Dứt lời, ông lão toan quay người bước đi, Ngô Bưu vội vàng đuổi theo nói: "Quả thực có những kẻ như vậy, nhưng không bao gồm tôi. Tôi vô cùng hứng thú với ngón nghề truyền thống của dân tộc, cụ có thể kể cho tôi nghe trong thôn có những nghề thủ công truyền thống nào không?"
Ông lão có vẻ hơi mất kiên nhẫn, khẽ nhíu mày nói: "Cậu chẳng qua chỉ là tò mò nhất thời, tôi việc gì phải rảnh rỗi tiếp chuyện cậu? Có thời gian rỗi hơi đó, chi bằng tôi về nghỉ ngơi cho lại sức, đêm đến còn làm thêm chút việc."
Nói xong ông lão lại muốn cất bước, tôi liền bám sát hỏi một câu: "Bộ đồ nghề này của cụ, theo tiếng lóng trong nghề thì gọi là Thợ Đêm đúng không?"
Chỉ một câu nói khiến bước chân ông lão lập tức khựng lại, đoạn từ từ xoay người đối diện với tôi, hỏi: "Cậu cũng hiểu cái này?"
Tôi không trả lời thẳng vào câu hỏi của ông ta mà nói: "Thợ Đêm là ngón nghề lưu truyền từ thời nhà Tống, ban đầu là điêu khắc quan quách cho các bậc quan lại quyền quý. Để phân biệt với thợ mộc thông thường, ngón nghề này hoàn toàn chỉ thi triển vào ban đêm, nên mới gọi là Thợ Đêm. Hơn nữa khi khắc hoa văn bên trong quan tài, người thợ bắt buộc phải chui vào trong quan tài để làm, chỉ là rất ít người biết được rằng bên trong áo quan cũng được chạm khắc."
“Khá lắm, chứng tỏ cậu có nghiên cứu về mảng này.” Khuôn mặt đanh lại của lão già dần dần giãn ra.
“Tôi đặc biệt có hứng thú với những ngón nghề truyền thống của Trung Hoa.” Tôi tranh thủ thời gian khoe khoang một phen.
“Đúng lý ra tôi nên cùng cậu trò chuyện đàng hoàng một phen, nhưng nếu cậu đã biết đến Thợ Đêm, thì quy củ khi hành nghề của chúng tôi chắc cậu cũng phải rõ.”
“Tôi đương nhiên biết, có thể tận mắt diện kiến cụ đã là vinh hạnh lớn của tôi rồi, có dịp chúng ta lại hàn huyên tiếp.” Tôi cười nói.
Ông lão đắc ý nghênh ngang rời đi, Ngô Bưu nói: “Khá đấy chứ, ngay cả cái này cậu cũng biết?”
“Đây chính là nghề nghiệp có liên quan đến quỷ thần. Tôi là một đạo sĩ, dĩ nhiên phải hiểu rõ.”
“Vừa rồi ông lão kia nhắc đến quy củ, Thợ Đêm có quy củ gì vậy?” Ngô Bưu hỏi.
“Ban ngày họ nói chuyện với người sống không được quá mười câu, bằng không sẽ rước họa vào thân.”
“Mẹ kiếp, thật hay giả vậy?”
“Đây là điều cấm kỵ trong giới của họ, tôi làm sao đến hỏi thẳng họ là thật hay giả được, thế chẳng phải tự tìm đòn sao?” Tôi nói. Trầm ngâm một lát, tôi bổ sung: “Nghề Thợ Đêm này lúc nãy trước mặt ông cụ tôi nói còn khá e dè. Loại thợ mộc này chuyên khắc hoa văn áo quan cho những kẻ chết oan chết uổng, bởi vì người ta tin rằng kẻ chết bất đắc kỳ tử sẽ biến thành lệ quỷ tác oai tác quái hại người, cho nên bắt buộc phải dùng phù lục để trấn thi. Điểm khác biệt lớn nhất giữa Thợ Đêm và thợ mộc bình thường chính là họ biết rõ hình vẽ phù lục dùng để trấn thi.”
“Vậy nên ông lão kia đang khắc phù lục trấn thi ở bên trong quan tài?”
“Không sai, cho nên trong cái thôn này chắc chắn có người chết oan. Thành thử chuyện này mới tương đối mâu thuẫn, theo lý mà nói Thợ Đêm được coi là người trấn thi, nếu Ngô Thải Phúc là một kẻ quái dị chuyên nuôi thi thể, thì hai nghề này vốn dĩ xung khắc với nhau.” Tôi bước tới cạnh ngôi mộ mới đào, mở nắp quan tài ra, chỉ thấy bên trong khắc chằng chịt đủ loại đồ án quái dị.
“Tiếp theo chúng ta phải làm sao?” Ngô Bưu hỏi.
“Tất nhiên là mai phục rồi. Tôi có linh cảm, ngôi mộ này đào ra thì dễ, nhưng đóng lại thì sẽ không đơn giản như thế đâu.” Tôi nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài chưa đậy nắp mà nói.
Thế là hai chúng tôi trốn vào một vùng đất hoang đầy cỏ dại gần đó. Nơi đây có thể đứng trên cao nhìn xuống bao quát toàn bộ động tĩnh trong bãi tha ma. Kết quả là đợi mãi tới nửa đêm lão già kia vẫn chưa quay lại. Muỗi mòng trong núi vào mùa hè thì khỏi phải nói, đốt hai chúng tôi gần như chết đi sống lại. Chúng tôi cắn răng chống chọi đến tận nửa đêm về sáng, lão già kia cuối cùng cũng run rẩy xuất hiện nơi nghĩa địa. Do khoảng cách giữa hai bên khá xa, nói khẽ cũng không sợ bị phát hiện, tôi thì thầm với Ngô Bưu: “Ngày thân gỗ, đêm ván nắp. Thời điểm này ông ta lên đây chính là để chạm khắc phù lục phía bên ngoài quan tài.”
“Đám người này to gan thật đấy, nửa đêm nửa hôm dám mò ra bãi tha ma?”
“Trên đời này kẻ to gan nhiều vô kể.”
Bãi tha ma về đêm tĩnh mịch đến rợn người, ngay cả một ngọn gió thoảng cũng không có. Lão già thắp một ngọn đèn bão, ánh nến le lói chỉ đủ chiếu sáng một góc rất nhỏ quanh người, giữa bãi tha ma trông lại càng thêm phần âm u rùng rợn. Lão treo đèn bão lên cành cây bên cạnh, bắt đầu dùng một con dao nhỏ sắc bén khắc họa hoa văn lên phiến gỗ quan tài. Giữa màn đêm thăm thẳm, chỉ còn văng vẳng tiếng kim loại ma sát với thớ gỗ cọ xát ken két rợn tai.
Thế nhưng ngay lúc này, từ trong cánh rừng phía sau lưng lão già, bốn năm kẻ quái dị mặc đồ đen, mặt mày trắng bệch như ma không một tiếng động bước ra. Dù khoảng cách khá xa, nhưng dưới ánh trăng lạnh lẽo, những gương mặt không chút huyết sắc kia trông lại càng rõ ràng rành mạch. Dù tôi biết sự xuất hiện của bốn kẻ áo đen này là điều tất yếu, nhưng vẫn bị dọa cho tay chân lạnh ngắt. Chỉ thấy bốn kẻ đó lặng lẽ đi tới sau lưng lão già, đồng loạt dang rộng hai cánh tay, mu bàn tay lộ ra ngoài cũng trắng bệch như tuyết y hệt khuôn mặt. Chợt giữa bóng đêm, một kẻ đột nhiên phát ra tiếng tru tréo the thé rợn tóc gáy, tiếp đó bốn kẻ dùng tư thế vô cùng cổ quái vây quanh lão già bắt đầu xoay vòng, tay không ngừng múa may những động tác kỳ dị.
Tôi ghé sát tai Ngô Bưu nói nhỏ: “Đây là bước cuối cùng trong việc khắc quan của Thợ Đêm, đám người áo đen bên cạnh ông ta đang cử hành một nghi thức trừ tà. Xem ra người thôn Ngọa Ngưu vô cùng sùng bái những tà thuật thượng cổ này, làm từng li từng tí không sai một ly, hèn chi Ngô Thải Phúc lại chọn định cư ở nơi này, đúng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã.”
Sau khi đám người này gào khóc quỷ quái làm xong tà thuật, lại có bốn người khác khiêng một chiếc cáng cứu thương từ trong rừng bước ra. Người nằm trên cáng mặc một bộ đồ liệm, sắc mặt trắng bệch, hai mắt nhắm nghiền, chừng hơn hai mươi tuổi. Trên mặt có thể thấy rõ những vết chỉ khâu da chằng chịt, khuôn mặt của thiếu niên này dập nát đến mức thảm hại, chắc chắn là gặp phải tai nạn chết bất đắc kỳ tử. Chỉ nghe một người phụ nữ trung niên nghẹn ngào khóc lóc: “Con ơi, con đi thanh thản nhé.” Bốn kẻ vừa nhảy múa điệu bộ quái đản kia đồng loạt quỳ rạp xung quanh ngôi mộ mới gào khóc thảm thiết.
Những người khiêng cáng nhấc cái xác chết đang nhắm nghiền hai mắt đặt vào trong quan tài. Sau khi đậy nắp quan lại, Thợ Đêm đích thân đóng đinh tán cố định, rồi bắt đầu xúc đất đắp mồ. Sau khi mọi việc hoàn tất, bốn kẻ áo đen đang khóc lóc thảm thiết mới dần dần nín bặt. Lão già thở dài một hơi nói: “Chị dâu à, chị phải nhớ kỹ lời Ngô đại sư dặn, họa phúc đều do trời định, thằng Ba gặp phải bất trắc cũng là kiếp nạn trong số mệnh của nó, chúng ta cũng đã cúng bái thần Cản Đường rồi, xin chị nén đau thương.”
Khuyên can hồi lâu, cảm xúc của bốn người mới coi như ổn định lại. Sau đó, đám người có hành vi quái đản này dìu dắt lẫn nhau rời khỏi bãi tha ma. Chờ cho tất cả mọi người đi khuất hẳn, Ngô Bưu mới lên tiếng: “Vị Ngô đại sư này chắc chắn là Ngô Thải Phúc rồi, lão già khốn kiếp này vừa nuôi thi thể lại vừa trấn thi, tôi thấy chưởng môn Mao Sơn cũng chẳng bận rộn bằng lão ta.”
“Muốn lừa tiền thì dĩ nhiên phải vất vả chút rồi, nhưng tôi lại nghĩ ra một điểm, đám người này rất có thể năm xưa chính là dân làng của thôn Hợp Tử.” Tôi nói.
“Đây là thôn Ngọa Ngưu đấy, một người dứt áo bỏ nhà trốn tới đây còn nghe được, chứ cả đám cùng chạy tới đây thì tôi thấy khó có khả năng lắm?” Ngô Bưu thắc mắc.
“Khả năng rất lớn đấy chứ. Làm nghề này thông thường đều cần có đồng bọn giúp sức hỗ trợ. Không nói đâu xa, nếu chỉ có một mình Ngô Thải Phúc, riêng việc khiêng xác chết lên lầu cũng đã khó khăn rồi, huống chi những kẻ này người nào cũng có sở trường riêng, đều có thể phát huy tác dụng, Ngô Thải Phúc cần bọn họ.”
“Giờ tính sao? Chỉ dựa vào hành vi này của bọn họ thì không thể điều động lực lượng cảnh sát tới bắt giữ được.” Ngô Bưu nói.
“Bắt bọn họ chắc chắn là không thành rồi, Thợ Đêm là thợ thủ công đàng hoàng mà. Mục tiêu của anh là Ngô Thải Phúc, nếu Ngô Thải Phúc sa lưới thì vụ án nuôi thi thể tự khắc sẽ sáng tỏ như ban ngày thôi.”
“Về trước đã, mai hẵng quay lại điều tra tiếp, muỗi ở đây cắn chết người mất.” Chúng tôi vừa định bước ra khỏi cánh rừng thì bỗng nghe thấy một tràng huýt sáo vang lên từ đằng xa, thấp thoáng dường như có ánh đèn chiếu tới, hai đứa vội vàng rụt người lủi lại vào bụi cỏ.
Nghe giai điệu thì người này có lẽ đang huýt sáo bài Nhất Tiễn Mai. Một lát sau, một gã đàn ông gầy như que củi, khuôn mặt toát ra vẻ u ám âm trầm, tay cầm đèn pin lảo đảo bước vào bãi tha ma. Điều khiến người ta ấn tượng sâu sắc nhất về gã chính là chiếc mũi khoằm như mỏ ưng trên mặt, tuy mặt gã không lớn, nhưng cái mũi này còn to hơn cả mũi Lưu Đức Hoa. Mặt gã nồng nặc hơi men, rõ ràng là một tay sâu rượu lâu năm, nửa đêm nửa hôm uống đến nông nỗi này, chẳng lẽ là người nhà của người chết mượn rượu giải sầu?
Vừa nghĩ tới đây, liền thấy gã nọ há mồm nôn thốc ra một búng chất lỏng màu đen ngòm, trông đặc quánh như mực tàu, sau đó gã ngã phịch mông xuống đất, thở hồng hộc từng cơn ngắt quãng.
Dưới ánh trăng rọi chiếu, chỉ thấy mắt, mũi, tai gã liên tục rỉ ra chất dịch màu đen ngòm. Tôi thì thào: “Chẳng lẽ thứ màu đen kia là máu?”
“Mẹ kiếp, người này trúng độc rồi.” Ngô Bưu nói đoạn toan lao ra ngoài.
Tôi túm chặt lấy anh ta, quát khẽ: “Anh điên à, nhìn trạng thái của gã này xem, khéo độc khí lây dính vào người anh bây giờ.”
“Ai bảo mẹ nó tôi là cảnh sát cơ chứ.” Dứt lời, Ngô Bưu đâm đầu xông thẳng tới.