“Nhưng mà Tử Mẫu Âm Quái đã biến mất rồi, chúng ta đi đâu để tìm nó đây, người Mao Sơn Tông còn không tìm được, chẳng lẽ chúng ta tìm được sao?”
“Bàn về thực lực chúng ta chắc chắn không bằng Mao Sơn Tông, nhưng lớn có cái khó của lớn, nhỏ có cái lợi của nhỏ, Mao Sơn Tông tuyệt đối không dám thừa nhận Tử Mẫu Âm Quái mất tích, cho nên đến nay vẫn không dám rùm beng tìm kiếm, thế nên nhìn từ lực lượng tìm kiếm thi quái thì họ cũng không mạnh hơn chúng ta là bao, chẳng qua là đông người hơn chút, mà cao thủ thực sự của Mao Sơn Tông danh tiếng quá vang dội, ngược lại không tiện ra mặt, những kẻ thực sự được phái đi tìm thi quái toàn là mấy kẻ vô danh tiểu tốt, năng lực của những người này cũng chẳng mạnh hơn chúng ta là bao, hơn nữa……” Nói đến đây chú Liêu không kìm được mà lộ ra nụ cười đắc ý nói: “Xuyên Tử, cháu có biết tinh túy của chuyện này nằm ở đâu không?”
“Cái này…… Chúng ta cứ dốc lòng tìm kiếm Tử Mẫu Âm Quái là được, tinh túy có ý gì chứ?”
“Ta còn lén kể chuyện này cho người Vu Sơn Phái nghe, những kẻ này tất nhiên cũng sẽ bí mật phái thủ hạ đi tìm thi quái, dù sao đối với bọn họ mà nói, một khi tìm được thi quái thì chính là nắm trong tay hai khối ngọc bội rồi. Vu Sơn Phái không bằng hai phái lớn còn lại, cho nên bọn họ càng sẵn sàng hợp tác với chúng ta hơn so với hai phái kia, Lục Thương Tần vì sao có thể hộ giá hộ tống cho ta, chính là vì lý do này.”
“Cháu nghe chú nói thế vẫn thấy có sơ hở ạ, nếu Vu Sơn Phái thực sự có tâm cướp khối ngọc này, rất có khả năng sẽ giết chúng ta, có lý nào lại hợp tác với chúng ta chứ?”
“Xuyên Tử, cháu vẫn chưa đủ chín chắn rồi! Tại sao ta lại nói cho Vu Sơn Phái mà không nói cho Long Hổ Thiên Sư biết? Chính là vì làm như vậy thì hai phái ngược lại sẽ kiềm chế lẫn nhau, ta có thể dùng Long Hổ Thiên Sư để uy hiếp Vu Sơn Phái, nếu bọn họ muốn giết ta, ta sẽ đem tin tức này nói cho Long Hổ Thiên Sư, thậm chí là Huyền Nguyệt Môn. Vu Sơn Phái có thực lực yếu nhất trong bốn phái này, bất kỳ phái nào ra mặt tranh giành với họ, Vu Sơn Phái cũng không đấu lại, cho nên trước khi chuyện này kếtết thúc, bọn họ sẽ dốc hết sức lực lớn nhất để phối hợp với ta. Nếu chúng ta có thể tìm được thi quái trước hai phái kia, thì chính là đại thắng lợi, cho dù không tìm thấy chúng ta cũng chẳng mất mát gì, cứ coi như đi du lịch giải sầu vậy.”
Một hồi phân tích của chú Liêu khiến tâm phục khẩu phục nói: “Những gì chú tính toán thực sự khiến cháu không nói nên lời, vậy tiếp theo chúng ta nên làm thế nào đây?”
“Chúng ta phải đi Vĩnh An tìm người Thi gia, chỉ có thổ công Vĩnh An mới hiểu rõ nhất hành vi của thi quái, mà Thi gia lại là lão đại trong ngành thổ công.” Chú Liêu lo xa tính trước, trước khi chuẩn bị làm việc này ông ấy đã tính toán trước mọi khả năng, chuẩn bị mọi dự định.
Chú Liêu có lẽ không phải người lợi hại nhất trong số những người mà ta quen biết, nhưng chắc chắn là người thông minh nhất.
Ông ấy đón một chiếc xe hướng về tỉnh phía nam nơi Vĩnh An tọa lạc, dọc đường ăn gió nằm sương đến địa giới Vĩnh An liền gọi điện cho người bạn mà ông ấy đã liên lạc từ trước, rất nhanh người này đã xuất hiện trước mặt chúng ta, đó là một người gầy gò thấp bé tầm hơn ba mươi tuổi, tên là Thi Hạo Hạo. Sau khi gặp mặt, anh ta nói: “Không ngờ anh đến nhanh thế đấy, tôi đã đem chuyện giữa chúng ta kể cho lão gia tử nghe rồi, ông ấy vô cùng hứng thú, nói hy vọng có thể hợp tác với các đạo sĩ một lần, dù sao đám cương thi trong Lăng Vương Mộ nếu tất cả đều xổng ra ngoài, thì đó sẽ là một đại thảm họa.” Chỉ từ câu này là có thể biết thổ công Vĩnh An nhìn chung đều có hiểu biết về ba vị Lăng Vương.
Ta nói: “Đương nhiên rồi, thế nhưng điều tôi đang cực kỳ cần lúc này chính là mấy khối ngọc bội còn lại, không biết các anh có thể giúp một tay không.”
Thi Hạo Hạo nói: “Cái này khi các anh gặp mặt lão gia tử, tự nhiên ngài ấy sẽ nói.” Sau đó chúng ta một đường đi vào khu làng xóm của Thi gia ở địa giới Vĩnh An.
Ta nói: “Huynh đệ, cậu phải kể kỹ xem thổ công Vĩnh An rốt cuộc thuộc loại thợ thủ công nào, tôi biết rất ít về ngành nghề của các cậu.”
“Thổ công Vĩnh An là một nhánh của môn thổ công, thổ công gọi chung thực ra bao gồm: Thợ gốm, thợ đắp bùn. Công việc đào đất, lấp đất. Quan lại sai vặt chuyên phụ trách việc tang ma, khám nghiệm tử thi thời xưa, mà thổ công Vĩnh An lại là người chuyên làm công việc đào đất và lấp đất, nói toạc ra chính là được người ta thuê mướn để thay chủ nhà cải táng di dời mồ mả, sắp xếp hài cốt. Đây từng là một nghề thường xuyên có thể kết giao với giới quyền quý, bởi vì bách tính bình thường động thổ dời mộ không ai thuê nổi thổ công, thế nên trong ngành thổ công có một câu nói rằng: Thổ công, thổ công, động thổ vi công. Ý là trong ngành thổ công chỉ có môn người chuyên động thổ cất quan tài mới được tôn xưng là công, cho nên chúng ta có thể gọi là thổ công Vĩnh An, cũng có thể gọi là thổ công Vĩnh An.”
“Mấy vị đừng thấy Vĩnh An đất chừng bàn tay, nhưng to nhỏ lớn bé quần tụ đến mấy chục thế lực thổ công, thế nhưng thế lực lớn nhất lại thuộc về Thi gia và Quế gia, bởi vì từ khi có cái ngành thổ công Vĩnh An này, người Thi gia và người Quế gia đã kiểm soát toàn bộ công việc quét đất ở các ngôi đại mộ, và cả việc mở quan tài.”
“Cái gọi là “quét đất” không chỉ đơn thuần là cạo sạch lớp đất nổi trên đầu mộ mà thôi, bởi vì cổ mộ lớn thường có đường hầm cơ quan, người quét đất bắt buộc phải nhìn thấu những thủ pháp này, và tiêu trừ có định điểm, việc này hơi giống công binh trên chiến trường vậy. Còn người Quế gia phụ trách mở quan tài lại là việc dùng sức mạnh, bởi vì một khi người chết được chôn cất ở những nơi đại hung như “dưỡng thi địa, dưỡng kiến địa”, từ đó sinh ra hiện tượng cương hóa thậm chí là thi biến, thì bắt buộc phải tìm cách phá hủy, mà đối phó với cương thi chính là việc của người mở quan tài. Còn về những hộ nhỏ lẻ tản mác còn lại, chỉ có thể đi theo phía sau làm mấy việc vặt như treo quan nhặt xương, thế nên nói thẳng ra là thổ công Vĩnh An đều nằm trong tay hai nhà Thi và Quế.”
Rất nhanh chúng ta đã đến đích, thôn bản Vĩnh An này được bố trí rất kỳ lạ, không phải kiến trúc nhà lầu nông thôn bình thường, mà là một mảng nhà cổ ngói xanh gạch đỏ mang phong cách cổ kính, nhìn từ hướng chúng ta đang đứng thì dày đặc một vùng, chỉ ở vùng ngoại vi thôn bản mới có ruộng đất diện tích không lớn tồn tại, xem ra “làm ruộng” đối với thổ công Vĩnh An mà nói chẳng qua chỉ là làm ra vẻ bề ngoài mà thôi.
Đường đi trong ngôi làng có kiến trúc dày đặc cũng rất chật hẹp, chỉ thấy từng con đường đá xanh đều chi chít những dấu chân, đây đều là dấu ấn để lại do năm tháng dài đẵng đẵng đi lại, đủ thấy kiến trúc nơi này bao nhiêu năm qua chưa từng thay đổi.
Mà sau khi ngoằn ngoèo đi một đoạn đường khá dài, giữa đám kiến trúc dày đặc bỗng xuất hiện một quảng trường hiếm thấy, cũng chính là “ngã tư đường” thường gặp trong thành phố. Thi Hạo Hạo nói: “Đây chính là nơi phân chia thế lực của Vĩnh An, hai bên trái phải đối diện quảng trường lần lượt là Thi gia và Quế gia, còn nơi chúng ta đang đứng chính là nơi sinh sống của những kẻ đầu đường xó chợ đó, bởi vì chúng ta có thể bước vào nơi sinh sống của những người này, nhưng bọn họ tuyệt đối không được bén mảng đến nơi ở của hai nhà Thi Quế.”
Nghe xong ta cười nói: “Các cậu đúng là biết bày đặt ghê.”
“Cái này không chỉ để bày đặt đâu, bởi vì ngành thổ công có rất nhiều thủ pháp đặc biệt truyền con trai không truyền con gái, cho nên đương nhiên không mong bị vách tường có tai nghe lén mất, thế nên dứt khoát không cho người tộc ngoài bước vào, một khi có ai vi phạm quy định, thì sẽ bị trục xuất khỏi nơi này là Vĩnh An.”
Chỉ thấy ở vùng đất trung tâm quảng trường dựng đứng một tấm bia đá khổng lồ, trên đó khắc bốn chữ lớn: Đông Lăng Đại Đạo. Ta đi vòng quanh tấm bia đá một vòng rồi nói: “Các cậu dựng tấm bia đá này làm gì vậy?”
Thi Nhất Mao nói: “Về chuyện này tôi cũng chỉ nghe phụ thân kể lại, cho nên không dám chắc là thật hay giả, tấm bia đá này chắc là để tưởng nhớ Tôn Điện Anh, tên trộm mộ lớn nhất thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, bởi vì chính nhờ sự nâng đỡ mạnh mẽ của ông ta đối với thổ công Vĩnh An, chúng ta mới có được thân phận địa vị như ngày hôm nay, trước thời của ông ta chúng tôi chẳng qua chỉ là một đám thợ thuyền chuyên đi cải táng dời mộ cho người ta.”
“Tôn Điện Anh là một tên quân phiệt, quân phiệt thì có quan hệ gì với tên trộm mộ chứ?” Ta khó hiểu hỏi.
Thi Hạo Hạo nói: “Nghe nói là vào năm 1928, năm đó Tôn Điện Anh mượn cớ diễn tập quân sự, đã đào phá Đông Lăng, chính là khu lăng mộ hoàng đế chôn cất Từ Hy, ngay sau đó liền phát hiện Từ Hy đã thi biến. Tuy nhiên khi Tôn Điện Anh trộm mộ có huy động quân đội, một con cương thi thi biến tự nhiên không thể gây tổn hại gì cho bọn họ, sau đó khi của báu khai quật từ Đông Lăng được chia chác xong xuôi, chuyện này nhanh chóng rơi vào quên lãng. Nhưng mà Tôn Điện Anh trộm mộ là để gom góp quân lương, cho nên chắc chắn sẽ không dừng tay, thế nhưng chính vì đụng phải chuyện trong huyệt mộ có tồn tại cương thi như thế này, Tôn Điện Anh biết mình bắt buộc phải tìm người giúp đỡ để loại bỏ những phiền phức này cho hắn, bởi vì dùng súng pháo tuy có thể bắn nát cương thi, nhưng đối với bảo vật trong huyệt mộ cũng có tác dụng phá hoại, thế nên hắn đã tìm đến thổ công Vĩnh An. Hơn nữa chính vì việc Tôn Điện Anh trộm mộ gom quân lương đã cổ súy cho phong trào trộm mộ, đúng như câu nói thời thịnh thế tu lăng mộ, thời loạn thế trộm mộ, đầu thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc yêu ma quỷ quái nổi dậy, có thêm kẻ buôn lậu mộ lớn nhất là Tôn Điện Anh, bốn phương tám hướng dấy lên những kẻ trộm mộ, tính riêng các băng nhóm có tiếng tăm cũng không dưới mấy trăm nhóm, đây mới chỉ là lực lượng trong dân gian, các lộ quân phiệt lại càng không cần phải nói tới, cho nên thổ công Vĩnh An lúc bấy giờ quả thực đã trở thành thợ thuyền được săn lùng nhiều nhất, các lộ đạo tặc hận không thể rước chúng ta lên như cúng cha đẻ, đây chính là lý do vì sao thổ công lại lập bia đá cho Tôn Điện Anh.”