Brande đang ngủ khi tôi bước vào buồng của ông.
Bàn viết của ông ngập những mẩu giấy chằng chịt chữ viết nguệch ngoạc. Tên tôi xuất hiện trên mọi mảnh giấy, đi trước hoặc theo sau là một câu dang dở, đại loại như: "Marcel đang nghĩ— Lúc tôi bị bệnh, Marcel nghĩ— Marcel có ý định—" Tất cả những thứ này tôi nhặt lên thật cẩn thận và đút vào túi áo. Sau đó, tôi tiêm cho ông một liều thuốc nặng nhất trong số dung dịch tôi vẫn dùng cho ông, mức độ mạnh nhất có thể mà vẫn đảm bảo không tổn hại đến tính mạng. Mối nguy trước mắt nhờ thế đã được ngăn chặn, và tôi tự nhủ sẽ không bao giờ mạo hiểm như vậy nữa.
Suốt nhiều ngày sau đó, chuyến hải trình của chúng tôi cứ trôi đi trong sự đơn điệu. Bí mật chết người mà Edith Metford và tôi cùng gánh vác đã kéo chúng tôi xích lại gần nhau hơn theo thời gian. Cô ấy hiểu tôi, hoặc ít ra, tạo cho tôi cảm giác rằng cô ấy hiểu mình. Dần dần, nét tâm trạng thất thường mà tôi từng miêu tả trước đây đã chuyển thành sự đồng cảm sâu sắc. Ngoại trừ một vài chuyện vặt vãnh, điều này kéo dài cho đến tận phút chót. Nếu không có sự giúp đỡ của cô ấy, trí óc tôi khó lòng trụ vững trước áp lực của những sự kiện sắp sửa diễn ra, những sự kiện mà cái bóng nhợt nhạt đang hắt lên ngọn lửa bùng cháy trong ánh mắt tàn nhẫn của Brande.
Brande có vẻ phớt lờ dần các thuyền viên trên tàu. Ông ngày càng chìm đắm trong thế giới nội tâm của chính mình. Natalie lúc nào cũng dịu dàng, thậm chí vô cùng ân cần. Nhưng tôi lại cảm thấy bứt rứt trước bức tường vô hình luôn dựng lên giữa chúng tôi. Đôi khi tôi nghĩ rằng cô ấy sẵn lòng đứng về phía tôi, nhưng một thứ quyền lực ẩn giấu nào đó đã níu giữ cô ấy lại. Về phần những người khác, tôi bắt đầu mến cậu thiếu niên Halley. Cậu ta đáng yêu, dẫu không mấy vẻ thượng võ. Sự tận tụy mà cậu dành cho Natalie chưa bao giờ phai nhạt, và giờ đây điều đó không còn làm tôi phiền lòng nữa. Đó chỉ là tình bạn, và tôi hoan nghênh nó. Giả sử đó là thứ tình cảm sâu đậm hơn, thì cậu ta cũng khó lòng chiến thắng được ý chí của một kẻ từng giết người vì người tình của mình. Chúng tôi rẽ sóng vượt qua Quần đảo Malay, lướt đi hướng bắc, nam, đông, tây cứ như thể đang đi lang thang vô định, cho đến khi chỉ còn các sĩ quan hoa tiêu và hội trưởng của Hội mới nắm rõ hải trình của chúng tôi. Chúng tôi đang tìm kiếm một hòn đảo mà hóa ra đã có sự nhầm lẫn nào đó về tọa độ. Tôi không biết vị đại thi hào có từng giương buồng qua những vùng biển này không; nhưng tôi biết rằng những hòn đảo hoa trái tuyệt trần của ông, với tất cả sự phong phú trong trí tưởng tượng, đều phải lu mờ trước những hòn đảo rợp bóng cây xanh của chúng tôi ở đây. Những đầm nước dài, những vịnh nước xanh thẳm, những đàn cá lấp lánh muôn màu bơi lội thành từng đàn rõ mồn một tận sâu dưới những rặng san hô chìm mà chúng tôi lướt qua, những thảm rong biển màu mỡ và hải quỳ rực rỡ, những bãi cát vàng và những vách đá dựng đứng, tán lá um tùm rủ xuống từ bầu trời giao hòa với sắc xanh của biển; tất cả những vẻ đẹp tự nhiên ấy dường như đang cất lên những giọng nói sống động để gọi tôi—một kẻ đang bị ràng buộc trong chuyến hải trình đem cái chết đến khắp muôn nơi.
Sau một chặng dài lướt sóng có vẻ vô định nhưng vô cùng kỳ vĩ, một hòn đảo nhỏ xuất hiện ở mạn trái phía trước. Con tàu Esmeralda liền hướng thẳng tới đó, và chúng tôi thả neo trong một vũng tàu tự nhiên sâu thẳm ở bờ phía nam. Công tác chuẩn bị đổ bộ đã được tiến hành suốt cả ngày, và mọi thứ đều đã sẵn sàng để rời tàu.
Chính tại nơi này, cơ hội đầu tiên để tôi sử dụng số vàng mang theo bên mình đã xuất hiện. Anderson được Brande gọi lên, tặng cho một lời khen ngợi ngắn gọn, rồi kết thúc bằng mệnh lệnh yêu cầu viên sĩ quan quay trở lại Anh, nơi những chỉ thị tiếp theo sẽ được giao phó. Mệnh lệnh ấy được đón nhận trong sự im lặng đầy cung kính. Thuyền trưởng Anderson đã được đối đãi quá hậu hĩnh nên sẽ chẳng đời nào phản đối dẫu tàu Esmeralda có nhận lệnh đi tới Nam Cực.
Brande lui xuống dưới boong vài phút, và ngay khi ông vừa khuất dạng, tôi liền bước tới chỗ Anderson, hồi hộp cất tiếng chào bởi chẳng còn một phút giây nào để chần chừ.
"Thưa ông Anderson," tôi vội vã lên tiếng, "chắc hẳn ông đã nhận ra rằng ông Brande là một người có tính tình kỳ quặc—"
"Xin lỗi ngài; việc bình phẩm chủ tàu không phải là phận sự của tôi."
"Tôi đâu có bảo ông bình phẩm ông ấy, thưa ngài," tôi lạnh lùng đáp. "Chính tôi mới là người bình phẩm ông ấy, còn việc của ông là trả lời xem có chịu nhận tiền của tôi để ở lại vũng tàu này cho đến khi tôi sẵn sàng quay lại Anh cùng ông hay không."
"Ngài còn điều gì muốn nói nữa không?" Anderson hỏi với giọng cứng nhắc.
"Tôi cho rằng mình đã nói đủ rồi."
"Nếu ngài không còn gì để nói, tôi phải mời ngài rời khỏi đài chỉ huy; và nếu không vì việc ngài sắp rời tàu ngay lúc này đây, tôi đã cảnh cáo ngài vì thái độ hỗn hào vừa rồi."
Ông ta thổi còi, và một tiếp viên liền chạy tới.
"Johnson, mang hành lý của ông Marcel xuống mạn tàu ngay lập tức." Đo quay sang tôi, ông ta cộc lốc: "Mời ngài rời khỏi tàu của tôi."
Thái độ nổi giận vặt vãnh ấy, thực chất là do những lời nói vội vàng của tôi khơi châm, đã biến sự thiếu kiên nhẫn của tôi thành cơn thịnh nộ.
"Trước khi rời tàu của ông," tôi dõng dạc nói, "tôi sẽ cho ông biết cách mà chính ông sẽ phải rời khỏi nó. Ông sẽ bước đi giữa hai tên cảnh sát nếu đặt chân lên nước Anh, và giữa hai lính thủy đánh bộ nếu ông định tiếp tục bám trụ ngoài đại dương khơi. Trước khi khởi hành, tôi đã gửi một bản tường trình chi tiết về con tàu này, bản chất của chuyến hải trình tội ác này, cùng tên tuổi của các hành khách —hoặc ít ra là những người mà tôi biết— cho một người bạn; anh ấy sẽ chuyển nó đến đúng người có thẩm quyền nếu có chuyện gì bất trắc xảy ra với tôi. Cứ quay về một mình đi và giải thích về sự biến mất của đội tàu đánh cá Pháp đã bị đánh chìm ngay trong đêm chúng ta nhổ neo. Thật là một sự trùng hợp oái oăm đối với một gã thuyền trưởng trở về từ một hải trình vô định mà lại để thất lạc toàn bộ danh sách hành khách trên tàu. Ông hoàn toàn không lường được ý định thực sự của con người tên Brande này đâu, bằng không thì ông đã phải ở lại yểm trợ chúng tôi chừng nào sự an toàn của chính ông còn cho phép. Dù thế nào đi nữa, ông cũng chẳng thể bình an vô sự trở về mà không có chúng tôi."
Sau khi trầm ngâm suy nghĩ một lát, Anderson đã cất lời xin lỗi vì những lời lẽ độc đoán vừa rồi, đồng thời đồng ý túc trực ngày đêm, duy trì lò hơi sẵn sàng, cho đến khi tôi và bất cứ ai tôi có thể thuyết phục quay về cùng đều bước lên tàu của ông ta. Chẳng có nguy cơ nào việc họ bị cạn kiệt nhiên liệu cả. Một con tàu vốn thực chất là một chiếc tàu chở khách đại dương đang dùng than làm dằn tàu thì sẽ phải mất một khoảng thời gian đáng kể mới đốt hết được chính kho hàng của mình. Dù vậy, ông ta vẫn khăng khăng đòi trả trước một khoản tiền lớn. Tôi đã vô ngốc nghếch hé lộ chuyện mình đang giữ hơn năm nghìn bảng bằng vàng. Số tiền này bị ông ta đòi lấy với cái cớ "vì trách nhiệm với bản thân"—một câu cửa miệng ưa thích của ông ta—rằng ông ta không thể nhận ít hơn được. Nhưng tôi nghĩ ý thức trách nhiệm của ông ta chẳng qua chỉ bị chi phối bởi thực tế là tôi chẳng còn xu dính túi nào trên đời này nữa. Trong hoàn cảnh ấy, đáng lẽ ông ta nên miễn khoản thù lao đó. Nhưng vì ông ta tỏ ra kiên quyết, và tôi lại chẳng có thời gian để kỳ kèo, nên tôi đành đồng ý giao tiền. Cuộc ngã giá của chúng tôi vừa dứt thì cũng là lúc Brande quay lại boong tàu.
Thật kỳ lạ là trên một hòn đảo tựa như nơi chúng tôi chuẩn bị đặt chân tới lại có cả một đội quân người bản xứ túc trực sẵn sàng hỗ trợ mang vác hành lý, cùng những con ngựa đã được yên cương tươm tất vốn chẳng hề phù hợp gì với chốn hoang vu nguyên sơ này. Một người đàn ông Anh bước ra, chào Brande và thông báo mọi thứ đã sẵn sàng cho chuyến hành trình tiến vào vùng đồi núi. Điều này đã giải tỏa thắc mắc trong tôi. Một điệp viên tiền trạm đã sắp xếp mọi bề đâu vào đấy. Những con ngựa tốt nhất được chọn cho Brande, em gái ông và cô Metford. Còn tôi, với tư cách là y sĩ của đoàn, cũng được cấp một con. Đại quân đành phải đi bộ, và họ tiến bước rất thong thả bởi thời tiết oi bức cùng con đường mòn thô sơ vốn là lối đi duy nhất nơi đây. Cuộc hành trình của họ không quá dài—có lẽ chừng mười dặm tính theo đường chim bay.
Vì cưỡi ngựa nên chúng tôi thường xuyên phải cúi đầu né tránh những thảm thực vật ký sinh rậm rạp rủ xuống thành từng chùm xanh mướt từ mỗi nhánh cây ở hai bên đường. Dưới lớp bóng râm dày đặc ấy, mọi loài thực vật hoang dã vùng nhiệt đới đã tranh giành sự sống, vươn mình đón ánh sáng và không khí cho đến khi sự trù phú từ cái chết xanh tươi của chúng phủ kín tầng cây thấp bằng một lớp lá mục bốc hơi nghi ngút. Khi chúng tôi lên cao dần, mỗi dặm đường đi qua lại mang đến những đổi thay trong hệ thực vật, những điều mà một người quan sát bình thường hay nhà thám hiểm vô ý thức có lẽ sẽ bỏ qua. Tất cả đều được Brande ghi nhận và bình phẩm, đôi mắt ông lúc bấy giờ vẫn sắc sảo chẳng kém gì trí tuệ từng một thời rực rỡ của ông. Phong thái điềm tĩnh thường ngày bỗng chốc biến mất. Ông nhảy cẫng lên phía trước như một cậu học trò được nghỉ học đi chơi. Tuy nhiên, khác với học trò, ông luôn tìm kiếm những tri thức mới và truyền đạt lại cho chúng tôi với niềm vui hồn nhiên, chân thật. Ông trông giống một người thầy vừa tìm ra mảnh đất mới và tư liệu mới cho lớp học của mình hơn. Natalie cũng đắm chìm vào niềm vui tận hưởng khoảnh khắc ấy hệt như anh trai mình. Edith Metford và tôi phần nào bị cuốn theo bầu không khí vui tươi có sức lan tỏa ấy. Nhưng ở cả hai chúng tôi, niềm vui ấy đều bị kìm hãm bởi nhận thức về những gì đang chờ đợi phía trước.
Khi đến nơi định cư, theo đề nghị của Brande, chúng tôi xuống ngựa và buộc chúng vào những nhành cây thuận tiện. Ông bước lên trước, dùng cả hai tay rẽ đám cây bụi sang một bên và ra hiệu cho chúng tôi đi theo cho đến khi dừng lại trên một gờ đá nhô lên phía trên một thung lũng giữa lòng núi non. Hẻm vực phía dưới chính là khoảng rừng thưa đẹp nhất mà tôi từng được chiêm ngưỡng.
Đó là một chốn thiên đường ngập tràn cây lá. Thỉnh thoảng, một thân cây ngã đổ tạo thành chiếc cầu đẹp như tranh vẽ bắc qua con suối nhỏ uốn lượn bên dưới. Tận sâu phía dưới là một ngọn thác, nơi những cây dương xỉ khổng lồ vươn lên thành những vòm lá tự nhiên, trong khi những loài khác nằm sát dòng suối phủ đầy hoa sen, những chiếc lá khổng lồ của chúng sà xuống dòng nước chảy chầm chậm. Những bụi dương xỉ quấn quýt mọc um tùm thành từng đám hoang dại trên thảm cỏ xanh mướt nhung lụa, được che bóng bởi những đóa mộc lan đung đưa trước gió. Xuyên qua tán lá, những chú chim lông rực rỡ bay chuyền từ cành này sang cành khác trong tiếng vỗ cánh không tiếng kêu, lóe lên những sắc màu rực rỡ qua kẽ lá đón ánh mặt trời. Ở một vài khúc, dòng nước tung bọt bắn qua những mỏm đá phủ đầy rêu rồi tràn vào những vũng sâu. Từng làn mây trôi dạt phủ lên thung lũng một thứ ánh sáng mới, làm cho bóng râm dưới tán dương xỉ khổng lồ càng thêm sâu thẳm.
Chính tại nơi đây, trong chốn thần tiên rực rỡ này; chính trên hòn đảo này, nơi mà trước chúng tôi chưa từng có dấu chân người da trắng nào đặt tới; nơi mà những con người vô danh đại diện cho những hình thái sinh tồn nguyên thủy nhất của nhân loại, Herbert Brande chuẩn bị đem thí nghiệm ma quỷ của mình ra thử nghiệm. Tôi lấy làm ngạc nhiên khôn xiết khi ông lại chọn một chốn nên thơ đến thế cho một mục đích quá đỗi hãi hùng. Nhưng những tài liệu mà tôi tìm thấy sau đó giữa đống đồ đạc của lão trên tàu Esmeralda đã giải thích phần lớn những điều lúc bấy giờ hãy còn là ẩn đối với tôi.
Trại của chúng tôi nhanh chóng được dựng lên, và thoạt nhìn cuộc sống của chúng tôi hạnh phúc chẳng khác gì một đoàn du khách bình thường. Tôi nói là bề ngoài, bởi lẽ trong lúc chúng tôi dạo bước, leo núi và thu thập các mẫu vật thực vật hay địa chất, thì vẫn còn đó nỗi sợ hãi tiềm ẩn luôn bám theo và chi phối cả những kẻ vô tư nhất trong số chúng tôi, khiến tất cả đều chìm trong một bầu không khí nghiêm nghị bao trùm. Về phần tôi, việc thời điểm tiến hành thí nghiệm của chính tôi đang đến gần từng ngày và chẳng thể nào tránh khỏi, đã là quá đủ để lý giải cho sự lo lắng thường trực và tột độ của tôi.
Brande không tham gia bất kỳ chuyến dã ngoại nào cùng chúng tôi. Ông lúc nào cũng miệt mài làm việc trong phòng thí nghiệm dã chiến của mình. Những chiếc hộp đựng vật liệu mang từ tàu xuống gần như chất đầy nơi đây từ sàn cho tới tận mái, và nhìn vào tốc độ vơi đi của chúng, có thể thấy rõ ràng rằng nội dung bên trong đã được phân loại ngăn nắp từ trước khi vận chuyển. Thay vì một bộ sưu tập các chất khác nhau, bên trong căn phòng dần hình thành một khối hình nón bằng hợp chất trong đó tất cả đã hòa quyện vào nhau. Brande thừa nhận rằng khối hình nón này nhỏ hơn dự định ban đầu của ông. Nguồn thuốc nổ phụ trợ, dẫu lớn hơn nhiều lần so với mức yêu cầu, nhưng vẫn hụt đi đáng kể. Tuy nhiên, vì ông đã trù liệu một khoảng dư dã—mọi thứ đều ở quy mô vượt xa mức tối thiểu mà các tính toán của ông chỉ ra là đủ—nên sự thiếu hụt này không làm ông phiền lòng quá lâu. Và thế là ông tiếp tục công việc.
Khi chúng tôi đã ở trên đảo được ba tuần, tôi cảm thấy sự thấp thỏm đã vượt quá sức chịu đựng của mình. Giờ khủng hoảng đã cận kề, và lòng tôi chùng xuống. Tôi quyết định đưa ra lời thỉnh cầu cuối cùng với Natalie, muốn cô trốn cùng tôi ra tàu. Edith Metford sẽ đi cùng chúng tôi. Còn những kẻ khác cứ việc tự chịu trách nhiệm với rủi ro mà họ đã đồng ý đánh đổi.
Tôi tìm thấy Natalie đang đứng trên mỏm đá cao, nơi có thể thu vào tầm mắt khung cảnh thung lũng đẹp tuyệt trần, và khi tôi lặng lẽ bước đến gần, cô hoàn toàn không hay biết cho đến khi tôi đặt tay lên vai cô.
"Natalie," tôi cất lời với vẻ khẩn khoản, bởi đôi mắt cô gái đang ngấn lệ, "em có phiền không nếu lúc này anh rút lui khỏi dự án này—nơi anh chẳng thể đóng góp được chút ít ích lợi nào, và anh cũng hoàn toàn phản đối nó?"
"Hội sẽ không cho phép anh rút lui đâu. Anh không thể làm thế mà không có sự cho phép của họ, trừ khi anh muốn hy vọng sống sót trong bán kính một nghìn dặm quanh đây," cô đáp với giọng nghiêm nghị.
"Anh chẳng màng tới việc sống trong bán kính mười nghìn dặm quanh nó đâu. Anh sẽ tìm cách đem bán kính Trái Đất đặt vào giữa anh và cái tổ chức đó."
Cô ngước nhìn lên với một vẻ đau đớn khiến tim tôi nhói đau. "Còn em thì sao? Bây giờ em không thể sống thiếu anh được," cô thì thầm.
"Đừng sống thiếu anh. Hãy đi cùng anh đi. Hãy vứt bỏ cái hội đoàn khốn kiếp của những kẻ điên rồ này đi, những kẻ mà chính chúng còn chẳng thực sự hiểu nổi mục đích của mình, và phương tiện hoạt động thì toàn là án mạng—"
Nhưng đến đây cô đã chặn lời tôi lại. "Anh tôi có thể tìm ra tôi ở tận cùng góc bể chân trời nếu tôi dám phản bội anh ấy, và anh biết rõ là em không có ý định phản bội anh ấy đâu. Còn về phần anh—đừng có mòng chuyện đào tẩu. Chẳng ích gì đâu. Đừng tin rằng bất kỳ lý do gì có thể khiến em sẵn sàng đem lại cho anh dù chỉ một khoảnh khắc đau đớn, hay em lại chù bước trước việc hy sinh bản thân để cứu anh." Dùng một bàn tay nhỏ nhắn trắng trẻo của mình, cô dịu dàng áp đầu tôi về phía cô. Đôi môi cô chạm vào trán tôi, và cô thì thầm: "Đừng rời bỏ em. Mọi chuyện sẽ sớm kết thúc thôi. Em—em—cần anh."
Khi tôi đang thui thủi bước về trong tâm trạng chán nản sau lời thỉnh cầu thất bại với Natalie, tôi chạm trán Edith Metford—người mà không may trước đó tôi từng hé lộ về kế hoạch tẩu thoát của mình.
"Mọi chuyện đã sắp xếp xong chưa? Khi nào chúng ta khởi hành?" cô hỏi dồn dập đầy háo hức.
"Chẳng có gì được sắp xếp cả, và chúng ta cũng chẳng khởi hành đi đâu hết," tôi tuyệt vọng đáp.
"Chính anh đã bảo với tôi rằng anh sẽ đi cùng cô ta hoặc đi một mình cơ mà," cô thét lên đầy phẫn nộ. "Thật là đê tiện—hèn nhát."
"Quả thực là cả hai điều đó nếu tôi thực sự nói những gì cô đang kể lại. Lúc ấy tôi không làm chủ được bản thân, chắc là lưỡi tôi đã phản chủ rồi. Tôi sẽ ở lại đến cùng. Nhưng cô thì cứ đi đi. Thuyền trưởng Anderson sẽ tiếp đón cô—"
"Làm sao tôi chắc chắn được điều đó?"
"Tôi đã trả tiền cho chuyến hải trình của cô rồi, và tôi đang giữ biên lai của lão đây."
"Và anh thực sự nghĩ rằng tôi sẽ đi và bỏ lại—bỏ lại—"
"Natalie ư? Tôi nghĩ cô hoàn toàn có lý nếu làm thế."
Nghe vậy, cô gái giậm mạnh chân xuống đất đầy tức giận rồi òa khóc nức nở. Cố ấy cũng chẳng thèm để tôi dỗ dành lấy một chút. Tôi ngỡ rằng những thói thất thường thuở trước của cô lại tái phát. Cô hất phăng cánh tay tôi ra một cách thô lỗ rồi bỏ mặc tôi đứng đó trong sự ngỡ ngàng.