anh đang nói cái quái gì thế?" tôi hỏi, lòng đầy hoang mang.

"Anh vừa chứng kiến cảnh tượng lụi tàn của một phân tử—một phân tử khí đầm lầy, như tôi đã nói. Nó xảy ra bởi một quá trình mà tôi sẽ miêu tả cho anh nghe nếu như tôi có thể cô đọng toàn bộ công trình cả đời mình—và của mọi nhà thám hiểm khoa học đi trước kể từ thủa khai thiên lập địa—vào nửa tá câu. Vì điều đó quá khó, tôi đành phải nhờ anh chấp nhận lời cam đoan cá nhân của tôi rằng anh vừa chứng kiến một sự thật, chứ không phải sản phẩm hư cấu từ trí tưởng tượng của tôi."

"Và dụng cụ của anh hoàn hảo đến mức không chỉ làm cho các phân tử và nguyên tử hiện hình mà còn nhìn thấy cả sự khuếch tán của chúng ư? Đúng là một điều không thể đối với kính hiển vi. Ít ra thì nó quá đổi kinh ngạc."

"Chà!" Brande thốt lên đầy thiếu kiên nhẫn. "Dụng cụ của tôi quả thực có khả năng phóng đại đến mức kỳ diệu, nhưng không phải bằng thứ mưu mẹo cũ kỹ của kính hiển vi thông thường—thứ chỉ tập trung một vùng lớn các tia sáng thành một vùng nhỏ. Một quá trình thô sơ như thế muôn đời không thể phô bày nguyên tử trước mắt người phàm. Tôi còn thêm vào đó rất nhiều thứ. Tôi trả lại cho chính các tia sáng thứ ánh sáng mà chúng đã đánh mất trong hành trình xuyên qua bầu khí quyển của chúng ta. Tôi trao trả lại cho chúng toàn bộ các thuộc tính thị giác, và chiếu chúng với trọn vẹn luồng rực rỡ của tầng ê-te lên vật thể đang được nghiên cứu. Dù thành tựu đó lớn lao đến đâu, tôi phủ nhận việc nó đáng kinh ngạc. Một thổ dân Papuan có thể ngạc nhiên khi thấy lông mi của mình được phóng đại to bằng sợi dây thép, hay một người Anh dốt nát có thể kinh ngạc khi thấy con ve phô mai to bằng con mòng. Nhưng anh thì không nên cảm thấy ngạc nhiên khi chứng kiến một quá trình đơn giản được phát triển thêm một chút như thế này."

"Thế cái gọi là nguy hiểm mà anh nhắc đến nằm ở chỗ nào?" tôi hỏi với vẻ quan tâm giả tạo. Thành thật mà nói, tôi chẳng tin nửa lời những gì Brande vừa tuôn ra.

"Nếu anh chịu khó tra cứu một cuốn sách giáo khoa thông thường về vật lý học ê-te," ông đáp, "anh sẽ thấy rằng một hạt vật chất chứa đựng nguồn năng lượng đủ lớn, nếu được ê-te hóa, có thể nâng một trăm nghìn tấn lên cao gần hai dặm. Đối với một tiềm năng to lớn như vậy, việc cẩu thả phá hủy ngay cả các nguyên tử của một phân tử tuyệt đối không phải là điều khôn ngoan."

"Và giới hạn cho loại hình thí nghiệm khoa học này là gì? Chúng nằm ở đâu?"

"Chẳng có giới hạn nào cả," Brande khẳng định một cách dứt khoát. "Không một ai có quyền bảo khoa học rằng 'hãy dừng lại ở đây và không được tiến xa hơn nữa'. Chưa từng có ai làm được điều đó. Và sẽ chẳng bao giờ có ai làm được!"

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.